Chương 89: Tình yêu
*
Quả là một ngày tiết trời trong lành ấm áp.
Mây trắng như vảy cá trải rộng khắp bầu trời xanh thẳm, gió nhẹ thoảng qua mơn trớn trên gương mặt. Mấy vòm lá cây trong khu cắm trại khoác lên màu vàng óng ả, xôn xao giữa tiết thu náo nhiệt một vùng.
Mâu Văn đeo kính râm nằm dài trên ghế xếp sưởi nắng, còn Tạ Sùng thì đang bận rộn nhóm lửa bên bờ sông.
Mâu Văn vốn dĩ cũng muốn ra nhóm lửa, cô dẫu sao cũng là đứa trẻ từng gắn bó lâu ngày ở vùng thảo nguyên chăn nuôi, nhóm lửa chính là một chương tuyệt đẹp và vui vẻ nhất thời thơ ấu. Khi ấy cô còn nhỏ dại, người lớn nhóm lửa thì cô ghé sát mặt lại xem, bị xém mất vài cọng tóc tơ, mặt mũi lem luốc đen thui. Thế mà cô vẫn nhe răng cười hớn hở, vỗ tay bôm bốp bảo: “Cháy rồi nè.”
Về sau cô nhóm lửa giỏi cực kỳ.
Hôm nay cô vốn định khoe tài một chút, chẳng ngờ lại đụng phải Tạ Sùng, một kẻ còn mê nhóm lửa hơn cả cô. Cả hai tranh giành nhau một hồi, cuối cùng đành phải phân thắng bại bằng trò “oẳn tù tì”. Khoảnh khắc Tạ Sùng giành được “quyền nhóm lửa”, anh thậm chí còn giơ nắm đấm reo lên một tiếng đầy khoái chí. Còn Mâu Văn thì suýt nữa đã trợn tròn mắt lên tận trời.
Tạ Sùng cho phép cô đi kéo gỗ.
Anh tích trữ rất nhiều gỗ ở chỗ chủ khu cắm trại, Mâu Văn nghe xong liền hỏi anh: “Anh đi tới đâu cũng làm thẻ thành viên hết hả?”
“Cái đó còn phải hỏi sao?” Tạ Sùng bảo: “Chỗ này vui biết bao nhiêu.”
Chỗ này khớp vô cùng với cái tính “thích một mình” của anh. Trong khu cắm trại rộng lớn này, anh thường dựng sẵn một chiếc lều bên bờ sông. Hệt như chuyển nhà, anh bài trí bên trong lều sạch sẽ ngăn nắp. Những lúc không muốn gặp ai, anh lại tới đây ở vài ngày, sống như một gã người rừng.
Mâu Văn vừa nhìn thấy chiếc lều này lần đầu đã thốt lên: “Cái này đẹp hơn lều mông cổ của tụi em, nhưng nhất định là không cản gió bằng lều mông cổ rồi.”
Cô nằm trên chiếc giường nhỏ, nhìn thấy Tạ Sùng thậm chí còn treo cả thư họa hàng nhái ở bên trong. Anh đúng là chẳng chịu qua loa chút nào hết!
Mâu Văn vừa sưởi nắng vừa nhìn Tạ Sùng nhóm lửa.
Tạ Sùng nhóm lửa rất thong thả, từ tốn quỳ một gối trên mặt đất chất gỗ nướng, đốt cho củi cháy đỏ rực rồi mới đặt thêm hai thanh gỗ nữa lên.
“Thế sao mình không dùng bình gas mini cho rồi?” Mâu Văn hỏi.
“Vì anh muốn hầm thịt.” Tạ Sùng nói. Cái nồi sắt lớn đó của anh đã mua lâu lắm rồi, anh mới dùng qua đúng một lần, ngay tại khu cắm trại này, giữa đêm nửa đêm nhóm lửa hầm thịt. Ngoại trừ đống lửa cháy nổ lách tách trông vui mắt ra thì nồi thịt hầm đó còn đen hơn cả đêm thâu. Từ đó về sau cái nồi chưa từng được dùng lại.
Tiền Tụng lúc đi theo anh tới đây, nhìn thấy đống đồ anh mua thì không tài nào hiểu nổi liền hỏi: “Cậu có dùng đâu mà mua làm gì?”
“Tôi không dùng, nhưng phải có. Khó hiểu lắm sao?”
“Tôi hiểu rồi!”
Ngay hôm đó Tiền Tụng cũng thuê một khoảng đất cách anh năm mươi mét, dựng sẵn một chiếc lều lưu động. Vào một đêm mùa đông, cả hai quá đỗi buồn chán, trong khu cắm trại nơi rừng sâu núi thẳm chỉ có hai người họ, thế là mỗi người đốt một đống lửa, mở loa vặn nhạc to vang trời rồi “oánh nhau” bằng âm thanh.
