Chương 10: Có một thanh âm mơ hồ vang lên bên tai chàng: “Ngươi đáng đời lắm.”
*
Nơi Đông Phủ thành Lạc Dương, dải hành lang dài lung linh ánh nến vàng vọt.
Tống Nùng bước qua lớp lớp rèm lụa xanh thẫm, tiến về phía Huyền Nguyệt Đường. Đó là tẩm thất của Vương Hiến, hai bên đông tây đều có trắc đường phụ thuộc, phía tây treo biển “Lăng Vân”, phía đông là tấm biển “Vấn Lễ” do đích thân Vương Hiến đề chữ. Vương Hiến đang ngồi đọc sách trong Vấn Lễ Đường, hai vị Bảo lâm là Trương Du Tích và Hà Ngọc Tụ ngồi dưới bóng đèn cùng làm công việc kim chỉ; Trương Du Tích một tay tước chỉ, một tay chăm chút cho ấm trà thuốc đang đun trên bếp.
Hai người thấy Tống Nùng bước vào, vội vàng đặt kim chỉ xuống, đứng dậy hành lễ với nàng ta: “Lương đệ đã về rồi ạ.”
Tống Nùng hành lễ với Vương Hiến xong xuôi, bấy giờ mới đưa tay nâng hai người dậy, mỉm cười hỏi: “Hai muội đang thêu thùa vật gì thế?”
Trương Du Tích thưa: “Dạ, hai chị em muội muốn thêu cho Lương đệ một đôi hộ khố che đầu gối, cuộc săn tuyết ở Tây Sơn kia giá rét căm căm, Lương đệ tất phải tháp tùng Điện hạ đi cùng, thân thể đang lúc thai nghén không giống như trước kia, càng nên kỹ lưỡng kiêng cữ.”
Tống Nùng ngồi xuống bên cạnh Trương Du Tích, ngước mắt bảo với Vương Hiến đang ở phía sau bàn án: “Thiếp cũng đang định thưa với Điện hạ, cuộc săn tuyết ở Tây Sơn năm nay, thiếp xin phép không đi nữa.”
Vương Hiến hạ quyển sách xuống, vừa vặn bắt gặp một tia mong mỏi thoáng qua trên gương mặt của hai người Trương – Hà. Gã không biểu lộ thái độ gì, dời ánh mắt khỏi gương mặt hai nàng, hỏi vặn lại: “Nàng vẫn còn sợ Quy Nhân sao? Hay là chuyện năm xưa vẫn chưa quên được?”
Tống Nùng rủ hàng mi, trước mắt là đường kim mũi chỉ tinh xảo khôn bì của hai nàng. “Thiếp… chỉ sợ thân mình nặng nề, hầu hạ Điện hạ không được chu toàn.”
Vương Hiến nâng tay tiếp tục đọc sách, hờ hững bảo: “Nàng không dự tiệc, cô lại phải cất công giải thích với Tống Di.”
Tống Nùng mỉm cười thưa: “Anh trai thiếp vùi đầu vào công vụ, nào có để tâm đến những thứ này.”
Vương Hiến lại hỏi: “Nàng đã cáo lỗi với Thọ Linh chưa?”
Tống Nùng khéo léo đáp: “Dĩ nhiên là phải nói rồi ạ, song thiếp trước sau vẫn là người của Điện hạ.”
Vương Hiến nghe xong chẳng trách phạt mà lại bật cười, thanh tre của cuốn thư giản dưới ống tay áo rung lên sột soạt, gã hỏi vọng ra: “Nói thẳng trước mặt sao? Hôm nay nàng qua bên đó, đã gặp Thọ Linh rồi à?”
“Vâng, thiếp ở trên Lầu Minh Nguyệt đã cùng dùng bữa với Thọ Linh.”
Vương Hiến “Ừ” một tiếng, lại bảo: “Cô nghe người ta bẩm lại là Tống Di hộ tống nàng về. Sao hắn lại tới Minh Nguyệt Viên làm gì, là đi bái phỏng Tạ Nhân hay là đến kiến diện Thọ Linh?”
