Chương 3: Lắng nghe chuyện cũ giữa ngày tuyết rơi (3)
*
Cảnh sắc Tây Sơn biến ảo khôn lường, ngay sau khi Vương Trác Nghi rời đi không lâu, trong núi lại bắt đầu đổ trận tuyết mịn màng như phấn.
Đây là mùa thưởng tuyết tuyệt diệu nhất ở Tây Sơn, các phu nhân nữ quyến tông thất lần lượt dắt tay nhau ra phía lan can lầu, nô bộc thì tất bật đốt sẵn lò sưởi, chỉ sợ hơi tuyết lạnh làm vương bẩn xiêm y của các bậc quý nhân.
Phía ngoài đám đông, Tống Nùng rảo bước về một góc, lặng lẽ nhìn xuống nhóm thiếu niên dưới lầu vốn chẳng được Vương Trác Nghi đoái hoài tới.
Vương Trác Nghi rời đi vội vã, chỉ đem theo một mình chàng, không hề để lại nửa lời định đoạt cho những người còn lại. Bọn họ vì thế chỉ biết đứng chôn chân chờ đợi, ai nấy đều mình trần áo mỏng hứng chịu tuyết rơi, khí lạnh thấu xương làm cho cơ thể run rẩy không sao nhịn được. Trong lòng Tống Nùng không nỡ, định bụng qua chỗ Tạ Nhân để xin cho họ một nơi nương náu, ngặt nỗi tìm hoài trong đám đông chẳng thấy bóng dáng y đâu. Nhìn xuống dưới lầu, đã có thiếu niên rét đến mức phải dùng cả đầu gối lẫn cùi chỏ chống đỡ xuống đất, chỉ biết níu kéo lẫn nhau để gượng quỳ cho vững.
Những người này vốn dĩ là do nàng ta lấy danh nghĩa của Thái tử Vương Hiến để dâng tặng cho Vương Trác Nghi, hiện thời trông nông nỗi này thật chẳng ra làm sao. Tống Nùng suy tính một hồi, quyết định bản thân sẽ tạm thời thay Vương Trác Nghi đứng ra làm chủ một phen.
Nàng ta vừa nghĩ ngợi vừa rảo bước đến lối cầu thang, đang toan xuống lầu thì chợt thấy Tạ Nhân chẳng biết đã lặn lội đến trước mặt nhóm thiếu niên từ bao giờ. Gia bộc của phủ công chúa trong Minh Nguyệt Viên cũng vội vã bước theo sau phò mã, tuân theo mệnh lệnh của Tạ Nhân mà dìu tất thảy những kẻ áo mỏng kia dậy, đưa đi tìm nơi che chở, sắp xếp ổn thỏa.
Tống Nùng hiểu rõ tính khí của Tạ Nhân, thấy vậy liền biết mọi việc ắt sẽ chu toàn, đang tính quay trở lại bàn tiệc thì ánh đèn dưới lầu bỗng lay động nhẹ, bóng cây lạnh lẽo thâm u bị khuất mất một nửa. Dưới mái hiên cong thoắt ẩn thoắt hiện một bóng người bước ra, Tống Nùng chăm chú nhìn kỹ, nhận ra người nọ chính là Vương Hiến – kẻ trước đó còn mải mê chìm đắm trong tiếng nhạc điệu ca.
Trên danh nghĩa là Thái tử Lương đệ, Tống Nùng xử sự bên ngoài lúc nào cũng mực thước đoan trang. Nghĩ bụng hai người này đang né tránh tai mắt để nói chuyện riêng nơi góc tối, bản thân không nên nhìn lén nghe trộm, nàng ta bèn vờ như chẳng hay biết gì, xoay người trở lại tiệc rượu.
Mới đi được vài bước, đã thấy Huyện chúa Quy Nhân xăm xăm bước tới. Đến trước mặt nàng ta, huyện chúa chẳng thèm chào hỏi lấy một câu, liền hỏi thẳng: “Thái tử biểu huynh đâu rồi? Sao tự dưng lại biến mất tăm?”
“Kính thưa huyện chúa, Điện hạ ngài ấy…”
Huyện chúa Quy Nhân căn bản không thèm đếm xỉa đến việc Tống Nùng đang mang long thai, tùy tiện gạt mạnh bả vai nàng ta một cái rồi bước xấn tới trước: “Mẫu thân bảo biểu huynh nãy giờ toàn uống rượu lạnh, phải mau trở lại bàn ăn chút canh nóng cơm sốt mới tốt.” Nói đoạn, nàng ta toan đi xuống lầu để kiếm tìm.
Tống Nùng vội vàng bước lên cản lại, nở nụ cười thưa: “Huyện chúa, thiếp đã sai người đi thỉnh Thái tử điện hạ rồi.”