Tạ Sùng vừa đốt lửa vừa kể lại chuyện này cho Mâu Văn nghe, Mâu Văn nghe xong cười rúc rích, thấy hai gã ngốc này quả thực là chuyện gì cũng có thể làm ra được.
Ngọn lửa của Tạ Sùng đã bùng lên, anh hỏi Mâu Văn có muốn đi lượm củi khô không.
Mâu Văn lập tức nhổm người nhảy tót khỏi ghế xếp: “Đi thôi! Em không chỉ lượm được củi khô mà còn hái được nấm nữa đó!”
Hôm qua trời vừa mưa xong, trong rừng quả thực có nấm. Lúc Mâu Văn đi tới đây nhìn thấy còn thầm nghĩ: Giá như hái đống này về hầm với một con gà thì thích biết mấy.
Tạ Sùng bảo: “Hái nấm cũng được đó.” Nói xong, anh liền chui vào “phòng dụng cụ” của mình bới ra chiếc giỏ trúc nhỏ đưa cho Mâu Văn.
“Mấy cái này anh cũng có luôn á?”
Tạ Sùng hơi đắc ý: “Đi cắm trại thì phải ra dáng cắm trại chứ, anh ghét nhất là làm qua loa đại khái.”
Điều đó thì đúng thật.
Anh làm bất cứ chuyện gì cũng chẳng bao giờ qua loa. Một kẻ bới lông tìm vết như anh làm sao chịu dựng một chiếc lều ở cố định một cách xuề xòa cho được? Tất nhiên là phải sắm sửa đầy đủ từ A tới Z rồi.
Mâu Văn xách giỏ trúc nhỏ vào rừng hái nấm. Đây cũng là một trong những trò cô thích nhất thời thơ ấu. Dãy Đại Hưng An Lĩnh chỗ nào cũng là kho báu, Nha Khắc Thạch nằm sát bên Đại Hưng An Lĩnh, dĩ nhiên cũng có vô số thức ngon vật lạ ăn hoài không hết. Cứ đến mùa, người dân Nha Khắc Thạch lại trùm khăn buộc đầu, ngồi sau xe máy của người nhà, đeo theo chiếc bao tải nổ máy pằng pằng chui tọt vào rừng, lúc đi ra bao tải đã đầy ắp. Về đến nhà, họ bắt đầu soạn sửa báu vật mang ra phơi dưới ánh nắng mặt trời.
Mâu Văn nhận biết được các loại nấm.
Cô toan hái một cây nấm thông, Tạ Sùng ở bên cạnh liền la lên: “Nè! Có độc đó!”
Cô ngước đầu nhìn Tạ Sùng một cái rồi thả cây nấm vào giỏ nhỏ.
Tạ Sùng lo Mâu Văn sẽ cho anh ăn nấm độc, bèn cảnh cáo cô: “Anh nói em nghe nha, chỗ này cách xa nội thành lắm đó. Trót ăn vô có chuyện gì thì đường đèo quanh co khó đi cực kỳ. Em đừng có mà quậy phá.”
“Trót ăn vô có chuyện gì thì em chôn anh ngay tại chỗ luôn.” Mâu Văn dọa anh.
Tạ Sùng đá vào mông cô một cái, sợ cô đánh trả nên quay người bỏ đi ngay.
Anh lượm củi khô, Mâu Văn hái nấm, cả hai đều thu hoạch bộn bề.
Chiếc nồi sắt lớn của Tạ Sùng treo lơ lửng trên đống lửa, nước đã sôi từ lâu, Mâu Văn dùng nước sôi chần chín xương ống cừu rồi bắt đầu xào săn lại. Cô cũng chẳng ngờ mình có thể sống những ngày tháng như ở vùng thảo nguyên chăn nuôi ngay giữa lòng Bắc Kinh, lấy trời làm màn lấy đất làm chiếu mà nấu bữa “cơm bếp củi”.
Tạ Sùng ở bên cạnh lóng ngóng phụ bếp, phụ tới cuối cùng Mâu Văn đành bảo: “Thôi thôi, anh đi nhóm lửa giùm em đi!” Cô chê anh vụng về lóng ngóng.
Trong khu cắm trại có người đi dạo mát, cái mũi thính ngửi theo mùi thơm mò tới. Thịt còn chưa chín, Mâu Văn thấy đối phương có vẻ muốn nếm thử bèn niềm nở bảo: “Tí nữa ghé qua ăn chung cho vui nha.”
“Để anh dùng loa gọi.” Tạ Sùng vừa nói vừa lôi chiếc loa ra: “Chín rồi anh gọi cho.”
Người nọ nghe vậy hớn hở bỏ đi.