Tống Nùng thấy ngữ điệu của Vương Hiến thong thả, lại không có ý định đuổi hai người Trương, Hà lui ra, bèn tự nhiên cầm lấy giỏ kim chỉ, giúp Trương Du Tích gỡ một nùi chỉ rối, vừa làm vừa thưa chuyện với Vương Hiến: “Cũng chẳng phải tự anh trai thiếp muốn đi đâu ạ, là do Thọ Linh e ngại đường sá của thiếp khó đi, nên mới bảo huynh ấy tới hộ tống. Ồ, phải rồi.”
Tống Nùng cố ý ngập ngừng một chốc, đợi đến khi Vương Hiến hướng mắt nhìn về phía mình, mới tiếp tục thưa: “Thọ Linh còn bảo anh trai thiếp đem cái người của nhà họ Lý đi.”
Mày Vương Hiến giật nảy lên, nghi hoặc hỏi: “Người nào của nhà họ Lý cơ? Lý Nhược Lâm?”
“Vâng.”
Vương Hiến rốt cuộc cũng đặt quyển sách xuống, gặng hỏi: “Sao thế, muội ấy không thích Lý Nhược Lâm à?”
Tống Nùng mỉm cười lắc đầu: “Thiếp trái lại lại thấy hoàn toàn ngược lại.”
“Nói thế là sao?”
Sợi chỉ tơ trong tay Tống Nùng tước vừa nhanh lại vừa đều, Trương Du Tích chịu trách nhiệm quấn chỉ đã có phần không theo kịp tốc độ của nàng ta. Việc tay chân của Tống Nùng gãy gọn, mà lời thốt ra từ miệng cũng rành mạch rõ ràng: “Hôm nay Thọ Linh để cho hơn hai mươi đứa trẻ mà thiếp đưa tới cùng dùng bữa với thiếp. Trong lúc nàng đi thay y phục, thiếp đã tìm một cơ hội nói chuyện vài câu với Lý Thư Thường.”
“Ồ, có điều gì đặc biệt sao?”
Tống Nùng mỉm cười bảo: “Đúng là có một chuyện. Điện hạ còn nhớ vào ngày sinh thần của Thọ Linh, muội ấy từng đưa Lý Nhược Lâm tới Tố Cư chứ ạ?”
“Ừ.”
“Chính vào lúc ấy, Lý Nhược Lâm đã dùng một cây trâm cài tóc để hành thích Thọ Linh.”
Tống Nùng thưa một cách vô cùng thản nhiên, song Vương Hiến thì đã ngồi bật dậy: “Nàng nói cái gì cơ? Lý Nhược Lâm muốn giết Thọ Linh?”
Trương Du Tích và Hà Ngọc Tụ mặt mày ngơ ngác nhìn nhau, cả hai đều buông kim chỉ xuống.
Vương Hiến hồi tưởng lại tình cảnh trên tiệc sinh thần hôm ấy, tiếp tục bảo: “Hôm đó Thọ Linh trở lại tiệc rượu, thần sắc quả thực có phần gượng gạo, song vì chuyện nàng ngã thang, muội ấy lại vì che chở nàng mà bị thương, thành thử mọi người đều dồn hết vào chuyện của các nàng rồi.”
Tống Nùng đáp: “Vâng, thiếp khi ấy cũng chẳng thể lưu tâm.”
“Nguyên do Lý Nhược Lâm hành thích…” Vương Hiến nhíu mày khẽ gõ lên mặt bàn án, “Nàng có hỏi ra được không?”
Tống Nùng lắc đầu bảo: “Đây quả thực không phải chuyện mà Lý Thư Thường có thể thám thính ra được. Song khi ấy đã kinh động tới thị vệ, trong viên lâm người biết chuyện Lý Nhược Lâm hành thích Thọ Linh không phải là ít. Sau khi chúng ta rời đi, Tạ Nhân định đem Lý Nhược Lâm treo cổ ở Đồng Kính Đài, nhưng Thọ Linh đã ngăn lại, chẳng những xá tội cho Lý Nhược Lâm mà còn hạ lệnh phong tỏa tin tức này. Điện hạ nghĩ mà xem, nếu Thọ Linh không thích Lý Nhược Lâm thì lúc này hắn đáng ra đã là một cái thây ma rồi.”