Huyện chúa Quy Nhân bấy giờ mới thèm liếc mắt nhìn Tống Nùng, đôi mày thanh tú khẽ nhướng, chợt lạnh giọng mỉa mai: “Ngươi đang làm cái trò gì thế hả? Cả thảy một đêm này tính ra ngươi là kẻ lăng xăng náo nhiệt nhất, đứa nào không biết chuyện lại tưởng hôm nay là ngày mừng thọ của ngươi, cái Minh Nguyệt Viên này xây cất cho ngươi không bằng, bọn ta cũng phải cung kính gọi ngươi một tiếng Điện hạ đấy nhỉ.”
Lời này nói ra thực sự quá mực chói tai, các phu nhân tông thất đang ngắm tuyết bên lan can lầu không khỏi ngoảnh đầu nhìn ngó. Tống Nùng dáo dác nhìn quanh quất, cố kìm nén sự nhục nhã trong lòng, cúi đầu thưa với Huyện chúa Quy Nhân: “Thiếp xin phép qua hầu hạ Trưởng công chúa điện hạ.”
Nói xong, nàng ta liền thi lễ cáo lui, nghiêng mình định lướt qua bên người Huyện chúa Quy Nhân.
Nào ngờ huyện chúa lại đột ngột cao giọng: “Ngươi thuở trước hầu hạ ta, sau này lại quay sang hầu hạ Thọ Linh. Để lấy lòng muội ấy, chẳng biết ngươi lặn lội đào bới ở đâu ra lũ người thấp hèn dưới lầu kia đem dâng cho Thọ Linh, không sợ làm hoen ố thanh danh của muội ấy hay sao. Bản thân ngươi tự nhìn lại xem, tiệc rượu đêm nay Thọ Linh có thèm đoái hoài tới ngươi không? Ta đây có nghe phong phanh, mấy ngày trước ngươi năm lần bảy lượt cầu kiến, vậy mà muội ấy nhẫn tâm bỏ mặc ngươi ròng rã suốt ba ngày trời.”
Tống Nùng khựng lại bước chân, cố nhẫn nhục đáp: “Điện hạ đối đãi với thiếp ra sao là chuyện của người, có lẽ do thiếp hầu hạ chưa được vẹn toàn nên mới bị Điện hạ khiển trách, thiếp tự biết đường mà sửa đổi.”
Huyện chúa Quy Nhân quay người bám theo, cười khẩy: “Còn đòi sửa đổi cơ đấy? Sửa đổi thì có ích gì chứ? Ngươi nhìn lại mình đi, khi nãy ngươi thưa chuyện với muội ấy, muội ấy đến một ánh mắt cũng chẳng thèm ban phát cho ngươi.”
Tống Nùng mím chặt môi không đáp lời, Huyện chúa Quy Nhân lại tiếp tục đay nghiến: “Giờ khắc này lại tính qua hầu hạ mẫu thân ta phải không? Khi nãy ngươi cứ xoay như chong chóng quanh chân Thọ Linh, trong mắt ngươi có ai nữa đâu? Sao nào? Giờ đây biết thân biết phận mình chẳng còn chút thể diện nào chỗ Thọ Linh nữa, nên lại dã tâm đeo bám lấy mẫu thân ta à?”
Những lời này của Huyện chúa Quy Nhân tuy không phải là bô bô giữa đám đông, song tuyệt nhiên chẳng hề kiêng dè những người xung quanh. Tống Nùng ngước mắt nhìn các phu nhân tông thất có mặt tại đó, da mặt rốt cuộc chịu không nổi nhục nhã, đỏ ửng lên tận cổ, hai bàn tay cũng dần rịt chặt lại.
Huyện chúa Quy Nhân vặn hỏi: “Ngươi nắm chặt tay làm cái gì thế hả?” Vừa dứt lời liền xấn bước về phía nàng ta.
Tống Nùng vội vã lùi lại: “Thiếp không có…”
Huyện chúa Quy Nhân từng bước ép sát: “Có phải ngươi lại dở thói ăn cắp ăn trộm vật gì rồi không!”
Lúc bấy giờ dưới Lầu Minh Nguyệt, Tạ Nhân đang xem xét vết thương ở đầu gối của một thiếu niên, Ngô Doanh đứng túc trực một bên chờ lệnh. Chàng thiếu niên ấy lòng đầy hoảng hốt, lại chẳng dám làm trái ý phò mã, chỉ biết nhắm nghiền hai mắt, mím chặt bờ môi.
Tạ Nhân bảo với Ngô Doanh: “Ngày mai lúc thong thả, ta sẽ đi thỉnh ý của Điện hạ. Nếu Điện hạ không có chỉ thị gì khác thì cứ để bọn họ lại trong vườn này, mọi khoản cơm ăn áo mặc đều do bên ta chu cấp nuôi dưỡng.”
“Vâng, thưa phò mã.”
Tạ Nhân khẽ khàng kéo ống quần của thiếu niên xuống, thẳng người dậy, ôn tồn hỏi cậu ta: “Đến từ Tây Lũng sao?”