Dù sao thì thong dong ở khu cắm trại, ai nấy cũng chuẩn bị trải qua một ngày rảnh rỗi không chút bận rộn, cũng vui vẻ kết thêm bạn mới.
Trước khi tới đây, Mâu Văn và Tạ Sùng đã sắm sửa rất nhiều thứ, hai người bày biện bàn ăn rất đẹp mắt, thậm chí còn có cả ly thủy tinh xinh xắn. Mấy món đồ đó dưới ánh nắng hắt lên những vệt sáng lốm đốm đẹp tuyệt vời, khiến ai nhìn vào cũng muốn chụp một tấm hình.
Trước khi ăn Tạ Sùng kéo Mâu Văn lại: “Nào, cười lên cái coi.”
Mâu Văn liền cùng anh nhe răng cười hết cỡ trước ống kính. Bức ảnh chụp chung này vô cùng thú vị, cả hai ngắm nghía bức ảnh rồi cùng nhau cười suốt một hồi lâu.
Đến lúc ăn cơm Tạ Sùng quả thật cầm loa gào to: “Mới bới cơm xong nè! Ăn thịt thôi mọi người ơi!”
Thế là có mấy người chẳng biết trốn ở xó xỉnh nào cắm trại chui ra từ khắp bốn phương tám hướng. Nhưng chẳng ai đi tay không cả, người thì mang theo hộp trái cây, người thì cầm chai nước ngọt, có người lại xách theo hộp cổ vịt, những người này múc một bát thịt trong nồi sắt lớn ra rồi lập tức quay lưng bước đi.
Mọi thứ lại trở về vẻ yên tĩnh ban đầu.
Chiều tà chập chạng buông xuống, họ cuối cùng cũng có thể ngồi xuống ăn một bữa đàng hoàng.
Tạ Sùng treo một chiếc đèn nhỏ lên, gió thổi qua, ngọn đèn chao đung đưa, bóng của đống đồ đạc trên bàn cũng chao theo. Mọi vật dường như bừng tỉnh sức sống.
Mâu Văn bảo: “Em hiểu vì sao nhiều người lại muốn làm ‘kẻ vô dụng’ rồi, những ngày tháng tươi đẹp như thế này em thật sự muốn sống mỗi ngày luôn á.”
“Vậy dựng chiếc lều ở sân biệt thự đi.” Tạ Sùng trêu cô: “Sau này ngày nào cũng ngủ ở trong đó, ngày nào cũng được sống những ngày tươi đẹp.”
Mâu Văn liền nghiêm túc lại ngay: “Không được, cái sân biệt thự của anh em tự có tính toán riêng.”
“Được thôi.” Tạ Sùng đáp. Anh nói tiếp: “Em biết không? Anh đi cắm trại kén chọn người đi cùng lắm đó.”
“Anh làm cái gì mà không kén chọn người chứ?” Mâu Văn vặn lại.
Tạ Sùng mặc kệ cô, nói tiếp: “Nói thật chứ, anh ghét nhất là đi cắm trại với mấy loại người. Cái kiểu chỉ đứng ngó chứ không động tay động chân, chỉ tay năm ngón, hất cằm kén cá chọn canh, anh đi chơi một lần là bặt luôn.”
“Nên giờ anh mới đi chơi một mình chứ gì.”
“Nên từ nay về sau anh chỉ đi chơi với mình em thôi.” Tạ Sùng bảo: “Em từ đầu tới cuối lúc nào cũng hớn hở, chơi còn vui hơn cả anh nữa. Đi cắm trại với em vui cực kỳ.”
“Thế sao còn chưa chịu cụng ly đi?” Mâu Văn cụng nhẹ vào ly của Tạ Sùng.
Họ thong thả ăn rất chậm, tính nhâm nhi đến tận đêm muộn.
Món ăn nguội thì lại lấy bình gas mini ra hâm nóng, khi trời tối hẳn trong núi trở lạnh, nhưng họ ngồi bên đống lửa nên chẳng thấy rét chút nào. Mâu Văn thậm chí còn thấy mình sắp bị nướng chín tới nơi.
Cô bảo Tạ Sùng sờ mặt cô: “Anh sờ thử xem, có phải nóng hổi luôn rồi không?”
“Rắc thêm miếng muối là ăn được rồi đó.” Tạ Sùng bóp cằm cô làm bộ toan ngoạm một cú, hai người giỡn đùa một hồi.
Họ ngồi bên bờ sông, có thể nhìn thấy ánh đèn xe trong rừng cây không ngừng rọi xuyên ra ngoài, Mâu Văn hỏi: “Họ đều đi về nhà hết rồi hả anh?”
“Ừm. Trễ chút nữa là đường khó đi. Ai không muốn về thì có thể qua bên kia khu cắm trại ở, bên đó có phòng ngắm sao.”