Vương Hiến tay nắm cuốn thư giản trầm ngâm suy nghĩ.
Tống Nùng hạ giọng bình thản thưa: “Điện hạ, hắn đã muốn giết Thọ Linh, mà Thọ Linh lại chẳng thể xuống tay sát hại hắn, xem ra cái gã Lý Nhược Lâm này còn dễ dùng hơn cả Lý Thư Thường đấy ạ.”
Khóe miệng Vương Hiến khẽ giật nhếch lên, gã ghé người về phía Tống Nùng: “Hắn là Nhị công tử của nhà họ Lý, quanh năm suốt tháng ở chốn Tây Lũng, trước kia đến cả mắt của cô còn chẳng lọt nổi, về sau gia tộc mắc tội, hắn lại thủy chung bị Tiêu Duy Xuân tóm chặt trong tay, quả thực không dễ thao túng. Nay hắn đã trở thành nam sủng thân cận của Thọ Linh… thì biết kết giao ra sao đây?”
Tống Nùng bảo: “Cuộc săn tuyết ở Tây Sơn chính là một cơ hội tốt.”
“Nàng đã mở lối cho hắn rồi à?”
Tống Nùng gật đầu: “Thiếp mở lối rồi, song chẳng rõ hắn có nghe hiểu hay không thôi.”
Vương Hiến cười lớn: “Chẳng hề gì, nghe không hiểu thì đích thị là một gã ngu xuẩn, chúng ta cũng chẳng cần dùng tới nữa làm gì.”
Tống Nùng thưa: “Điện hạ anh minh.”
Vương Hiến tức thì bật cười rạng rỡ, nâng cuốn thư giản chỉ về phía Tống Nùng: “Cứ quyết định như thế đi, cuộc săn tuyết ở Tây Sơn vẫn do nàng tháp tùng cô đi cùng.”
Gã vừa dứt lời, ngọn lửa than dưới chiếc ấm sắt bỗng nhiên lụi tắt. Tống Nùng liếc nhìn Trương Du Tích và Hà Ngọc Tụ một cái, trông thấy ánh mắt của hai nàng như đốm lửa tàn lụi dần đi, trong lòng bỗng thấy nực cười, song lại tự thấy bản thân mình thật nhơ nhuốc tệ hại.
“Hai muội cùng đi cả đi.” Nàng ta quay sang bảo với Vương Hiến: “Thiếp thân mình nặng nề, cũng cần có người bầu bạn bên hông.”
Vương Hiến đứng dậy, một mình rảo bước về phía chính đường, vừa đi vừa cất tiếng gọi đầy tớ: “Truyền Thiếu phủ tới đây.” Dứt lời, gã quăng lại cho ba người phụ nữ một câu: “Cũng chẳng phải đại sự gì, các nàng cứ nghe theo Lương đệ mà làm chủ.”
Vương Hiến giao quyền làm chủ cuộc săn tuyết Tây Sơn cho Tống Nùng, còn người làm chủ trong Minh Nguyệt Viên lại chính là Tạ Nhân. Suốt khoảng thời gian tháng Giêng, Vương Trác Nghi liên tục vào cung hầu yến tiệc, đêm khuya đường sá ra khỏi thành không tiện nên nàng trực tiếp nghỉ lại tại phủ Công chúa ở Thọ Khâu Lí, chỉ có một mình Tạ Nhân là phải ngược xuôi hai nơi để lo liệu thu xếp.
Đối với đám tôi tớ tỳ nữ trong Minh Nguyệt Viên cùng hạng nam sủng như Lý Nhược Lâm mà nói, gặp được một người chủ tử như Tạ Nhân chắc chắn là một điều vô cùng may mắn. Y được thừa hưởng gia học truyền đời của Tạ thị, học Nho học lại kiêm tu cả Phật pháp Tịnh Độ tông, giỏi thanh đàm song lại luôn giữ vững chủ trương nhập thế làm quan. Điều quan trọng nhất là y biết đi đôi với hành, thậm chí còn cam lòng đem toàn bộ sự hàm dưỡng của bản thân ban phát cho đám thiếu niên đang làm ô uế thanh danh của y trong viên lâm này.