Thiếu niên gật đầu: “Dạ phải…”
“Họ Lý?”
“Dạ… tiểu nhân tên Lý Thư Thường…” Thiếu niên buột miệng đáp theo bản năng, rồi vội vàng phân trần để phủi sạch quan hệ: “Có điều tiểu nhân chỉ là người cùng họ Lý liên tông mà thôi, cha mẹ từ lâu đã không còn qua lại thư từ với bọn nghịch tặc, cho nên…”
“Không sao đâu, ta biết rồi.” Tạ Nhân ngắt lời cậu thiếu niên đang hoảng loạn, không gạn hỏi thêm nữa, quay sang bảo Ngô Doanh: “Đưa cậu ta xuống bôi thuốc đi.”
“Dạ, tuân lệnh.” Ngô Doanh vừa thưa vừa tiến lên dìu thiếu niên rời đi.
Tạ Nhân bấy giờ mới đưa mắt nhìn về phía bờ bên kia Phù Cừ Hải. Cây khô cành cỗi lớp lớp đan xen, lại gặp trận tuyết mịn giăng đầy trời, trên mặt hồ ngoài bóng cây trơ trọi lạnh lẽo ra thì nào có thấy đâu dáng dấp của Tố Cư.
Y bấy giờ mới thu hồi tầm mắt định quay trở lại bàn tiệc, chợt nghe sau lưng có tiếng người gọi mình. Người nọ không hề gọi tôn xưng phò mã của y, ngược lại gọi thẳng chức quan nơi triều đình của y: “Tạ Tào lang.”
Hôm nay người đến Minh Nguyệt Viên dự tiệc thảy đều là nữ quyến tông thất, kẻ làm quan tại triều duy chỉ có một mình Thái tử Vương Hiến. Tạ Nhân ngoảnh đầu lại, quả nhiên nhìn thấy Thái tử Vương Hiến đang đích thân cầm một chiếc đèn nến đầu cừu, đứng sừng sững ngay trước mặt y.
“Cái Minh Nguyệt Viên này là do cô tặng cho Thọ Linh, nhưng kể từ ngày đào con mương Phù Cừ Hải kia, cô đã nói rồi, từng ngọn cỏ nhành cây, từng đứa đầy tớ nô bộc trong khu vườn này thảy đều do một tay cô chu cấp. Huống hồ chi lũ người này là món quà mừng thọ của Lương đệ dâng cho Thọ Linh, ngươi việc gì phải ôm đồm giành lấy.”
Tạ Nhân chắp tay hành lễ, cung kính đáp: “Khởi bẩm Điện hạ, nô bộc là nô bộc, thần nào dám làm trái tấm lòng yêu thương công chúa của Điện hạ. Thế nhưng hơn hai mươi thiếu niên này, xét theo lễ nghi phải được liệt vào danh sách của phủ công chúa. Bọn họ thuộc về khuê phòng nội sủng, chứ chẳng phải hạng đầy tớ nô bộc, dẫu có tạm thời nuôi dưỡng trong vườn thì thần làm sao dám để họ đụng chạm tới đồ dùng vật dụng của Điện hạ.”
Vương Hiến nghe xong, không kìm được bật cười thành tiếng: “Tạ Tào lang nói năng như vậy, trong lòng không cảm thấy chút nhục nhã tủi hờn nào sao?”
Tạ Nhân mỉm cười lắc đầu, một lần nữa chắp tay thưa: “Thần hầu hạ công chúa, cung kính như giữ gìn đôi mắt của chính mình.”
Vương Hiến cười nói: “Cô tin ngươi. Cô dẫu không mấy tôn trọng cung cách làm quan của ngươi, nhưng ở phận làm chồng, Tạ Nhân ngươi xứng đáng nhận một lời khen ngợi ‘không chút tì vết’. Dù sao cô cũng từng chứng kiến tận mắt, thuở trước ngươi đã đối đãi với nữ nhi Lý thị ra sao.”
Nhắc tới người vợ kết tóc năm xưa, Tạ Nhân khẽ ngước mắt: “Điện hạ định ban dụ điều gì ạ?”
Ngọn đèn đầu cừu trên tay Vương Hiến rọi sáng gương mặt Tạ Nhân. Vương Hiến ra sức muốn nhìn thấu chút cảm xúc dao động từ trên gương mặt ấy, ngặt nỗi nét mặt y phẳng lặng như mặt hồ không chút sóng gợn, chẳng vướng nét nhục nhã tủi hờn, mà cũng chẳng mảy may thẹn thùng cắn rứt.
Vương Hiến dứt khoát nói toạc ra: “Thực chất, ngươi muốn cứu mạng nữ nhi Lý thị cùng đứa con gái của ngươi, đại khái chẳng cần phải cam chịu nhục nhã gác qua thể diện mà dâng nội sủng cho Thọ Linh đâu. Ngươi hoàn toàn có thể thử cúi đầu, cầu xin dưới trướng của cô xem sao.”