“Chủ ở đây giỏi thật.” Mâu Văn nói: “Dưới góc độ của một người làm thiết kế, khu cắm trại này được thiết kế cực kỳ hợp lý và có gu.”
“Để anh gọi ông ấy sang.” Tạ Sùng nhấc điện thoại định gọi cho chủ bãi, dù sao anh cũng quen biết. Mâu Văn cản anh lại: “Hôm nay em chỉ muốn ở một mình với anh thôi.”
Tạ Sùng dừng thao tác trên điện thoại, quay sang nhìn Mâu Văn.
Mâu Văn của ngày trước nhất định sẽ hớn hở bảo: “Tuyệt quá, mau gọi sang đây cho em làm quen với.” Cô muốn làm quen với thật nhiều người giỏi giang, muốn nhanh chóng sao chép mạng lưới quan hệ của Tạ Sùng.
Thế nhưng bây giờ cô lại bảo: Hôm nay em chỉ muốn ở một mình với anh thôi.
Trong lòng Tạ Sùng thấy ấm áp lạ thường.
Anh đưa tay áp lên lồng ngực mình, trong phút chốc chẳng thể thốt nên lời để bộc bạch cảm xúc.
“Sao thế anh?” Mâu Văn bảo: “Anh muốn trò chuyện với ông ấy hả?”
“Nói xàm nói bậy.” Tạ Sùng bảo: “Lão đó là gã điên vì rượu, ngày nào cũng lượn vòng vòng quanh bãi cắm trại uống rượu. Lần trước tới chỗ anh bị anh đuổi đi thẳng cổ.”
“Lão không giận anh hả?”
“Giận chứ. Lão bảo sang năm tiền thuê bãi cắm cọc dựng lều của anh sẽ tăng giá.” Tạ Sùng cố tình trêu Mâu Văn.
Mâu Văn nói: “Hôm nay em thật sự chỉ muốn ở bên anh thôi. Khu cắm trại đẹp biết mấy, mùa thu thơ mộng biết bao, đêm muộn yên tĩnh vô cùng… Mấy con côn trùng nhỏ này… bay lượn tung tăng vui thích chưa kìa…”
Tạ Sùng bật cười khoái chí: “Em được rồi đó nhé!”
Mâu Văn cũng cười theo, rồi nét mặt nghiêm lại bảo: “Em nói thật đó, em chỉ muốn ở riêng với mình anh thôi.”
Tiếng cười của Tạ Sùng dứt hẳn, nhưng ánh mắt vẫn lấp lánh nụ cười, anh cứ thế đăm đăm nhìn Mâu Văn trong màn đêm mờ ảo.
Anh nhìn tới mức làm Mâu Văn thấy ngượng ngùng, cô bèn áp lấy hai gò má anh hôn một cái, nũng nịu hỏi: “Sao vậy anh?”
“Em chỉ muốn ở bên cạnh anh, suy nghĩ này tuyệt vời lắm đó. Mời em tiếp tục phát huy nhé.” Tạ Sùng đưa ra lời chỉ thị quan trọng, Mâu Văn liền đáp: “Rõ, thưa sếp!”
Mọi người lần lượt rời đi, bàn ăn của họ đã dọn dẹp sạch sẽ. Tạ Sùng nấu nước sôi, hai người nhâm nhi ly nước nóng, ngồi ở đó chờ ngắm sao đêm. Đống lửa nổ lách tách giòn giã, hòa cùng tiếng gió, tiếng nước chảy, tiếng côn trùng kêu rả rích. Tất cả mọi thứ của thiên nhiên đều là bài thơ được ông trời dốc lòng viết nên.
Mỗi người ôm một chiếc ly nước ngước nhìn bầu trời.
Tạ Sùng nhắc tới đêm hôm ấy ở thảo nguyên chăn nuôi, cũng tuyệt đẹp như khoảnh khắc này.
“Anh thật sự muốn ở lại mấy nơi như thế lâu hơn chút nữa. Không biết chừng nào mới có thể rời xa chốn đông người, sống ở một nơi không một bóng người nhỉ? Hoặc chỉ cần vài ba người qua lại cũng được.” Tạ Sùng quả thật rất ghét chốn xô xát ồn ào, anh mê sự yên tĩnh đến kỳ lạ. Tiền Tụng ngày trước thậm chí từng khuyên anh nên kết hôn với cái chén cho rồi, vì cái chén không biết nói chuyện, lại còn đựng được nước, đựng được cơm, yên tĩnh nhất đời.
Lần này Mâu Văn cười suýt sặc cả hơi.
Cô vậy mà lại thấy lời gợi ý này của Tiền Tụng hay ho phết.
“Em đừng cười nữa.” Tạ Sùng bảo: “Bộ em không thấy vô lý đùng đùng sao?”
“Em lại thấy anh cuối cùng không cưới cái chén mới là vô lý đó.”
