Chương 59: Những năm tháng hào hùng
*
Đầu tháng Mười hai, nhiệt độ cả ngày ở Bắc Kinh cứ loanh quanh ở mức 0 độ. Trời cao mây nhạt, sương sớm lạnh buốt thanh tao.
Giản Nhu đến vào buổi sáng, đi xuống máy bay cùng dòng người, kế đó được nhân viên mặt đất xác nhận thân phận, dẫn đường ra bãi đỗ xe. Người bên cạnh ra hiệu hướng đi, từ đằng xa cô đã nhìn thấy vóc dáng cao ráo của Trần Kính Chương đang đứng đợi cô bên cạnh xe.
Giản Nhu bỗng chốc rạng rỡ hẳn lên, bước tới ôm lấy anh. Trần Kính Chương khẽ vỗ nhè nhẹ vào lưng cô, dịu dàng cười nói: “Lên xe trước đã.”
Anh khác hẳn mọi khi, vòng qua mở cửa xe bên phía cô, Giản Nhu hơi kinh ngạc. Trần Kính Chương một tay vịn cửa xe, bảo hôm hôm nay thời gian có hơi gấp.
“Ngày mai là mừng thọ ông ngoại, đông người lắm, chúng mình tranh thủ buổi sáng đến thăm cụ trước.” Chủ yếu là với mối quan hệ hiện giờ của hai người, Giản Nhu khó tránh khỏi thấy ngượng ngập.
Đến lúc này cô mới mang máng nhớ ra ngày giờ.
Nói ra cũng khéo, ông ngoại của Trần Kính Chương hồi trẻ từng ở Cáp Nhĩ Tân một thời gian, được chứng kiến những năm tháng huy hoàng nhất của vùng Đông Bắc. Lần đầu tiên Trần Kính Chương dẫn Giản Nhu đến ra mắt hai cụ, ông cụ tinh thần vẫn còn rất quắc thước, trò chuyện về việc vùng Đông Bắc tuy đất lạnh nhưng ấm áp tình người, con gái bên ấy ai cũng mạnh mẽ, sảng khoái. Tất nhiên, hai cụ cũng nhanh chóng nhận ra tính cách của Giản Nhu lại chẳng giống mấy với ấn tượng thông thường về người Đông Bắc.
Những năm gần đây, giờ làm việc của nhiều cơ quan ở Bắc Kinh đều lùi muộn lại, thành ra hơn mười giờ sáng mà đường xá vẫn tắc nghẽn. Ông cụ sống trong một khu đại viện trên đường Phục Hưng, nơi đó trông không mấy bắt mắt. Giản Nhu nhớ trước kia hai cụ không ở đây. Trần Kính Chương tự lái xe, có phần sốt ruột trước cảnh cứ đi đi dừng dừng ở khúc này, anh giải thích với cô: “Các cụ tuổi cao rồi, dù sao vẫn cứ phải ở gần bệnh viện một chút.” Giản Nhu chậm rãi gật đầu vâng dạ.
Rất nhiều năm trước, trước khi chuẩn bị cầu hôn, Trần Kính Chương từng vờ như vô tình nói qua với Chương Uyển Chi một câu. Hôm đó anh tới viện nghiên cứu đón Chương Uyển Chi tan làm, bà vốn đang rất mừng vì anh chịu đến, kết quả Trần Kính Chương vừa lái xe vừa dửng dưng buông một câu: “Dạo này em ấy bận ôn thi quá, đợi em ấy thi xong, con xem xét ấn định ngày cưới luôn.” Giọng điệu hệt như đang thông báo.
Chương Uyển Chi khi ấy gần như đã buông xuôi, chân mày bỗng chốc u ám đầy sầu não, bất lực nói: “Con có đưa ra quyết định gì thì cũng phải qua báo cáo với ông bà ngoại một tiếng, biết tôn trọng người già, vẫn được đúng chứ?”
Trần Kính Chương nghĩ cũng phải đạo, thế là chọn một ngày cuối tuần đưa Giản Nhu đến thăm hai cụ. Giản Nhu dù có học hành điên cuồng đến mấy thì đối với lời đề nghị đi thăm hỏi bậc bề trên, cô vĩnh viễn không bao giờ từ chối.
