Chương 3: Viếng tang
*
Theo quốc chế, Diêu Vận Tu qua đời, đồng liêu trong kinh đều phải đến thăm viếng điếu tang, an ủi tang quyến nén đau thương. Ngụy Cảnh Chi đợi khoảng bốn năm ngày sau, tan buổi bãi triều buổi sớm liền ngồi quan kiệu, dọc đường lắc lư tiến thẳng về hướng Diêu phủ.
Diêu phủ lúc này trên xà nhà, biển bảng đều quấn đầy vải đen lụa trắng, đèn lồng trắng treo cao. Nô bộc đứng trước cửa ngoài, phát áo tang và đai trắng cho khách. Ngụy Cảnh Chi tùy ý khoác áo thắt đai rồi bước qua bậu cửa tiến vào. Chàng chưa từng đặt chân đến nơi này, nghĩ bụng Diêu lão cẩu cuối cùng cũng chết rồi, không khỏi nhếch môi, tinh thần sảng khoái, cả người nhẹ nhõm vô cùng.
Diêu phủ chẳng qua cũng chỉ là một căn nhà ba tiến, nửa mới nửa cũ, đường lát đá xanh, cột trụ bạc màu sơn, tường vôi bám rêu, trong vườn cũng chẳng có hoa quý cây hiếm, chỉ trồng vài nhành cỏ dại hoa dại mà thôi. Đi ngang qua rạp dựng tạm, bên trong bày biện bàn ghế cho các quan viên sau khi phúng viếng xong ngồi ăn chay nghỉ ngơi. Nhìn lướt qua trên bàn chỉ thấy ba đĩa bốn bát toàn trà thô cơm nhạt, Trình Nguyên Huy mỉm cười nói: “Diêu Vận Tu này đúng là thanh liêm thật.”
Diêu Nghiên chuyên trách việc ghi chép lễ vật và đón khách, thấy Ngụy Cảnh Chi, Cao Diệu, Giả Ứng Xuân, Trình Nguyên Huy, Trương Tốn, Bùi Như Lâm cùng nhau kéo đến, cậu vừa hận vừa sợ, nhưng vẫn cố trấn tĩnh, thu nhận tiền phúng viếng cùng bàn lễ tam sinh, chắp tay tạ ơn rồi cầm bút ghi chép lại.
Ngụy Cảnh Chi liếc nhìn cậu vài cái, thấy cậu nhóc này dung mạo thanh tú, chữ viết cũng đẹp, nhưng thiếu niên vẫn còn non nớt quá, kiếp sau đầu thai nhớ chọn chỗ cẩn thận hơn.
Hai lão bộc túc trực tiếp khách dẫn họ đi vào linh đường.
Ngụy Cảnh Chi lại bị Diêu Nghiên chặn đường, chàng cao ngạo liếc nhìn xuống: “Có chuyện gì?”
Diêu Nghiên vái một vái thật sâu, mặt đỏ gay nói: “Ngụy đại nhân, Lã tiên sinh ở học chính Quốc Tử Giám đã đình chỉ việc học của tiểu sinh…”
Ngụy Cảnh Chi kiêm chức Tế tửu Quốc Tử Giám, chưa nghe hết đã trực tiếp ngắt lời: “Cậu đã vượt cấp rồi, đáng ra phải chịu mười gậy, nể tình trong phủ đang có tang sự, ta tạm thời không phạt cậu.” Nói đoạn, chàng phẩy tay áo bỏ đi.
Trong linh đường, Diêu Diên mặc một thân đồ tang, quỳ đến mức mỏi nhừ cả chân, nàng vừa đứng dậy bên bàn tế thì thấy một nhóm quan viên đi tới, đành phải cúi đầu khép nép đáp lễ khóc tang. Mấy bà ma ma hầu hạ trước linh sàng, đưa hương và tiền vàng, khơi lại hỏa lò.
Bùi Như Lâm tiên phong đi tới trước linh sàng đốt giấy tiền, lạy hai lạy. Diêu Diên đứng trước mặt hắn nhún người hành lễ, Bùi Như Lâm nhìn chằm chằm đến ngẩn ngơ, bị Cao Diệu đẩy một cái mới sực tỉnh, lùi sang một bên, thì thầm với mấy người kia: “Lạ lùng thật đấy, đúng là ‘muốn đẹp thì thêm tang phục’, bạc trắng tinh khôi thế này mà lại hút hồn người hơn cả sắc sặc sỡ diễm lệ.”
Cao Diệu đấm cho hắn một cú: “Huynh đến đây phúng viếng hay đến để ngắm gái đẹp đấy?”