Tạ Nhân lập tức tiếp lời hỏi vặn: “Vậy thần phải dùng thứ gì để dâng đổi với Điện hạ đây?”
Vương Hiến khẽ khựng lại, hiển nhiên gã không ngờ Tạ Nhân lại nói năng trực diện đến thế. Tạ Nhân trái lại vô cùng thản nhiên, tự mình đưa ra câu trả lời thay cho gã: “Là chức Độ chi một tào mà thần đang nắm giữ, hay là cả bản thân thần cùng toàn bộ gia tộc họ Tạ đây?”
“Tạ Nhân!” Cổ họng Vương Hiến nghẹn ứ: “Ngươi to gan lắm!”
Tạ Nhân cúi đầu lùi lại một bước, vén vạt áo quỳ sụp xuống đất, đang định lên tiếng tạ tội thì chợt thấy Ngô Doanh hớt hải chạy xồng xộc tới: “Phò mã, xảy ra chuyện lớn rồi.”
Tạ Nhân ngoảnh mặt quát: “Láo xược! Thái tử điện hạ đang ngự ở nơi này, ai cho phép tùy tiện xông pha lên đây.”
Ngô Doanh vội vàng cùng quỳ xuống với Tạ Nhân, mồ hôi hột tuôn rơi thưa: “Dạ… là chuyện của công chúa…”
Vương Hiến đang lúc sa sầm mặt mày vì thái độ của Tạ Nhân mà chưa biết xuống nước bằng cách nào, Ngô Doanh vô tình đâm sầm tới lại vô tình cho gã một lối thoát. Gã bèn thuận thế phẩy tay bảo: “Thôi bỏ đi, đã là Thọ Linh tìm kiếm ngươi thì ngươi mau đi đi. Sẵn tiện thay cô hỏi muội ấy một câu, ngắm tuyết đêm trên đỉnh Tây Sơn muội ấy có còn muốn đi nữa hay không? Nếu có, cô sẽ sai Lương đệ qua đó sắp đặt bàn tiệc hầu hạ trước.” Nói đoạn, gã nâng đèn rọi lối, một mình bỏ đi thẳng.
Tạ Nhân đợi Vương Hiến đi khuất, bấy giờ mới đứng dậy hỏi Ngô Doanh: “Công chúa làm sao vậy?”
Ngô Doanh vội nói: “Hàm Chu qua truyền lời, bảo rằng Lý Nhược Lâm khi nãy ở Tố Cư hành thích Điện hạ…”
“Ngươi nói cái gì?” Tạ Nhân vội dìu Ngô Doanh dậy, “Công chúa thế nào rồi?”
Ngô Doanh thưa: “Điện hạ vẫn bình an vô sự, xin phò mã cứ yên tâm, Lý Nhược Lâm đã bị thị vệ khống chế rồi.”
Tạ Nhân nghe xong liền toan rảo bước về phía Tố Cư, vừa đi vừa gặng hỏi: “Nàng định xử trí Lý Nhược Lâm thế nào?”
Ngô Doanh biết y đang lo lắng Lý Nhược Lâm sẽ làm liên lụy đến vợ cũ và con gái năm xưa của mình, bèn vội vã bám theo bảo: “Phò mã ngài đừng nóng vội, Điện hạ không hề hạ lệnh giết người, ngược lại còn giao cho ngài đích thân xử lý. Theo ý tiểu nhân, chuyện này là đã chừa cho vị công tử Lý thị kia… một đường lui rồi.”
Tạ Nhân nghe xong câu ấy, bấy giờ mới chậm lại bước chân.
Phía sau lưng hai người, hai ngọn cung đăng dẫn lối chầm chậm tiến lại gần. Giữa bóng tuyết mịt mùng, Vương Trác Nghi đã thay một bộ xiêm y khác, mái tóc cũng được búi lại gọn gàng, đang dẫn theo Hàm Chu cùng đoàn người trở lại Lầu Minh Nguyệt. Tạ Nhân ngoảnh đầu trông thấy Vương Trác Nghi, Vương Trác Nghi cũng bắt gặp ánh mắt của y, thế nhưng lần này lại phá lệ khi chính nàng là người chủ động né tránh ánh nhìn của y trước.
