Chương 11: Dãy Thanh Khâu, đã xa rồi.
*
Xuân Quy bị con hươu nhỏ húc tỉnh, liên tiếp ba ngày như thế. Cô mở mắt, thấy chú nai đứng bên đầu giường, mắt tròn xoe nhìn cô đòi nước uống. Khi rời khỏi rừng, con hươu nhỏ cũng không thoải mái, hôm qua cô định đưa nó về núi nhưng Xuân Quy vừa quay lưng đi, đến chỗ y quán cô ngoảnh đầu lại, con hươu nhỏ vẫn theo sau, rõ ràng là không muốn đi.
Cho hươu uống nước xong, cô liền đi thăm bà lão. Bà lão dưỡng bệnh mấy ngày, cuối cùng đã khá hơn đôi chút. Thấy Xuân Quy vào, bà cười và đưa tay ra: “Con đến đây.”
Xuân Quy đi đến, tựa vào vai bà, hơi ấm của bà khiến Xuân Quy cảm thấy vô cùng ấm áp.
“Xuân Quy, bà hỏi con, ngày đó con nói không về núi nữa, có phải vì bà không?” Bà lão đã suy nghĩ mấy ngày, Xuân Quy sớm muộn cũng phải xuống núi, không thể để cô ở trên núi mòn mỏi với bà như vậy được. Bà tuổi đã cao, còn sống được mấy năm nữa? Nếu bà có mệnh hệ gì thì Xuân Quy một mình trên núi, chẳng phải sẽ trở thành đứa trẻ hoang dã sao?
“Không phải.” Xuân Quy lắc đầu, nói: “Đồ ăn, đồ dùng.” Ý cô là đồ ăn, đồ dùng dưới núi đều tốt hơn trên núi, bà lão có thể hiểu, nhưng bà biết, Xuân Quy không phải vì những thứ này, nói cho cùng vẫn là vì bà.
“Nếu chúng ta ở dưới núi, con sẽ không được tự do như ở trên núi. Con có nguyện vậy không? Người dưới núi, có người tâm thiện, nhưng có người tâm ác, con có sợ không?”
“Nguyện, không sợ.”
Bà lão vỗ vỗ đầu cô rồi lấy từ thắt lưng ra một túm vải gai, từng lớp từng lớp mở ra, bên trong là một chiếc vòng ngọc bích lóe lên ánh sáng dịu nhẹ.
Chỉ thấy chiếc vòng ngọc bích gần như trong suốt, không pha chút tạp chất nào, tròn trịa trong sáng.
“Đẹp quá.” Xuân Quy ngồi xổm bên giường, cẩn thận cầm chiếc vòng lên, tỉ mỉ ngắm nhìn: “Bà lão, đẹp quá.” Cô không ngờ bà lão còn có món đồ đẹp như vậy.
“Ừm.” Bà lão nhìn chiếc vòng, trong mắt thoáng qua cảm xúc khó tả, bao năm mang bên mình, bà hiếm khi mở ra xem. Bốn mươi năm đã trôi qua, có những người có lẽ sẽ không bao giờ trở lại.
Bà đứng dậy, xin thầy lang hai bộ xiêm y của phụ nữ, cho mình và Xuân Quy thay. Hai bà cháu bỗng nhiên làm sáng bừng cả y quán. Thầy lang đi vòng quanh họ hai vòng, miệng chậc chậc vài tiếng rồi quay đi bào chế thuốc.
Bà lão dẫn Xuân Quy đi ra ngoài, những người đối diện thấy họ thì chỉ trỏ bàn tán. Xuân Quy hơi co rúm lại, bám sát bên bà lão. Lòng tự trách của bà lão lại sâu thêm, bà nắm lấy tay Xuân Quy: “Đã định sống ở trấn này thì không thể sợ người trấn này, họ nhìn con, con cứ nhìn lại, đừng sợ.” Xuân Quy gật đầu, thấy có người nhìn mình, cô liền nhanh chóng cúi đầu. Cô lại nhớ ra bà lão bảo phải nhìn lại bèn lập tức ngẩng đầu với vẻ mặt hung dữ nhìn lại. Kỳ lạ thay, Xuân Quy vừa nhìn lại, người đó liền dời mắt đi.
Xuân Quy cười khúc khích: “Bà lão, hiệu quả lắm.”
Hai người đi đến một tiệm nhỏ, bà lão nói với Xuân Quy: “Con đứng đây đợi bà.”
Xuân Quy gật đầu, đứng bên ngoài đợi bà lão. Người trên phố vẫn nhìn cô, cô vừa học được một chiêu từ bà lão, người khác nhìn cô, cô liền trợn mắt nhìn lại, những người đó đều nhanh chóng quay đi. Chỉ có một người nhìn cô một cái, cô trợn mắt, người đó bật cười. Xuân Quy chợt nhớ đến Yến Khê, trong lều cỏ, chàng nằm trên chiếu nhìn cô, cô trợn mắt với chàng hai lần, chàng cũng bật cười.