Bùi Như Lâm lý sự cùn: “Đừng nói mình ta, huynh cứ nhìn đám quan viên kéo đến đây mà xem, hoặc là bị quốc chế ép buộc, hoặc là để giữ thể diện, hoặc là vì hả hê trên nỗi đau của người khác, hay chủ yếu là để nhìn thấy mỹ nhân, thử hỏi có mấy kẻ mang theo lòng thành chân chính mà tới?”
Trương Tốn đốt giấy xong, mắt dán chặt vào Diêu Diên, tỏ vẻ vô cùng hiền hậu nói: “Người chết như đèn tắt, vạn niệm đều thành tro bụi, Diêu tiểu thư chớ quá đau lòng. Ta và lệnh phụ cùng làm quan trong triều, giao thiệp nhiều năm, sớm đã tâm đầu ý hợp, chẳng có chuyện gì là không nói với nhau.”
Diêu Diên hiếm khi nghe thấy người ta nói như vậy, ngẩng đầu nhìn ông ta, mũi sực cay, nước mắt tuôn rơi.
Trương Tốn đưa tay vỗ vỗ vai nàng, giọng điệu càng thêm ôn tồn: “Ta họ Trương, giữ chức Binh bộ Thượng thư, phủ đệ ở An Định Môn, sau này nếu nàng có gặp khó khăn gì cứ việc đến tìm ta, ta nhất định sẽ dốc sức tương trợ.”
Diêu Diên lập tức sống lưng cứng đờ, lùi lại hai bước, cúi đầu im lặng.
Trương Tốn mỉm cười đi tới bên cạnh Bùi Như Lâm, Bùi Như Lâm hỏi: “Ngài lề mề trước mặt Diêu tiểu thư, đã nói cái gì thế?”
Trương Tốn không đáp, chỉ chép miệng hai tiếng: “Cái dáng vẻ hoa lê đẫm mưa thế kia, quả thực khiến người ta không cầm lòng được mà thương xót.”
Giả Ứng Xuân, Trình Nguyên Huy đốt giấy xong vừa rời đi, Ngụy Cảnh Chi mới chậm rãi bước lên. Chàng tự nhiên chẳng có chút chân tình thực ý nào, chỉ thắp ba nén hương, giấy cũng không thèm đốt, xoay người định đi. Thế nhưng bỗng nghe sau lưng có tiếng nữ nhân gọi khẽ: “Ngụy đại nhân, mời ngài vào hậu đường dùng trà.”
Chàng đáp: “Ta ra ngoài rạp dùng trà là được rồi.”
“Dân nữ có chuyện cầu xin, mong Ngụy đại nhân nể mặt cho một chút.” Giọng nói yêu kiều, uyển chuyển vô cùng.
Nể mặt? Con gái Diêu lão cẩu mà lại dám bàn chuyện nể mặt với chàng! Ngụy Cảnh Chi bấy giờ mới xoay người lại, từ trên cao định thần nhìn xuống nàng. Mái tóc đen búi cao theo kiểu tang lễ giắt vài đóa hoa lụa trắng, gió thổi qua làm chúng hơi rung rinh. Nàng vừa lúc ngẩng khuôn mặt lên, đập vào mắt chàng là bờ môi đỏ hồng, căng mọng, một giọt nước mắt còn vương trên đó, hàm răng trắng nhỏ của nàng khẽ cắn lấy môi.
Đưa vào Giáo Phường Ty, tất sẽ là “một đôi tay ngọc nghìn người gối, nửa điểm môi son vạn kẻ tường”.
Ngụy Cảnh Chi không nói nhiều, chàng muốn xem thử trong hồ lô của nàng đang bán thuốc gì.
Theo chân ma ma bước vào hậu đường, chàng vén vạt bào ngồi xuống chiếc ghế giao ỷ. Nha hoàn rót chén trà nóng hôi hổi bưng lên, chàng không chạm vào, vì sợ bọn họ hạ độc chết mình.
Chỉ trong chốc lát, Diêu Diên cùng Diêu Nghiên bước vào, trước tiên hành lễ với chàng, sau đó mới ngồi xuống bên cạnh.
Diêu Diên lén lút quan sát, vị Ngụy đại nhân này đã cởi bỏ bộ tang phục cùng đai lưng trắng, mặc một thân quan bào màu đỏ thắm, tỏa ra khí thế uy nghiêm không giận mà tự khiến người ta khiếp sợ. Đôi mắt đào hoa kia tựa như được tôi qua lớp băng lạnh.
Trong lòng nàng run sợ, liếc nhìn Diêu Nghiên, thấy sắc mặt em trai cũng tái nhợt như vậy.
Hậu đường sâu thẳm giữa ban ngày, chỉ vì ngoài khung cửa bóng cây che khuất ánh mặt trời, tiếng ve tuy râm ran nhưng bị ánh sáng ngăn cách bên ngoài, cả gian phòng tĩnh lặng như tờ.