Hồi ấy ông bà ngoại anh sống ở khu vực trung tâm thành phố hơn. Trần Kính Chương dẫn Giản Nhu làm thủ tục đăng ký tại trạm gác bảo vệ, Giản Nhu bước vào trong liền hiếu kỳ ngó nghiêng tứ phía. Những người đội mũ công tác màu trắng mặc quân phục đứng thẳng tắp như cây tre, một số người mặc đồng phục màu xanh biển cứ ra ra vào vào, xem chừng là làm việc tại đây. Họ đi bộ cũng phải mất mười phút đồng hồ, Trần Kính Chương ở trong khu đại viện đó suốt buổi luôn giữ tác phong rất mực quy củ, dù trông vẫn có vẻ nhàn tản nhưng tuyệt nhiên không dang tay ôm vai cô, cũng chẳng có bất kỳ cử chỉ thân mật nào. Anh giới thiệu cho cô những người lính tinh thần kiên cường, đội mũ trắng kia, bảo họ là lực lượng kiểm soát quân sự, chuyên đi tuần tra lưu động để kiểm tra quân dung quân kỷ.
Anh bảo hồi nhỏ anh thấy đầy cảm giác an toàn, vì những người này còn chịu trách nhiệm duy trì trật tự lúc trường mẫu giáo tan học. Giản Nhu thấy vô cùng mới mẻ, mỉm cười hỏi: “Thật hả anh? Các bạn nhỏ không sợ ạ?”
Trần Kính Chương quay đầu nhìn cô, cũng nở nụ cười ôn hòa hệt như vậy: “Đồng chí Giản Nhu, đối với Quân Giải phóng thì chỉ có lòng kính sợ chứ làm gì có chữ sợ.”
Trần Kính Chương hiếm khi mở mồm nhắc đến lý tưởng cao đẹp hay những chiến công anh hùng thuở trước, bất kể là của thế hệ cha ông hay của ai đi nữa. Anh cực kỳ dị ứng với việc mở miệng ra là nói đạo lý sâu xa, suốt bao năm qua luôn kiên trì nói những lời vô thưởng vô phạt. Cô thèm muốn phần tính cách hoàn toàn trái ngược với mình của anh, sống thanh thản, lòng chẳng vướng bận chi, nhưng ở một số khía cạnh, anh vẫn khiến cô phải rung động.
Chẳng hạn như hồi cô học đại học, mỗi khi nghỉ đông nghỉ hè đều sẽ về quê. Trần Kính Chương dạo ấy công việc khá bận rộn, Giản Nhu liền chọn đi du lịch ngắn ngày ở Đại Liên, nơi được coi là tương đối gần cả Hắc Long Giang lẫn Bắc Kinh. Chọn địa điểm kiểu này kể ra chẳng có logic gì, nhưng hễ cứ hỏi xem anh có đi được không, Trần Kính Chương đều rất tùy tiện bảo thế nào cũng được. Dù sao thì với anh, thành phố nào cũng chẳng khác nhau là mấy.
Cô thì hào hứng lên lịch trình, anh thấy cô chọn lựa hăm hở như vậy, thậm chí cũng chẳng thèm liên hệ nhờ vả ai, cứ để mặc cô đăng ký một tour du lịch theo đoàn, suốt dọc đường ngồi trên chiếc xe buýt tham quan náo nhiệt cứ đi đi dừng dừng. Trên xe có mấy vị phụ huynh dắt theo con nhỏ khóc lóc om sòm làm náo loạn cả không gian yên tĩnh, Giản Nhu tính tình hiền lành, Trần Kính Chương cũng tương đối bao dung với mầm non của tổ quốc, nhìn chung chuyến đi vẫn được coi là vừa ý.
Chuyện khiến cô ấn tượng sâu sắc nhất lại xảy ra ở chặng dừng chân cuối cùng. Cô và Trần Kính Chương đi theo hướng dẫn viên đến một điểm tham quan, gọi là điểm tham quan thì không đúng lắm, vì nơi đó mang ý nghĩa tưởng niệm nhiều hơn. Trước mặt là những tấm bia đá lặng im, Giản Nhu là người Đông Bắc nên cảm nhận về đoạn lịch sử này vô cùng sâu sắc, cô chăm chú đọc những lời giới thiệu đến mức thẫn thờ. Đến lúc rảo bước đi ra ngoài, cô mới bừng tỉnh phát hiện Trần Kính Chương không đi bên cạnh mình nữa. Cô quay đầu tìm anh, giữa dòng người đi lại như mắc cửi, ở vị trí cuối cùng của tấm bia đá sau chót, Trần Kính Chương đang khẽ cúi đầu, khoảng thời gian ngắn ngủi tựa hồ như một nhịp thở.