Ngày hôm ấy là ngày mồng sáu tháng Giêng, cách ngày tế lễ tông miếu chính đán của Tạ thị đã qua vài ngày. Tạ thị vì muốn nhân nhượng cho Tạ Nhân nên đặc biệt dời buổi tộc hội vốn thường tổ chức sau kỳ tế lễ lùi lại đến tận ngày mồng sáu. Năm nay gia tộc trùng tu tộc phả, các hộ đem những việc hệ trọng như sinh tử, cưới gả suốt mấy năm qua lên trình báo cho Tộc chính là Tạ Lâu. Tạ Nhân thay cha cầm bút ghi chép, mãi đến tận khi tộc hội sắp sửa vãn, Tạ Lâu đích thân lựa hương cho con trai mình, thuận mắt ngó qua dòng tộc dưới mạch của Tạ Nhân, cái tên Lý Thiện Ninh đã bị gạch bỏ, chỉ còn trơ trọi lại một đứa con gái côi cút là Tạ Tồn Ngọc, mà xem chừng lúc này đây đứa trẻ ấy cũng sắp lâm chung đến nơi rồi.
Người chị gái của Tạ Nhân là Tạ Đông Văn đứng bên cạnh buông tiếng thở dài: “Ta đã bảo với đệ từ năm xưa rồi, không nên dung túng cho Lý Thiện Ninh dắt con bé Ngọc Nhi đi làm gì, nếu nó còn ở trong nhà chúng ta thì đâu đến nỗi như thế này cơ chứ. Thuở ấy nàng ta cứ nhất mực đòi cái thể diện hão huyền này, dày vò đệ để đổi họ cho Ngọc Nhi, đưa tên con bé vào trong tông từ của nhà họ Lý. Nay thì hay rồi, cái tông từ của nhà họ Lý còn sắp sửa tan tành đến nơi, nàng ta…”
“Đủ rồi.” Tạ Lâu khẽ ho khan một tiếng, “Đang buổi tháng Giêng, con về nhà mà chẳng biết kiêng cữ lời ăn tiếng nói gì cả.”
Nói đoạn, ông ra hiệu cho Tạ Nhân đặt bút xuống, gọi y lại gần bên người rồi bảo: “Nay người của Lý thị chết ra sao cũng chẳng bận lòng, có điều cái phiên kho ở Tây Lũng thì vẫn đang để không ở đó… Ôi, Hàn Châu đã chịu đại hạn gần ba năm trời rồi, người chết vô số kể, mắt thấy dịch bệnh sắp sửa hoành hành đến nơi. Cái gốc rễ của Tống thị dẫu ở gần Hàn Châu, ta đã ra sức khuyên can họ bao bấy lâu nay, song họ vẫn nhất quyết không chịu bỏ bạc phát lương cứu tế. Ý của ta là, cái khoản mục Tây Lũng kia nếu có thể dời vào trong nha môn Độ Chi Tào của con, thì hai cha con ta sẽ dốc hết toàn lực để bảo toàn cho vùng Hàn Châu này.”
Tạ Nhân vâng lời: “Phụ thân dạy chí phải.”
Tạ Lâu vuốt râu, trầm ngâm suy nghĩ một chốc rồi lại gặng hỏi: “Theo như con thấy, nếu để Tiêu Duy Xuân kiểm kê áp vận giải ngân, Công chúa Thọ Linh sẽ giữ lại bao nhiêu phần?”
Tạ Nhân thưa: “Nàng đã bảo với con rồi ạ, ba phần, dùng để sung vào làm quân phí xứ Tây Lũng.”
“Ừ.” Tạ Lâu gật đầu, “Thế nếu là Thái tử kiểm toán áp vận thì sao? Có thám thính được tin tức gì không?”
Tạ Nhân lắc đầu bảo: “Thái tử và Tống thị dẫu thâm hậu, song hắn lại không tin tưởng Tống Di, thành thử trước mắt chưa dò hỏi ra được.”
Tạ Lâu bảo: “Chẳng cần nghĩ cũng biết, có thể chừa lại cho quốc khố được một phần thôi thì đã là may mắn lắm rồi.” Nói đoạn, ông vỗ vỗ lên vai Tạ Nhân một cái: “Hãy hầu hạ Công chúa Thọ Linh cho thật tốt.”