“…”
Mâu Văn nghiêm túc hỏi anh: “Anh thật sự thích vùng thảo nguyên chăn nuôi đến thế sao?”
“Anh thích lắm chứ.”
“Nơi đó tuy phát triển nhanh chóng, nhưng so với Bắc Kinh thì vẫn là một chốn tương đối hẻo lánh. Nhiều người thích nơi đó lắm, nhưng không thể ở lại quá lâu. Ở vài ba ngày là người ta đã thấy chán chường đến mốc meo ra rồi.” Mâu Văn nói: “Anh từng hình dung qua chưa? Một ngày chỉ gặp được vài ba người, thậm chí không gặp nổi một ai. Xung quanh chỉ toàn là ngựa, bò, cừu với lại thảo nguyên…”
“Thế thì tuyệt quá rồi còn gì.” Tạ Sùng nói: “Vứt anh tới đó để anh tự sinh tự diệt luôn đi.”
Anh nói xong tự mình bật cười trước, rồi giơ tay chỉ lên bầu trời: “Mây tan rồi kìa, sao hiện ra rồi.”
Mâu Văn ngước đầu nhìn lên.
Mấy ngôi sao vừa bị dải mây mỏng che khuất dần dần lộ ra, cứ thế treo lơ lửng trên bầu trời.
Đã lâu lắm rồi họ không được ngắm nhiều sao đến thế. Thứ vốn dĩ là dễ dàng nhìn thấy nhất lại bị ngọn đèn phồn hoa rực rỡ của phố thị che lấp mất.
“Đẹp thật đó.” Mâu Văn nói.
“Anh biết có một nơi còn đẹp hơn thế này nhiều.” Tạ Sùng bảo: “Nếu chúng mình xuất phát ngay bây giờ thì vừa hay kịp ngắm biển mây sáng sớm mai.”
“Thật hả?” Đôi mắt Mâu Văn lập tức sáng rực lên.
“Thật chứ.” Tạ Sùng hỏi Mâu Văn: “Đi không?”
“Đi!”
Mâu Văn đã bật dậy bắt đầu thu dọn đồ đạc.
Tạ Sùng cản cô lại: “Khỏi cần dọn, đi luôn.”
Mâu Văn không hề hỏi thêm lấy một câu.
Chẳng hạn như chỗ đó ở đâu, đi bao lâu thì tới, đường có dễ đi không, ban đêm có lạnh không… Những câu hỏi đó cô chẳng hề bận tâm hỏi, lập tức hưởng ứng ngay.
Cả hai xét theo một khía cạnh nào đó đều là kẻ điên.
Bằng không thì làm gì có ai lại như thế cơ chứ? Giữa đêm khuya thanh vắng, chạy từ khu cắm trại ở Bắc Kinh ra, vượt qua những con đường đèo uốn lượn để lao ra khỏi Bắc Kinh.
Lúc chạy ra khỏi Bắc Kinh Mâu Văn mới hỏi: “Mình đi ra khỏi Bắc Kinh luôn hả anh?”
“Tất nhiên rồi.” Tạ Sùng bảo: “Chỗ này vui thật sự, là nơi cắm trại tuyệt vời lắm. Có điều hôm nay tụi mình hứng lên bất ngờ nên không mang theo trang bị, đành ngủ tạm trên xe một đêm vậy.”
“Thế thì tuyệt quá.” Mâu Văn nói: “Em thích ngủ trên xe lắm. Em thích cảm giác ngồi trong xe nghe tiếng mưa rơi. Mấy đêm trước kỳ thi đấu em không ngủ được, cứ thích ra xe ngồi như vậy đó.”
“Thà ngồi trên xe chứ quyết không chịu tìm anh.” Tạ Sùng giận dỗi trách móc cô: “Thực ra em còn thích một mình hơn cả anh nữa.”
Mâu Văn chẳng thèm lọt tai câu trách móc của anh, hai tay chắp lại vái lấy vái để: “Mưa đi mưa đi.”
“Mưa xuống là khả năng cao không ngắm được biển mây đâu.” Tạ Sùng nói.
Mâu Văn lập tức đổi giọng: “Đừng mưa đừng mưa đừng mưa.”
Dáng vẻ thành kính của cô buồn cười quá đỗi, Tạ Sùng bị cô làm cho phì cười.
Anh nhận ra hễ ở bên Mâu Văn là mình lại luôn miệng cười. Thế nhưng ở công ty anh rõ ràng toàn bị nhân viên chửi sau lưng là “mặt bài xì dách”, “mặt liệt”. Có một lần anh họp trực tuyến, nhân viên quên tắt micro, Tạ Sùng nghe thấy đối phương bảo: “Tạ xì dách phiền phức chết đi được.”
Có nhiều người ghét anh đến thế đấy.