Thực ra tâm trạng nàng đã bình lặng trở lại, song luồng suy nghĩ vẫn còn hỗn độn khôn nguôi. Nàng hiểu rõ, việc giao chàng cho Tạ Nhân lúc này chỉ là kế tạm thời, chung quy nàng vẫn phải đối diện một lần nữa với gã điên trẻ tuổi muốn lấy mạng mình kia. Chỉ mới nghĩ ngợi đến đó thôi mà thái dương nàng đã đau nhức khôn tả, kéo theo bước chân mỗi lúc một dồn dập, chớp mắt đã bước lên tầng lầu thứ ba. Hàm Chu đuổi theo gần như hụt hơi, đành phải gọi giật phía sau: “Điện hạ, người vừa mới trật khớp cổ chân, phải cẩn thận dưới chân mình ạ…”
Lời Hàm Chu vừa dứt, ngay trước mặt Vương Trác Nghi bỗng có một bóng người lảo đảo đâm sầm tới. Ánh đèn trên cầu thang chập chờn lung linh, Vương Trác Nghi vẫn kịp nhìn rõ mười mươi người nọ chính là Tống Nùng. Nàng ta chẳng rõ vì cớ gì mà bước đi cũng vội vã hoảng loạn, để rồi hụt chân dẫm trượt một bậc thang. Ả tỳ nữ Lưu Vân chạy theo phía sau kinh hãi hét lớn: “Lương đệ!”
Tống Nùng quýnh quáng đưa tay toan vịn lấy lan can, thế nhưng nàng ta chung quy đã mang long thai được sáu tháng, thân hình quá mực nặng nề, dẫu cho có chạm được vào lan can cũng không sao nắm vững, liền một mạch ngã nhào xuống bốn năm bậc thang, mắt thấy sắp sửa lăn long lóc xuống dưới lầu.
“Trác Nghi, tránh ra!”
Tống Nùng thừa biết nếu bản thân ngã nhào xuống thế này ắt sẽ va trúng Vương Trác Nghi, trong cơn nguy cấp liền buột miệng gọi thẳng tên của nàng. Và cũng chính một tiếng “Trác Nghi” ấy đã thốt nhiên gợi nhắc Vương Trác Nghi nhớ về kiếp trước: Khi Vương Hiến bị phế truất và xử tử, quyến thuộc nội phủ cùng con cái của Thái tử thảy đều bị ban rượu độc, Tống Nùng trước lúc lâm chung cũng thống thiết gọi tên nàng như vậy: “Trác Nghi, cứu ta với, Trác Nghi, cô cứu ta với…”
Kết cục kiếp ấy nàng chẳng cứu giúp lấy một ai. Suốt cả một đời đó, Vương Trác Nghi chỉ khắc cốt ghi tâm nỗi thảm thương của bản thân ở kiếp đầu tiên, chính chấp niệm oán hận ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho nàng giữa cuộc đời mong manh như sương như chớp, giúp nàng sát phạt quyết đoán, tự chủ và tự tin vô cùng. Nàng dung túng cho bản thân muốn làm gì thì làm đối với bất kỳ ai, bởi lẽ thế gian dẫu có muôn vàn vạn người, song chỉ có độc một mình nàng từng phải nếm trải cái chết thê thảm tột cùng. Vì lẽ đó, nàng chẳng thể nảy sinh lòng trắc ẩn với bất cứ kẻ nào từng trục lợi từ trên người mình để mưu cầu cuộc sống riêng, càng không cách nào tha thứ cho bất kỳ sự phản bội hay thờ ơ lãnh đạm nào ở kiếp trước. Trong cái kiếp sống để bù đắp cho chính mình ấy, ngoại trừ khoái cảm trả thù, Vương Trác Nghi đã triệt để vứt bỏ mọi nẻo đường cảm nhận nhân tình thế thái.
Thế nhưng, ngay chính tại kiếp sống thứ ba này, khi nàng đã đối diện với hết thảy người và việc trên đời bằng một cõi lòng tê dại và nhạt nhẽo, ông trời lại đẩy đến trước mặt nàng một Lý Nhược Lâm – kẻ dường như cũng chỉ khắc sâu nỗi thảm khốc của tiền kiếp. Sự cân bằng giữa hai cực đoan trong bản tính con người bỗng chốc bị phá vỡ bởi một tiếng gầm chói tai “Đi chết đi!”. Và ký ức của hai kiếp người mà nàng từng chẳng buồn hoài niệm cũng lặng lẽ thức tỉnh sau tiếng thét ấy. Dẫu cho lúc này nàng vẫn chưa suy nghĩ tỏ tường xem nên đối mặt và đối xử ra sao với người và việc của kiếp này, song ngay vào khoảnh khắc này, nàng lại chẳng thể nào nhẫn tâm ngó lơ một Tống Nùng đang thống thiết gọi tên mình trước mắt.
Cõi lòng dẫu cho có muôn trùng sóng cuộn, song hết thảy biến chuyển ngoài đời thực cũng chỉ diễn ra trong vòng một chớp mắt.
“Điện hạ! Cẩn thận!” Hàm Chu trông thấy không kịp kéo Vương Trác Nghi ra, chỉ biết thất thanh hét lớn.