Tạ Nhân chắp tay: “Nhi tử đã rõ.”
Tạ Đông Văn đứng bên cạnh không kìm được tiếng than: “Cái tết này còn ra cái thể thống gì nữa chứ.”
Tạ Nhân thấy chị gái không vui, bèn mỉm cười dỗ dành nàng: “Tỷ tỷ đã xuất giá, còn đệ thì hầu hạ Công chúa, hiếm hoi lắm chị em mình mới gặp nhau một bận, tỷ đảo chẳng cần phải vì chuyện của đệ mà u sầu làm gì. Đợi đệ hạ nốt nét bút ghi chép này xong xuôi, đệ sẽ cùng tỷ tỷ qua bên Thọ Khâu Lí dạo chơi một chuyến.”
Tạ Đông Văn buông một tiếng thở dài: “Ta chỉ đang nghĩ xem bao giờ đệ mới có thể cùng Công chúa Thọ Linh sinh được một…” Nói đến đây, nàng cũng có phần không thể thốt tiếp thành lời, đành cười khổ bảo: “Ta đã xuất giá không còn là người của nhà họ Tạ nữa thì chớ, vậy mà ngay đến đệ giờ đây cũng chẳng ra dáng người của nhà họ Tạ nữa rồi. Trong lòng ta thật chẳng rõ là cái mùi vị gì nữa. Chỉ đành tự nhủ cái thân phận thiên gia thật tốt biết bao, đến cả phận nữ nhi nhà người ta mà cũng có thể đem tên họ của đệ viết xuống dưới huyết mạch của nàng ta.”
Buổi tộc hội vốn đang nhộn nhịp bỗng chốc bị trận lời này của Tạ Đông Văn dội cho một gáo nước lạnh ngắt. Tạ Nhân hiểu rõ bản thân mình không nên lưu lại lâu trong nhà, bèn nhân tiện tiễn Tạ Đông Văn về phủ mà sớm cáo từ lui ra.
Sau khi đưa chị gái về đến nơi, trời đất hãy còn sớm, song vì đã xin nghỉ phép nên y cũng thực chẳng muốn đến trước mặt Vương Trác Nghi để khúm núm giữ lễ nghĩa. Y ngồi xe ngựa đi dạo quanh Thọ Khâu Lí vài vòng, mua mấy tấm da thú thượng hạng, song cũng thấy chẳng có vị gì; sực nhớ ngày mai là mồng bảy, ấy là ngày Nhân Nhật, cần phải chuẩn bị món cháo bảy màu, nay Vương Trác Nghi không có ở đây, việc trong Minh Nguyệt Viên tự nhiên cứ tùy nghi mà thu xếp cho tiện, liền bảo phu xe quay ngoắt đầu ngựa trở về.
Về tới viên lâm, Tạ Nhân ở trên một ngôi đình hóng mát ghé sát mặt nước bên bờ hồ Phù Cừ đem “bảy loại rau” bày ra, bảo đám tôi tớ tỳ nữ lựa chọn, lại hạ lệnh cho Ngô Doanh mở cửa Đồng Kính Đài, dắt bọn người Lý Nhược Lâm tới trong đình.
Ngày hôm ấy gió lặng trời quang, dẫu đã qua giờ Ngọ song vẫn có ánh nắng xuân ấm áp nhẹ nhàng chiếu rọi. Ngôi đình bên nước này nằm sát bên Thanh Phong Lầu vốn là nơi tàng trữ sách vở, Tạ Nhân sai người xuống lấy hai cuốn sách ‘Nhĩ Nhã’ và ‘Mạnh Tử’ lên, ngồi giữa đám đông mà mở cuốn thư quyển ra thong thả giảng giải chuyện xưa.
Lý Nhược Lâm thui thủi một mình, đứng trơ trọi dưới thềm đá bên ngoài ngôi đình. Chàng vẫn đang suy ngẫm về trận lời mà Tống Nùng đã nói với mình lúc nãy: “Cuộc săn tuyết ở Tây Sơn ngươi chẳng có phần, cả đời này ngươi sẽ bị giam hãm trong cái viên lâm này thôi. Thế nhưng ngươi cũng là xuất thân thế gia, chẳng lẽ ngươi không có lấy một chút tâm tư muốn lọt vào mắt xanh của các bậc quý nhân đất Lạc Dương sao?”