Cách nhau một đoạn ngắn, Giản Nhu đứng chôn chân tại chỗ nhìn anh.
Trần Kính Chương cũng nhanh chóng xoay người tìm cô, mắt mày vẫn nét ngời sáng như tranh sơn thủy, tự nhiên dắt lấy tay cô, cái mồm vẫn chứng nào tật nấy mà cằn nhằn oán trách một câu: “Sao em chẳng đợi anh thế?”
Quay trở lại cái ngày của năm 2011 ấy, Trần Kính Chương dẫn Giản Nhu lần đầu tiên bước vào khu đại viện kiểu như thế. Anh chu đáo giới thiệu cảnh sắc dọc đường cho cô, bảo nơi này thực chất không cho phép nuôi chó mèo, lực lượng kiểm soát quân sự mà bắt gặp là tịch thu ngay. Để đảm bảo an toàn, xung quanh cũng không được phép xây những công trình quá cao. Hai người sánh bước bên nhau, anh dắt cô đi về phía khu sân vườn nơi ông bà ngoại đang ở. Giản Nhu vừa lắng nghe, vừa chợt nhớ lại cái ngày còn xa xưa hơn nữa, bèn đột ngột hỏi một câu: “Kính Chương, sao anh lại không đi bộ đội nhỉ?”
Trần Kính Chương khựng người lại, khẽ cười một tiếng: “Nhà anh đời nào cũng chẳng thiếu bộ đội rồi, anh chẳng thèm chen chân vào cái chỗ náo nhiệt ấy nữa làm gì.”
Anh có phần hơi gượng gạo, mà Giản Nhu lại chẳng muốn nhìn thấy anh lộ ra bất kỳ vẻ gượng gạo nào, thành ra chủ đề này liền bị anh lảng sang chuyện phiếm khác một cách không để lại dấu vết.
Nằm sâu nhất bên trong cơ quan là các khu sân vườn, được thiết kế vô cùng trang trọng và bề thế. Giữa làn mây trôi là mái hiên xanh ngói biếc, trên nóc nhà ẩn hiện những hình linh thú hộ vệ thường thấy ở các kiến trúc cổ, tại phần gờ mái chéo còn nhô ra những bức tượng điêu khắc nhỏ mô phỏng vũ khí hiện đại. Họ đi đến một khu sân nằm sâu nhất bên trong, bước qua bậc cửa của gian sân thứ nhất, vừa vặn có một người mặc quân phục đi ngang qua lên tiếng chào hỏi Trần Kính Chương với dáng vẻ rất mực bề trên. Giọng nói của ông trầm vững như bàn thạch nhưng lại vô cùng thân thiết, hỏi một câu: “Có bạn gái rồi à cháu?”
Trần Kính Chương gọi ông là chú, mỉm cười bảo vâng. Sau khi vị ấy đi khỏi, Trần Kính Chương mới nói cho Giản Nhu biết đây là tham mưu cảnh vệ, hồi nhỏ anh tiếp xúc nhiều chứ từ khi đi học thì ít gặp hẳn.
Trần Kính Chương dắt tay cô đi qua phòng chính, đi dọc theo bóng mát của hàng cây thạch lựu phía tây vào bên trong, đi thẳng vào gian viện phụ nhỏ nằm ở phía đông của sân chính. Dưới tán cây hòe già trăm tuổi, một cụ ông vóc dáng vẫn còn rắn rỏi đang xoay lưng lại, lót tấm giấy tuyên thành trên chiếc bàn đá xanh để viết chữ thư pháp.
Trần Kính Chương bật cười sảng khoái, ngoảnh đầu liếc nhìn Giản Nhu rồi khẽ bảo: “Đến nơi rồi, ông bà ngoại quen ở chỗ này.”
Ông cụ tai thính mắt tinh, vừa quay đầu lại đã nhìn thấy cậu cháu ngoại dẫn người đến. Cụ đã bước sang tuổi thất thập cổ lai hy nhưng bờ vai vẫn thẳng tắp, đôi mắt tinh anh rạng rỡ, mỉm cười chờ Trần Kính Chương cất tiếng chào.
Trần Kính Chương gọi to: “Ông ngoại ạ.” Ông cụ gật gật đầu, hướng vào trong nhà gọi vọng một tiếng: “Bà nó ra xem ai đến này.”