Mắt Xuân Quy hơi đỏ. Người đó tưởng mình làm cô phật ý, đứng cách một con đường cúi người thi lễ, ngược lại làm Xuân Quy bật cười. Thấy Xuân Quy cười, người đó mới an tâm, vẫy vẫy cuốn sách trong tay, coi như chào tạm biệt.
Bà lão đi ra, giơ giơ túi vải nhỏ trong tay: “Bà đưa con đi ăn đồ ngon.” Hai người đi một vòng quanh trấn Vô Diêm, cuối cùng chọn một tòa nhỏ hai lầu. Lên lầu ngồi bên cửa sổ, vừa hay nhìn thấy thuyền bè qua lại trên sông.
“Xuân Quy, bà nghĩ chúng ta muốn an cư ở trấn Vô Diêm thì cần phải có công việc. Bà biết làm mì, hay là chúng ta tìm một chỗ bán mì nhé?”
Xuân Quy vừa nghe nói bán mì liền vội vàng gật đầu. Trước đây chỉ vào dịp lễ tết mới được ăn mì của bà lão, nếu mở tiệm mì, chẳng phải là có thể ăn mỗi ngày sao? Thật tuyệt. Mắt cô cười thành vầng trăng khuyết. Bà lão véo véo má cô, hai người cúi đầu ăn, không nói thêm gì nữa.
Trở về y quán, họ nói với thầy lang về việc mở tiệm mì, thầy lang vuốt bộ râu của mình, gật đầu tán thành, rồi chỉ chỉ cửa chính: “Hừm, trấn Vô Diêm thuộc đất trước cửa ta, không ai quản. Hai bà cháu cứ dựng một căn lều ở phía tây đi.”
Bà lão nhìn qua, y quán người ra kẻ vào, thầy lang lại có tiếng tăm ở trấn Vô Diêm, mở tiệm mì trước cửa ông sẽ thuận lợi hơn nhiều, bà bèn gật đầu: “Thuê chỗ này cần bao nhiêu bạc?”
“Chuyện này…” Thầy lang vuốt râu, nghiêm túc suy nghĩ: “Mỗi ngày ba bát mì hai bà cháu lo.”
“Chỉ vậy thôi?”
“Chỉ vậy thôi!”
“Được.” Bà lão không muốn khách sáo với thầy lang, ngay cả một lời cảm ơn cũng không nói, bà xé một miếng vải rách quấn quanh thắt lưng rồi quay người vào nhà bếp nhỏ. Xuân Quy thích ngửi mùi thảo dược nên đã đi theo thầy lang bốc thuốc.
Cô đứng bên cạnh thầy lang không nói gì, vươn cổ tập trung nhìn. Thầy lang nhìn cô rồi cầm một loại dược liệu đưa cho cô: “Đây là gì?”
Xuân Quy cầm lên, đặt dưới mũi ngửi: “Khương hoạt.”
“Còn cái này?”
“Kinh giới.”
“Quế chi.”
“Sài hồ.”
“Thiên hoa phấn.”
“…”
Những thảo dược này hoàn toàn khác với những gì Xuân Quy hái trên núi, nhưng cô có thể ngửi ra mùi, cơ bản đoán đúng tám chín phần. Khóe miệng của thầy lang khẽ giật, cô gái này quả thật có thiên phú. Đáng tiếc ít nói quá, nhìn cứ như không thông minh vậy. Ông đặt dược liệu trong tay xuống, chống hai khuỷu tay lên bàn gỗ phía trước, ông nghiêm túc hỏi Xuân Quy: “Xuân Quy, cô có thích mùi của những dược liệu này không?”
Xuân Quy vội vàng gật đầu: “Thích.”
Khi hái thuốc trên núi, cô thường đặt dưới mũi ngửi mạnh, đôi khi còn bỏ vào miệng nếm một chút, nhưng chưa từng xảy ra chuyện gì.
“Vậy cô có biết những dược liệu này, mỗi loại có công dụng gì không?”
Xuân Quy lắc đầu.
Thầy lang mỉm cười: “Vậy mỗi ngày ta dạy cô một loại được không? Như vậy sau này cô có thể chăm sóc bà lão, chữa bệnh đơn giản cho bà.” Nói nghe rất hay nhưng thực ra là muốn lừa một đệ tử.
Thầy lang già thực sự là ai, không ai biết. Mọi người chỉ biết trấn Vô Diêm có một thần y, dường như du lịch đến từ nơi khác, thích trấn Vô Diêm nên đã bén rễ ở đây. Thực ra thầy lang già họ Tiết, một họ hiếm ở Đại Tề, ngự y của Đại Tề đều họ Tiết. Về thân thế của ông, ông không nói, người ở trấn Vô Diêm cũng không hỏi, có bệnh gì thì đến chỗ thầy lang già bốc thuốc, thuốc đến bệnh trừ; nếu thầy lang già không chịu bốc thuốc thì cứ mang y phục chỉnh tể, về nhà ngồi trên ván quan tài chờ chết.