Quý nhân chốn Lạc Dương, ngoại trừ Vương Trác Nghi ra thì còn có hai vị nữa, một người là bào tỷ của Thiên tử – Trưởng công chúa Xương Bình, còn một người nữa chính là Thái tử Vương Hiến rồi. Thế nên thứ mà Tống Nùng muốn chàng lọt vào mắt xanh chính là của Thái tử Vương Hiến.
Lý Nhược Lâm nhíu chặt đôi mày, thầm nghĩ trong lòng cũng đúng thôi, hai anh em nhà hoàng gia này ngoài mặt trong tối tranh quyền đoạt lợi ở đất Lạc Dương suốt bao nhiêu năm trời, có ai mà không muốn cắm một cây kim vào bên hông đối phương cơ chứ. Chàng nay đã ở lại bên cạnh Vương Trác Nghi, hoàn toàn có thể trở thành một cây kim của Vương Hiến, rồi để cho Vương Hiến biến thành một thanh đao trong tay chàng. Thế nhưng, chàng đến cả cửa Minh Nguyệt Viên còn chẳng bước ra nổi, thì biết làm cách nào mới lọt được vào tầm mắt của Vương Hiến đây?
Lý Nhược Lâm một lần nữa hồi tưởng lại lời của Tống Nùng, sực nghĩ đến “cuộc săn tuyết ở Tây Sơn”. Cuộc săn tuyết Tây Sơn ở kiếp trước diễn ra ngay sau tháng Giêng, vì cớ gì chàng lại không thể đi tháp tùng cho được?
Lý Nhược Lâm còn đang mải miết suy tư thì bỗng nghe thấy Tạ Nhân cất tiếng hỏi chàng: “Ngươi thấy ta giảng giải có phần nông cạn quá chăng? Sao cứ đứng mãi ở chỗ đó mà không chịu bước vào đây.”
Làm sao mà nông cạn cho được? Lý Nhược Lâm đã suốt mười năm ròng rã, chưa từng được đọc, chưa từng được viết lấy một chữ bẻ đôi nào rồi.
Nghĩ đến đây, trong lòng chàng bỗng nhiên nổ vang lên một tiếng sấm rền, chợt nhớ ra ở kiếp trước vì sao mình lại lỡ mất cuộc săn tuyết ở Tây Sơn. Năm Kiến Nguyên thứ bốn mươi ba, ngày mồng sáu tháng Giêng, chính là ngày hôm nay đây, chàng đã phải lĩnh một trận đòn roi thừa sống thiếu chết từ Vương Trác Nghi, suốt một tháng trời ròng rã không thể lết nổi ra khỏi giường.
Ngày hôm nay của kiếp ấy, chàng bị giam lỏng trong Tố Cư, buồn bực vô cùng. Lúc hoàng hôn buông xuống, Tạ Nhân bước vào Tố Cư, đem một bức họa mang tên “Tây Sơn Tập Yến Đồ” của Công chúa Thọ Linh treo ở trong phòng. Bức họa ấy là do đích thân Vương Trác Nghi vẽ bùa họa nét, trên tranh bên hông Lầu Minh Nguyệt các bậc quý nữ quần tụ đông đủ, mà dưới chân Lầu Minh Nguyệt thì đang quỳ rạp chàng cùng hơn hai mươi đứa thiếu niên niên thiếu kia.
Vương Trác Nghi vẽ lối tả ý truyền thần khôn tả, chàng chỉ cần liếc nhìn một cái liền nhận ra ngay chính bản thân mình. Chàng chăm chú ngắm nhìn bức họa ấy hồi lâu, mượn tranh mà làm thành một bài phú, cuối cùng đặt bút viết lại trên mặt bàn án ở Tố Cư. Đêm hôm ấy chàng túc trực bên bậu bàn để hầu hạ Vương Trác Nghi, mãi chẳng thấy Vương Trác Nghi quay đầu lại nhìn mình, bất giác ngủ thiếp đi bên bàn án. Nào ngờ đâu giữa cơn mộng mị chàng bỗng bị người ta một tay lôi phắt dậy, đến khi tỉnh táo lại thì đã bị lôi tuột tới trước mặt Vương Trác Nghi. Vương Trác Nghi bấu chặt lấy cằm chàng, trong tay nàng chính là bài ‘Tây Sơn Phú’ đã bị vò cho nhàu nát tự bao giờ.