Luke còn có thể giả vờ tỏ ra hòa nhã, thỉnh thoảng giỡn hớt vài câu với người khác. Còn đụng tới anh mà đùa một câu là dọa người ta sợ xanh mặt.
Nhưng khi đứng trước mặt Mâu Văn, anh lại tự nhiên đến thế. Lúc này Tạ Sùng mới nghĩ: Anh không cười với họ chẳng lẽ lại trách anh sao? Chẳng qua là do bọn họ chưa đủ thú vị đó chứ?
Anh hỏi Mâu Văn: “Có phải em cũng thấy vậy không?”
“Ơ…” Mâu Văn thật sự không biết trả lời anh thế nào, bởi câu trả lời thực ra khá tàn nhẫn. Thực tế là cô cảm nhận được sự hài hước và tính trẻ con của Tạ Sùng là những điều rất tiềm ẩn, anh tuyệt đối không bộc lộ mấy thứ đó trước mặt người ngoài. Có lẽ không phải vì người khác chưa đủ thú vị, mà chỉ là vì người khác chưa chạm tới được phần sâu thẳm nhất bên trong anh mà thôi.
“Dù sao đi nữa, gọi anh là Tạ xì dách cũng bất lịch sự thiệt.”
“Bởi vậy.” Tạ Sùng bảo: “Nhưng thực ra cũng chẳng sao, trong lòng anh gọi anh ta là tên ngốc số 1.”
“Rồi còn có tên ngốc số 2, số 3 nữa hả?…”
“Xếp tới tận tên ngốc năm mươi mấy lận đó. Trong tầm mắt anh toàn là mấy tên ngốc.” Tạ Sùng nói xong còn nhấn mạnh thêm một câu: “Luke cũng nghĩ vậy luôn, vì có lần anh nghe thấy anh ta thì thầm trong miệng: Mấy gã ngốc.”
Họ cứ thế trò chuyện trên trời dưới đất, tán dóc xuyên suốt cả đêm thâu.
Bốn giờ sáng, họ đã đến nơi. Chiếc xe dừng lại trên đỉnh núi, xung quanh chẳng có lấy một bóng người.
Đây chính là khoảng “vắng lặng” mà Tạ Sùng thực sự khao khát trong lòng, cũng là cảm giác “ở riêng bên anh” mà Mâu Văn đặc biệt muốn có được trong ngày hôm nay. Chiếc xe của họ đỗ lại nơi đó, giữa đất trời bao la, trên đỉnh núi vắng, chỉ có duy nhất hai người.
Dù cho vẫn có những cơn gió rít liên hồi, dẫu cho vẫn có mấy chú sóc nhỏ lướt nhanh qua, nhưng mọi thứ lại tĩnh mịch đến thế. Mấy ngọn cỏ dại vừa được trận mưa chiều gột rửa đang tỏa sáng lung linh dưới dải ánh trăng tàn.
Họ im lặng ngồi đó, ngắm nhìn tất cả những điều này.
“Sợ không?” Tạ Sùng hỏi.
Mâu Văn lắc đầu: “Không sợ, nhưng nếu chúng mình ôm nhau một cái thì tuyệt hơn nhiều.” Cô nói như thế.
Tạ Sùng bèn chồm người tới ôm lấy bờ vai cô.
Một lúc sau, Mâu Văn lắng nghe tiếng gió vi vút rồi chìm vào giấc ngủ. Đêm mùa thu trên đồi trà, gió đập rào rạt vào cửa kính xe, bên trong xe lại ấm áp lạ thường, cô nắm lấy tay anh rồi thiếp đi.
Thêm chút nữa, Tạ Sùng vỗ nhẹ lên má cô, khẽ giọng bảo: “Mâu Văn, trời sáng rồi.”
Mâu Văn từ từ mở mắt ra.
Cả một thế giới mới tinh khôi và huyền ảo mở ra ngay trước mắt cô.
Mâu Văn trước tiên nhìn thấy mấy đóa hoa dại cuối cùng nơi mép vực đang kiên cường lay động, rồi ngay sau đó mới nhìn thấy biển mây bao la ấy.
“Trời đất ơi.” Cô khẽ cất tiếng kinh ngạc, rồi sốt sắng bước xuống xe. Bên ngoài lạnh ngắt, Tạ Sùng đuổi theo xuống xe khoác áo phao lên người cô, hai người đứng sóng đôi nơi mép vực, đắm đuối nhìn về phía thung lũng mênh mông bạt ngàn.
Sương mờ dày đặc, dày đến độ tưởng chừng cả đời này chẳng bao giờ tan biến.
Thế nhưng một cơn gió nhẹ thoảng qua đã thổi tan sương thành những gợn sóng nhấp nhô, chỗ này dày một chút, chỗ kia mỏng một chút, đung đưa nối tiếp từng tầng.