Cuộc đời của Giản Nhu nói là an phận thì cũng an phận, mà bảo là chông chênh thì cũng chông chênh, quay đầu nhìn lại luôn có những chuyện khó quên. Chẳng hạn như, cả đời này cô khó mà quên được giọng nói của ông ngoại Trần Kính Chương, nghe hơi giống chất giọng của mấy nhân vật trong các bộ phim tài liệu trên tivi vậy.
Cô khi ấy thầm nghĩ, có lẽ con người ta không chỉ có nhân tướng mà giọng nói cũng có tướng nữa.
Trần Kính Chương buông bàn tay đang dắt cô ra, hơi nghiêng người vỗ nhẹ vào lưng Giản Nhu một cái rồi dắt cô cùng bước tới. Bà ngoại từ trong nhà đi ra, là một cụ bà có gương mặt rất đỗi hiền hậu, không giống như ánh mắt mờ đục của những người già thông thường, đôi mắt cụ vẫn tinh anh sáng suốt. Cụ đi ra giữa sân, trước tiên mỉm cười với Giản Nhu, ôn tồn bảo một câu: “Chào cháu nhé.” Giọng cụ nói nặng chất giọng Bắc Kinh.
Trần Kính Chương bèn giới thiệu bà ngoại trước, rồi mới tới ông ngoại. Khí chất của hai cụ vô cùng tương xứng, đúng nghĩa là cử án tề mi, sau này Trần Kính Chương mới bảo họ vốn dĩ là chiến hữu của nhau. Lúc họ trò chuyện, Giản Nhu phát hiện ra ông bà ngoại lại gọi nhau là “ông bạn”, “bà bạn”.
Trần Kính Chương ở trước mặt các bậc bề trên vốn đã nhàn tản thong dong, chẳng có tâm sự gì, nay ở trước mặt ông bà ngoại lại càng một mực nhẹ nhõm, trạng thái hệt như một cậu thiếu niên. Anh kéo Giản Nhu cùng ngồi trò chuyện. Trong nhà còn có một người phụ nữ chăm sóc sinh hoạt thường ngày cho hai cụ ra rót trà cho họ, trông chừng năm mươi tuổi, hai cụ gọi cô ấy là “Tiểu Trịnh”. Giản Nhu sau đó có hỏi Trần Kính Chương về thân phận của cô ấy, anh bảo đó là bác sĩ riêng của ông bà ngoại, ngày thường cô ấy phải đi làm ở cơ quan, chỉ là hôm đó vừa vặn có mặt thôi.
Trần Kính Chương cười bảo cô: “Các cụ cứ nghĩ thầy thuốc không tự chữa được bệnh cho mình nên mới để dì Tú Hà đến chăm sóc, thực ra cũng chẳng cần dùng đến mấy việc gì, dì ấy ở trước mặt bà ngoại hoàn toàn tự coi mình là học trò.” Bà ngoại anh vốn là quân y, cả Đông y lẫn Tây y đều học qua, từng được trường đại học y khoa của quân đội mời quay lại giảng dạy hai năm, cụ thấy không mấy thú vị nên rốt cuộc vẫn chọn nghỉ hưu hẳn.
Nhiệm vụ chính của Trần Kính Chương là dẫn Giản Nhu đến ra mắt các bậc trưởng bối, nhưng ngày hôm đó cũng giống như mọi ngày, anh chẳng dùng đến bất kỳ kỹ năng trò chuyện nào, chuyện gì cũng nói thật lòng. Ông bà ngoại mảy may không hỏi han gì đến gia thế của Giản Nhu, trong lúc nói cười, sự uyên bác biết rộng hiểu sâu của hai cụ khiến người ta phải trầm trồ thán phục. Hai cụ chăm chút cho cảm xúc của Giản Nhu, trò chuyện về tiền thân của ngành báo chí Đại học B, kể về việc báo giấy từng sở hữu địa vị xã hội cao quý đến nhường nào.
Có rất nhiều câu chuyện truyền kỳ mà sách giáo khoa không bao giờ viết, mỗi khi hai cụ cất tiếng, luôn khiến người ta liên tưởng đến những nhân vật đứng ở vị trí chính giữa của các bức ảnh cũ, chẳng hề ra vẻ chút nào, cứ ngồi bệt dưới đất giảng bài cho thế hệ trẻ. Giản Nhu lắng nghe vô cùng nghiêm túc, nghiêm túc đến mức quên cả căng thẳng.
Cô chưa từng hỏi qua xem ông bà ngoại có ấn tượng thế nào về mình. Bị người mình hằng tôn kính không thích là một chuyện vô cùng khó chịu.