Thế nhưng Vương Trác Nghi không hề né tránh, nàng nhanh chóng vòng một cánh tay khóa chặt vào thanh lan can, tay còn lại dùng hết sức bình sinh đỡ lấy phần thắt lưng của Tống Nùng, phó mặc cho cả cơ thể của Tống Nùng đâm sầm thẳng vào lồng ngực mình. Vóc dáng của hai người vốn dĩ ngang nhau, cộng thêm đà lao xuống từ trên cao của Tống Nùng, nếu chỉ dựa vào một cánh tay thì Vương Trác Nghi căn bản chẳng thể nào chống đỡ nổi cho cả hai. Cơn đau nhức nhối thốt nhiên truyền đến ép nàng phải buông lỏng lan can, nàng dứt khoát dùng cả hai tay ôm chặt lấy Tống Nùng, lấy chính thân mình làm tấm đệm lót bên dưới, bảo bọc đối phương rồi cùng trượt ngã nhào xuống cầu thang.
“Trác Nghi!”
Rìa của những bậc thang bằng gỗ hệt như lưỡi đao “chém” mạnh vào tấm lưng của Vương Trác Nghi, nàng đau đớn đến mức hoàn toàn không cách nào đáp lời Tống Nùng. May thay chỉ qua năm sáu bậc đã tới đoạn khúc quanh cầu thang, lưng của Vương Trác Nghi đập rầm một cú thật nặng vào vách tường, tiếng “bộp” vang lên, cả hai rốt cuộc cũng dừng lại được.
Nhóm nô bộc Hàm Chu và Lưu Vân cuống quýt lao đến, vội vã dìu lấy chủ tử nhà mình. Tống Nùng lảo đảo đứng dậy, nàng ta được Vương Trác Nghi bảo bọc trọn vẹn trong lòng nên chỉ có phần cánh tay bị va quệt bầm tím một vết nhỏ. Thế nhưng nàng ta chẳng buồn ngó ngàng đến thương tích của bản thân, vừa ngoảnh đầu toan đỡ Vương Trác Nghi dậy liền trông thấy nàng một tay ôm chặt lấy thắt lưng, gương mặt cắt không còn giọt máu, mồ hôi hột đổ ra ròng ròng, căn bản không sao gượng dậy nổi.
“Tống Nùng, trước tiên đừng đụng vào ta…” Nàng vừa nói vừa nhìn chăm chú theo bản năng xuống đôi chân của Tống Nùng, Tống Nùng vội vã hỏi: “Điện hạ người bị thương ở chỗ nào rồi?”
Mọi người trên Lầu Minh Nguyệt đều bị cảnh tượng kinh hoàng này dọa cho một phen khiếp vía, lũ lượt chen chúc nhau nơi lối cầu thang. Vương Hiến gần như lao xồng xộc xuống dưới, trông thấy Vương Trác Nghi sắc mặt trắng bệch ngồi bệt dưới sàn, lại thấy Tống Nùng đang vịn tay tỳ nữ đứng nép một bên, xem chừng vẫn chưa gặp phải đại nạn gì.
“Rốt cuộc là có chuyện gì?” Vương Hiến lớn tiếng quát hỏi Tống Nùng.
Tỳ nữ Lưu Vân của Tống Nùng thấy chủ tử vẫn còn chưa hoàn hồn, vội vàng lên tiếng đỡ lời: “Khởi bẩm Điện hạ, do Lương đệ bước đi không vững…”
Vương Hiến ngang ngược ngắt lời Lưu Vân: “Làm tổn thương đến công chúa là đại tội, quỳ xuống cho cô!”
Tống Nùng nghe thấy lời này, bờ vai không khỏi run lên bần bật. Nàng ta ngước mắt nhìn lên phía lối cầu thang, bấy giờ mọi người trên bàn tiệc đều đã vây kín lại. Huyện chúa Quy Nhân nhất thời dấy lên nỗi khiếp đảm, bởi lẽ chính những lời sỉ nhục công khai vừa rồi của nàng ta đã chà đạp lên thể diện của Tống Nùng, khiến Tống Nùng phải vội vã rời tiệc rồi dẫn đến sẩy chân ngã nhào. Nàng ta sợ Vương Hiến sau khi điều tra rõ ngọn ngành sẽ quở trách mình, bèn vô thức nép người trốn ra sau lưng mẫu thân là Trưởng công chúa Xương Bình.
Tống Nùng thừa hiểu thân là người của Đông Cung, bản thân tuyệt đối không được phép công khai làm trái ý Vương Hiến, càng không thể dây dưa thanh minh khiến gã thêm phần chán ghét. Vì vậy, nàng ta buông thõng tay Lưu Vân, vịn vào lan can định bụng quỳ xuống. Nào ngờ đầu gối mới khuỵu xuống được một nửa, cánh tay đã bỗng dưng được một bàn tay dứt khoát đỡ lấy, giọng nói của Vương Trác Nghi từ phía sau truyền đến, vượt qua người nàng ta mà dằn mạnh thẳng về phía Vương Hiến: “Tỷ ấy đang mang long thai, quỳ cái gì mà quỳ?”