Mâu Văn tựa đầu vào vai Tạ Sùng.
Tạ Sùng đưa tay kéo cô vào lòng mình, ôm trọn lấy cô, tựa cằm lên bờ vai cô.
“Đáng không?” Tạ Sùng hỏi.
“Đáng chứ.” Mâu Văn đáp.
“May quá em không cản anh lại.” Tạ Sùng nói: “Cũng may em cũng giống như anh, là một người sống phóng khoáng nương theo bản tính tự nhiên.”
“Một chút nữa là tan hết thôi.” Mâu Văn bảo: “Anh xem, một cơn gió thổi qua là sương mù lại tan đi một chút.”
Mâu Văn cảm thấy điều này có lẽ cũng giống như cuộc đời của họ, trải qua hết trận sương mù dày đặc này đến trận sương mù khác, nhưng cuối cùng đều sẽ bị làn gió cuốn phăng đi.
Sương tan rồi, người ta có thể nhìn thấy dáng vẻ nguyên bản của thung lũng, còn ánh nắng ấm áp thì chan hòa phủ lên người họ.
Bình minh thực sự đã gõ cửa.
Tạ Sùng càng ôm chặt Mâu Văn hơn, cả hai đều bị viễn cảnh trước mắt làm cho rung động sâu sắc.
“Em thích cái cuối tuần này quá đi.” Mâu Văn nói: “Nhờ thức suốt không ngủ nên mới ngắm được nhiều cảnh đẹp thế này, vậy mà vẫn còn nguyên cả ngày dài để tha hồ tận hưởng.”
“Thế là em không thấy mệt chút nào luôn hả?” Tạ Sùng hỏi.
“Dĩ nhiên rồi, giá như tìm được chỗ nào tắm rửa đánh một giấc, mở mắt ra lại đi chơi tiếp thì còn ngon lành hơn nữa.”
“Đi, ghé trấn thôi.”
Họ lái xe vào thị trấn, tìm một khách sạn rồi đánh một giấc ngon lành.
Đến giờ trưa nghe thấy tiếng con nít ồn ào dưới nhà, Tạ Sùng kéo rèm cửa ra ngó, thấy mấy đứa nhỏ đang vây quanh chiếc xe của mình. Mấy người lớn cũng đứng bên xe xô xát bàn tán điều gì đó. Tạ Sùng nghe lỏm được một hai câu, đại khái là: Chắc chắn là dán logo giả rồi.
Mâu Văn cũng chồm tới xem, xe của Tạ Sùng ở đây bị người ta mang ra làm vật trưng bày cho thiên hạ ngắm nghía mất rồi.
Lúc bước xuống lầu, Mâu Văn thấy hơi ngượng ngùng gượng gạo.
Tạ Sùng bảo: “Mấy cái này có gì đâu? Làm như chưa từng bị người ta vây quanh ngó bao giờ không bằng.”
Hồi trẻ chưa hiểu chuyện, đến Tam Lý Đồn bàn chuyện làm ăn từng khoe khoang của cải, lái chiếc xe này tới đó, vô tình làm náo động cả con phố, bị bao nhiêu người tranh nhau chụp hình. Tạ Sùng từ lâu đã quen thuộc với mấy cảnh này.
Anh nắm lấy tay Mâu Văn đi thẳng tới bên xe, ga lăng mở cửa ghế phụ cho cô, trước bao ánh mắt soi mói đỡ cô bước lên xe.
Có người hỏi: “Xe thật hay xe giả vậy?”
Tạ Sùng đáp: “Tự mua logo về dán đó.”
Nói xong liền lên xe phóng đi.
Ngay sau đó họ đã cảm nhận được phong tục tập quán chất phác ở nơi đây.
Mấy đứa trẻ đuổi theo xe chừng mấy chục mét, Tạ Sùng dừng xe lại hỏi: “Có chuyện gì thế em?”
Đứa nhỏ trao lại chiếc điện thoại Tạ Sùng làm rơi cho anh.
Tạ Sùng nhận lấy, hỏi: “Phụ huynh em đâu rồi? Nhặt được đồ rơi không tham phải khen ngợi mới được.”
Phụ huynh của đứa bé, tức là cái vị vừa hỏi xe thật hay giả khi nãy, cất lời với Tạ Sùng: “Mấy chú đi đi, khỏi cần cảm ơn gì đâu.” Chẳng đòi hỏi Tạ Sùng phải đáp lễ làm gì.
Mâu Văn rất thích nơi này.
Cô từng tới nhiều nơi tìm cảm hứng sáng tác, nhưng chẳng ngờ cách Bắc Kinh chừng hai ba trăm cây số lại có một cổ trấn đậm đà nét xưa đến thế.