Ngụy Cảnh Chi không thấy hai chị em họ nói năng gì, bèn mở lời trước: “Nếu không có chuyện gì bẩm báo, ta đi đây.” Nói rồi, chàng làm bộ đứng dậy.
Diêu Diên lấy hết can đảm thưa: “Cha dân nữ qua đời, có để lại một ít đồ cổ thư họa, chị em dân nữ không có tài giám thưởng, cũng chẳng biết đạo bảo tồn. Nghe danh Ngụy đại nhân thích sưu tầm, lại giỏi thẩm định, là bậc thầy trong lĩnh vực này, nên muốn phiền ngài xem giúp, món nào nên giữ lại, món nào thì nên bán rẻ đi.”
Ngụy Cảnh Chi nghe vậy thì dâng lên chút hứng thú, nhưng bề ngoài vẫn không lộ sắc diện, nhàn nhạt nói: “Ta chỉ có thời gian trong một nén nhang thôi.”
Diêu Diên thở phào nhẹ nhõm, vội đi thắp nến. Diêu Nghiên bật dậy, trước tiên bưng tới một chiếc bình báu. Ngụy Cảnh Chi đón lấy, soi dưới ánh đèn nhìn kỹ hoa văn dưới đáy bình, rất nhanh liền nói: “Bình hồ lô nền đỏ vẽ màu vàng vân hoa sen dây, món này giữ cũng được mà không giữ cũng chẳng sao, chẳng khác gì gân gà, bỏ thì thương vương thì tội.”
Chàng lại đón lấy một chiếc bát sứ, ngắm nghía một hồi, đáy mắt chợt sáng lên, tán thưởng: “Vật này cực khéo! Là bát Kim Chung vẽ rồng trên sóng nước bằng men lam và bột màu đỏ sắt.”
Diêu Nghiên hỏi: “Dám hỏi ngài vật này khéo ở chỗ nào ạ?”
Ngụy Cảnh Chi nói: “Đây là đồ cung đình ban thưởng. Do ngự diêu Cảnh Đức Trấn nung chế, đem men lam, đấu thái và men thanh giả Long Tuyền nung vào một chiếc bát, trong cái thanh lạnh chứa đựng sự lộng lẫy, trong cung cũng chỉ còn mười chiếc, dân gian lại càng khó tìm, vật quý nhờ hiếm, cần phải giữ lại.” Đợi đến lúc tịch biên biên chép vào sổ, chàng sẽ chiếm nó làm của riêng.
Chàng đưa trả cho Diêu Nghiên, rồi nhận lấy một nghiên mực, đặt vào lòng bàn tay ước lượng sức nặng, sau đó nói: “Đá Đoan Khê, chất đá chắc mịn, màu đen pha tía, ẩn hiện vân lam và vân lá chuối trắng, mặt trên chạm nổi một con mèo đang vồ bướm. Mặt sau vì có lời đề tặng của danh gia nên giá trị tăng lên, nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi. Nghiên mực ‘Miêu Điệp’ đá Đoan Khê, chữ ‘Miêu Điệp’ đồng âm với ‘Mạo Điệp’ (người già), có ý nghĩa phúc thọ, có thể đem tặng trưởng bối trong tộc.”
Tiếp đó chàng nhận lấy một tập họa phổ, lật xem từng trang một cách chậm rãi rồi nói: “Là ‘Hoa Hội Sách’ của Văn Thúc tiên sinh. Bên trong phần lớn là hoa cỏ thanh nhã, sâu nhỏ bướm lạ. Văn Thục tiên sinh là tài nữ của danh gia họ Văn vùng Tô Châu, Giang Nam vốn nhiều vẻ xinh xắn, hoa cỏ, chim muông, sâu bướm dưới ngòi bút của bà càng thêm kiều diễm, nhu hòa và đạm mạc, thậm chí còn có chút ngây thơ của trẻ nhỏ. Vì cùng là phận nữ nhi, ngày thường tự mình thưởng lãm thì cũng có thể giữ lại.”
Chàng liếc nhìn Diêu Diên một cái, không giữ cũng chẳng sao, dù sao nàng cũng sắp phải vào Giáo Phường Ty rồi.
Diêu Diên nghe đến say mê, thầm nghĩ vị Ngụy đại nhân này biết nhiều điều thật đấy.
Diêu Nghiên sốt ruột, khẽ ho hai tiếng. Diêu Diên thu hồi tâm trí, thưa rằng: “Ngụy đại nhân, dân nữ có một phương bia đá, lúc cha còn sống vốn coi như báu vật, xin mời ngài dời bước sang xem cho ạ.”