Dứt lời, Vương Trác Nghi liếc nhìn Tống Nùng một cái: “Đứng cho vững vào.” Kế đó, nàng dứt khoát tựa người vào vách tường, ngước mắt nhìn Vương Hiến bảo: “Tỷ ấy hầu hạ huynh bấy nhiêu năm trời rồi, huynh chẳng lẽ vẫn không biết tỷ ấy sợ nhất điều gì sao?”
Tống Nùng sợ nhất điều gì? Đến chính bản thân Tống Nùng cũng không hề hay biết.
Thế nhưng Vương Trác Nghi, người đã cùng nàng ta trải qua hai kiếp sống lại biết rõ mười mươi. Tống Nùng có một nút thắt tâm lý sâu hoắm, bắt nguồn từ buổi đi săn mùa tuyết trên Tây Sơn năm nàng ta mười sáu tuổi. Khi ấy, nàng ta bị vu cho tội ăn cắp chiếc trâm vàng của Huyện chúa Quy Nhân, để rồi phải chịu đựng một trận hình phạt roi da tàn khốc. Mấy mươi roi Huyện chúa Quy Nhân quất thẳng tay trước mặt bao người đã xé rách nát y phục của nàng ta, để lại trên tấm lưng thon thả những vết sẹo rớm máu chẳng bao giờ có thể chữa lành. Vì lòng trắc ẩn thương xót cho cảnh ngộ ấy, Vương Trác Nghi đã kéo nàng ta rời khỏi buổi tiệc, đưa nàng ta xuống núi Tây Sơn.
Suốt một năm trời đằng đẵng đó, Tống Nùng trở thành trò cười và đề tài bàn tán xôn xao của đám tiểu thư các gia tộc quyền quý ở Lạc Dương, còn bản thân nàng ta thì tự giam mình trong khuê phòng, đóng chặt cửa suốt một năm ròng. Tống Nùng vốn dĩ chỉ là con nuôi từ một nhánh phụ chuyển qua, trong phủ vốn không có chút địa vị hay tiếng nói nào. Cả năm trời nàng ta không bước chân ra ngoài cửa, Tống thị cơ hồ đã lãng quên mất sự tồn tại của một kẻ mang tên Tống Nùng, thế nhưng Vương Trác Nghi lại đều đặn nhận được lễ vật cung phụng của nàng ta vào mỗi dịp đầu tháng. Từ đồ thêu thùa, bánh trái cho đến hoa tươi cắm bình, món nào món nấy thảy đều vô cùng tinh xảo và cổ kính nhã nhặn. Tiêu hoàng hậu lặng lẽ ngắm nhìn những món quà ấy, rồi bảo với Vương Trác Nghi rằng Tống Nùng là một cô nương phi thường thông tuệ.
Ban đầu Vương Trác Nghi vẫn chưa thấu hết ẩn ý của mẫu hậu, mãi cho đến khi nàng năng nổ tới lui Tống phủ để tìm Tống Nùng làm bạn, ép cho nhà họ Tống buộc phải đón đứa con gái bị ghẻ lạnh sau trận nhục nhã năm xưa về lại bên mình, bấy giờ Vương Trác Nghi mới chợt ngộ ra. Tống Nùng tôn kính nàng như bậc quý nhân nâng đỡ cuộc đời, và những món quà đầu tháng ấy tuyệt nhiên không đơn thuần chỉ xuất phát từ lòng hàm ơn. Song Vương Trác Nghi cảm thấy chuyện đó cũng chẳng có gì to tát. Kể từ khi Tống Nùng đã ghi tạc ân tình của nàng, lại nguyện dùng cả quãng đời của bản thân để báo đáp, thì nàng ta chính là một người bằng hữu xứng đáng để Vương Trác Nghi đem lòng chở che, thương xót.
Thế là, Vương Trác Nghi đã chủ động nắm lấy bàn tay nàng ta, dắt nàng ta ra vào chốn hoàng thành nghiêm cẩn, xúng xính xiêm y xuất hiện giữa những buổi yến tiệc hào hoa bậc nhất Lạc Dương. Lại một mùa săn tuyết nữa trên Tây Sơn, Vương Trác Nghi để Tống Nùng ngồi ngay cạnh bên mình. Giữa cơn nửa say nửa tỉnh, Thái tử Vương Hiến tình cờ chạm vào nhành hoa cài trên tóc mai của nàng ta, kể từ đó nàng ta bước chân vào Đông Cung, mang long thai duệ tự, mưu cầu giành lấy cái mệnh tốt nhất của một phận nữ nhi sĩ tộc.
Kiếp đầu tiên, Vương Trác Nghi chết quá sớm nên chẳng kịp chứng kiến kết cục thảm hại của nàng ta.