Hai người rủ nhau ra phố ăn bánh bột hấp với bánh hoàng cao, còn mua thêm bánh ngũ cốc với bánh xếp nhân thịt chiên, húp xì xụp một bát chè ngọt. Dạo quanh trên những con hẻm lát đá, Mâu Văn còn thử sức làm tranh cắt giấy.
Cô nhìn sân khấu kịch cổ thấy quen mắt cực kỳ, nhưng rốt cuộc không thể nhớ ra đã từng gặp ở đâu.
Đúng lúc này Tạ Sùng lại nhại theo một câu thoại cực kỳ ra dáng: “Tôi chỉ ăn có một bát phở thôi mà!”
Quả nhiên là gã mê ăn uống, đến cả nhại lời thoại bộ phim cũng lựa đúng câu liên quan tới đồ ăn thức uống mà phán.
Mâu Văn sực nhớ ra, gật đầu lia lịa như gà mổ thóc: “Đúng đúng đúng, chính là sân khấu kịch cổ đó đó.”
Họ mua giấy bút rồi ngồi xuống đó mỗi người tự ký họa mô phỏng.
Mâu Văn vẽ những đường nét, hành lang mái hiên, cấu trúc mộng gỗ; còn Tạ Sùng lại vẽ màu sắc, hình khối cùng trí tưởng tượng phong phú. Đến khi hoàn thành đặt hai bức tranh cạnh nhau, chẳng ai nhìn ra đó là cùng một cảnh vật. Dĩ nhiên cả hai đều tự thấy mình vẽ đẹp, còn tranh của đối phương thì thật khó thẩm thấu. Cuối cùng Tạ Sùng bảo: “Anh đem xương thịt của anh đắp vào bức tranh của em, thế là chẳng phải có đầy đủ tất cả rồi sao?”
Nói xong, anh liền chộp lấy bức tranh của Mâu Văn, bắt đầu chỉnh sửa giúp cô. Anh dùng cảm nhận nghệ thuật đầy cảm tính của mình để giải mã tư duy kiến trúc đầy lý tính của Mâu Văn, cuối cùng tạo nên một tác phẩm tuyệt mỹ.
“Em xem này.” Tạ Sùng đưa cho Mâu Văn ngắm. Lúc này trông anh lại hệt như một bậc hiền trí, thủ thỉ với Mâu Văn: “Bức tranh ký họa của em hệt như con người em vậy, lý trí, chính xác, không một mảy may sai sót.”
Mâu Văn ngắm nghía rồi cất lời: “Tranh của anh thì lại hệt như anh, cảm tính, phong phú, bay bổng tự do.”
Lúc này cả hai lại cảm thấy tranh của đối phương mang một phong cách độc đáo riêng biệt, chân thành tán thưởng lẫn nhau.
Hôm đó vận khí của họ rất tốt, buổi tối trong cổ thành có biểu diễn màn đả thụ hoa. Khi những vệt hoa lửa bung nở rực rỡ trên bầu trời, Mâu Văn không ngừng trầm ồ cảm thán: “Trời đất ơi, đẹp quá đi mất.”
Cái cuối tuần “ngon lành” cứ thế trôi qua.
Họ chạy xe thấu đêm về nhà, lúc bước vào cửa đã là mười một giờ đêm, nhanh chóng rửa mặt tắm rửa xong xuôi rồi đặt lưng xuống giường, nhắm mắt lại là mạn cảnh tiếng nước chảy nơi khu cắm trại, đống lửa bập bùng, nồi sắt lớn hầm thịt ngút ngàn, sao đêm lấp lánh, biển mây núi trà, sân khấu kịch cổ huyện Úy cùng màn bắn hoa sắt lửa hiện ra…
Mâu Văn hệt như đứa trẻ đi dã ngoại về nhà hồi còn thơ ấu, nhắm mắt lại là hiện lên muôn vàn kỷ niệm của chuyến đi ngắn ngày.
Cô hếch tay đụng Tạ Sùng: “Anh này, em phấn khởi quá, trong đầu em ngập tràn mấy chuyện cuối tuần này luôn, không tài nào chợp mắt nổi hết.”
Tạ Sùng bảo: “Anh cũng vậy, sau này tụi mình có thể trải qua nhiều cái cuối tuần như thế này hơn nữa được không?”
“Thế thì trước tiên, tụi mình phải nỗ lực vì những cái cuối tuần có thể tự do chi phối đã.” Mâu Văn nói: “Cố lên nha.”
“Cố lên.”
Họ cuối cùng cũng thiếp đi, giữa lúc ánh trăng lên cao vút trên tầng không, nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ sâu.
Những khoảng thời gian tuyệt diệu cứ thế len lỏi vào giấc mơ của họ, bởi trong giấc mộng cả hai đều cất lên tiếng cười trong trẻo.
Vậy thì, chúc ngủ ngon.