“Điện hạ…”
“Ngươi lại có tâm tư dã tâm gì rồi hả?” Nàng dứt lời liền thẳng tay giáng cho chàng một cái tát trời giáng, rồi đem bài phú văn ấy tàn nhẫn ném thẳng vào trong chậu than đang rực lửa.
Vương Trác Nghi của thuở ấy điên cuồng dữ tợn, căm phẫn tột cùng, đôi mắt ngập tràn ngọn lửa giận soi rọi cùng ánh lửa thiêu đốt trang giấy trong chậu than, hận không thể đem chàng băm vằn vặt thành muôn mảnh tro tàn.
“Ngươi rốt cuộc muốn làm cái trò gì hả?!”
“Không có… tiểu nhân không có…” Chàng hoảng hốt luống cuống không biết phải làm sao, chẳng rõ bản thân mình đã phạm phải lỗi lầm gì, chỉ biết một mực hướng về phía Vương Trác Nghi mà van xin tha mạng. Thế nhưng đáp lại chàng lại là những ngón tay ngày một bấu chặt hơn của Vương Trác Nghi, móng tay thuôn dài găm sâu vào da thịt, khiến chàng bất giác phải quằn quại vặn vẹo cả thân người.
“Điện hạ… đau quá…”
“Đau thì ngươi cứ việc đi chết đi!”
Lý Nhược Lâm về sau mới ngẫm nghĩ, thực ra nếu bản thân mình bỏ mạng ngay trong cái đêm hôm ấy thì có khi lại hay, ít nhất thì chàng sẽ chẳng phải nếm trải suốt mười năm trời chết lặng như tờ về sau nữa. Thế nhưng Vương Trác Nghi đâu có dễ dàng buông tha cho chàng như vậy.
Nàng hạ lệnh cho thuộc hạ lôi tuột Lý Nhược Lâm ra bên ngoài Tố Cư, tay chân của chàng thảy đều bị trói chặt lại, những cây roi gai ngâm nước chẳng một chút nương tay mà xé toạc tấm áo ngủ trên người chàng ra.
Vương Trác Nghi đứng sững trên thềm bậc, hai bàn tay nắm chặt vào nhau, đôi mắt đỏ hoe ngập tràn ánh nhìn căm phẫn. Nàng lắng nghe tiếng roi gai quất xuống xé thịt da cùng tiếng la hét thảm thiết đến khản đặc cả giọng của Lý Nhược Lâm, thế mà lại run rẩy ôm chặt lấy chính bản thân mình, rồi chậm rãi quỳ sụp xuống dưới ánh trăng lạnh lẽo bạc phếch.
Nàng đang run rẩy bần bật, dường như còn đang khóc nấc lên nữa. Thế nhưng nàng rốt cuộc đang căm phẫn vì cái nỗi gì cơ chứ? Lại đang đau buồn vì chuyện gì? Hay là chính bản thân nàng cũng đang vô cùng sợ hãi?
Lý Nhược Lâm có nghĩ thế nào cũng chẳng thể thấu tỏ nổi.
Sau khi hình phạt kết thúc, chàng đau đớn đến mức quằn quại thành một khóm dưới chân thềm, toàn thân co giật bần bật hướng mắt nhìn về phía Vương Trác Nghi, mưu cầu tìm kiếm từ trong ánh mắt của nàng lấy một tia câu trả lời dù là nhỏ nhặt nhất. Ngay vào khoảnh khắc ấy, chàng tự thấy bản thân mình sao mà đê tiện rẻ rúng đến thế, chàng đã thảm hại đến nước này rồi, vậy mà sâu thẳm trong tim lại có một thanh âm mơ hồ vang lên bảo chàng rằng: “Ngươi đáng đời lắm.”