Sang kiếp thứ hai, nàng ta vì muốn giữ chặt lấy cái mệnh tốt nhất của mình mà trở mặt thành thù với Vương Trác Nghi. Đến tận khi dải lụa trắng siết quanh cổ, nàng ta mới nghẹn ngào bảo với Vương Trác Nghi, rằng hết thảy những việc nàng ta đã làm, chẳng qua cũng chỉ vì muốn mặc lại thật chỉnh tề manh áo từng bị Quy Nhân chà đạp xé rách nát giữa Cung Lạc Dương năm nào. Nàng ta sợ nhục nhã, nàng ta chẳng bao giờ muốn phải chịu cảnh nhục nhã trước mặt bao người thêm một lần nào nữa.
Đời người chính là kỳ quặc như vậy, một khi bóc trần được tử huyệt của ai đó, hoặc là ngươi nhẫn tâm đâm cho lút lửng, hoặc là ngươi dốc lòng che chở bọc che, chung quy là chẳng cách nào trơ mắt ngó lơ.
Vương Trác Nghi đã thuận theo bản năng mà đưa ra lựa chọn, dẫu cho cõi lòng có kinh hãi bàng hoàng, nàng cũng chẳng còn tâm trí đâu để mà tính toán thiệt hơn.
Vương Hiến đối với thái độ của Vương Trác Nghi thì cảm thấy bực dọc lạ lùng, gã lớn tiếng quát: “Thọ Linh, muội không biết phân biệt tốt xấu sao? Cô là đang ra sức bảo vệ muội đó!”
“Huynh lo mà bảo bọc người trong khuê phòng của huynh đi thì hơn.”
Vương Trác Nghi vừa nói vừa gượng vịn lấy tay Hàm Chu để chật vật đứng dậy: “Chính ta đi đứng không vững, suýt chút nữa là làm liên lụy đến tỷ ấy lẫn đứa con của huynh rồi. Huynh thế mà còn ép tỷ ấy phải cúi đầu nhận lỗi với ta, hai anh em ta rốt cuộc thành cái hạng người gì vậy hả?”
Dứt lời, nàng một tay chống lấy thắt lưng, chật vật quay người sang bảo với Tống Nùng: “Xin lỗi tỷ, tỷ mau trở về truyền ngự y tới chẩn trị xem sao, nhỡ đâu thai nhi có bề gì, hoàng huynh tự khắc sẽ thay tỷ đến hỏi tội ta.”
Câu nói này đã có sức nặng nghìn cân, bảo bọc trọn vẹn cho Tống Nùng, lại trao trả cho nàng ta tất thảy sự tôn nghiêm kính trọng.
Tống Nùng bàng hoàng thảng thốt nhìn trân trân vào Vương Trác Nghi, thế nhưng Vương Trác Nghi đã sớm dời tầm mắt, ngước đầu nhìn thẳng về phía Huyện chúa Quy Nhân mà vặn hỏi: “Quy Nhân, muội xị cái mặt ra đó làm cái trò gì thế?”
Huyện chúa Quy Nhân thốt nhiên chết trân tại chỗ, Trưởng công chúa Xương Bình thấy vậy liền vội vã lên tiếng đỡ lời thay con gái: “Nó khi nãy cứ nằng nặc đòi lên núi thưởng tuyết đêm, bản cung mới rầy la cho vài câu liền giở thói hờn dỗi không vui đó mà, Thọ Linh con cũng đừng chấp nhặt làm gì.”
Vương Trác Nghi nhàn nhạt buông câu: “Thắt lưng ta đau nhức khôn tả, thực sự không tài nào đi nổi, song cũng chẳng thể làm phụ lòng thành của mọi người đã cất công tới chúc thọ. Các người cứ tự nhiên đi đi, bấy giờ tuyết rơi đẹp lắm, phía trên Đình Dực Nhiên ta đã sai người chuẩn bị sẵn nồi lẩu cùng thịt rừng tươi ngon, bỏ trống nơi đó thì thật là quạnh quẽ tủi thân.”
Ai nấy có mặt tại đó thảy đều thừa sức nghe ra được, đây chính là lời hạ lệnh tiễn khách khéo léo của Vương Trác Nghi, bọn họ bèn lục tục thi lễ cáo lui, chẳng một ai dám nán lại thêm nửa bước.
Nơi Tố Cư biệt lập bên này, ánh mắt Tạ Nhân xuyên qua làn khói nước Phù Cừ Hải, trông thấy những dải đèn đuốc rực rỡ tựa rồng lượn đang ùn ùn đổ dồn về phía cổng vườn, y liền biết tiệc rượu trên lầu cao kia đã tạnh, bấy giờ cõi lòng mới khẽ buông lỏng đôi phần.
Y khẽ cúi đầu nhìn xuống dưới chân, chàng lúc này đang nằm phục trên nền đất lạnh, rệu rã bất động hệt như một bãi bùn nhão nhoét chịu trận.