Ông chưa từng nhận đệ tử, có một số dân trong trấn đưa con đến chỗ ông, muốn bái sư, ông đánh giá người ta một lượt, nói hai câu rồi đuổi người ta đi. Dần dà cũng không ai đưa con đến nữa. Thầy lang Tiết nhận đệ tử có kén chọn, trước tiên nhìn mắt, một đôi mắt trong trẻo thẳng thắn, từ mắt quan sát tâm. Nói trắng ra, hành y là đức lớn, cứu tử phò thương là thiện lớn, người có tạp chất trong mắt làm không được; nhìn mắt xong, ông lại hỏi về y lý, chỉ có thiện lương thôi chưa đủ mà còn phải có thiên phú.
Xuân Quy này, thầy lang Tiết đã ưng ý.
Hãy nhìn người con gái này xem, cô mặc một bộ váy đơn sơ, đứng trước hàng ngăn kéo nhỏ, kéo cái này ra ngửi, kéo cái kia ra ngửi, tự động báo tên thuốc, tự chơi một mình, thầy lang Tiết mỉm cười.
Hai người ngâm mình trong căn phòng này rất lâu, thầy lang thỉnh thoảng nói với Xuân Quy vài câu, ví dụ như xương bồ tử này, trừ phong khử thấp, dùng cho phong thấp tê đau, phong chẩn ngứa ngáy; trần bì này, hành khí hóa trệ. Ông thỉnh thoảng nói, Xuân Quy thỉnh thoảng lắng nghe, một lúc sau thầy lang Tiết lại hỏi cô ông nói gì, Xuân Quy trả lời bằng vài từ ngắn gọn. Quả nhiên không sai.
Bà lão nấu xong cơm trong bếp nhỏ, đến gọi họ ăn. Thấy Xuân Quy cúi đầu trong một ngăn kéo, không biết đang mày mò gì. Bà vừa định mở miệng thì bị thầy lang Tiết chặn lại.
Thầy lang Tiết hắng giọng: “Ta thấy Xuân Quy thiên phú khác thường, muốn nhận làm đệ tử.”
“Đại Tề không có nữ tử hành y.”
“Trấn Vô Diêm có là được.”
“Tùy ông.” Miễn là Xuân Quy vui lòng.
Ba người ngồi quanh bàn nhỏ ăn cơm, thầy lang Tiết là người thích uống rượu. Trong chén rượu nhỏ của ông là rượu thuốc do ông tự ngâm, nếm một miếng thịt chân giò do bà lão làm, chậc chấc, tay nghề không giảm so với năm xưa. Một miếng thịt thì một ngụm rượu, uống thật ngon lành. Xuân Quy chưa từng uống rượu, cô liếc nhìn chén rượu nhỏ của ông nhiều lần.
“Không được uống.” Bà lão phát hiện ánh mắt của cô, lên tiếng cảnh báo.
“Sao lại không được uống? Những cô gái bên ngoài như Xuân Quy đã biết đối ẩm rồi.” Thầy lang Tiết không thích bà lão quản giáo Xuân Quy quá nghiêm, ông quay người lấy một chén rượu nhỏ rót một chút rượu đặt trước mặt cô: “Nếm thử đi. Đời người ngũ vị, rượu là vị cay.”
Lại rót cho bà lão một ly: “Nào, ngàn chén không say.” Ông nhớ ra bà lão chưa khỏi hẳn nên đổ ly rượu đó vào miệng mình.
Xuân Quy nhìn thầy lang Tiết rồi lại nhìn bà lão, cô học theo thầy lang Tiết ngửa cổ uống cạn, rượu cay vào cổ họng, ôm ngực ho mãi, nước mũi nước mắt tèm lem cả mặt. Cô chép chép miệng, thấy không đến nỗi khó uống lại đưa chén rượu cho thầy lang Tiết: “Còn muốn nữa.”
Rốt cuộc là lần đầu uống rượu, ba chén vào bụng, mặt cô đã đỏ bừng. Tựa như hoa mai nở trong mùa đông trên dãy Thanh Khâu, yêu kiều thướt tha.
“Bà lão, buồn ngủ.” Cô đứng dậy đi về phòng ngủ của mình, bước đi loạng choạng, va chạm kêu leng keng dọc đường.
Vào phòng ngủ, cô còn biết đóng cửa lại. Cô nằm trên giường, thấy nóng không chịu nổi bèn cởi xiêm y rồi cởi áo yếm, cởi trần trụi sau đó chui vào chăn, trước khi nhắm mắt cô còn nói một câu: “Thoải mái.”
Một giấc này, không biết đêm nay là năm nào.
Dãy Thanh Khâu, đã xa rồi.
