Thẻ: ĐaỊ Cô Nương
HỒNG LOAN HY – CHƯƠNG 4
Chương 4: Gặp lại
*
Anh Trân nghĩ ngợi một lúc, không dám nói thẳng, chỉ đáp: “Bà Triệu nói là sẽ về bàn bạc trước với chồng bà ấy, rồi sẽ hồi âm cho con.”
Dẫu nói vậy, Bà Lớn vẫn không vui. Bà có đôi mắt trũng sâu kiểu Tây, khi còn trẻ cũng xem là có nét, nay tuổi cao, mí mắt đôi rộng thõng xuống, trông như bầu ngực khô héo xệ xuống của mụ vú già, chẳng còn chút sinh khí nào.
Bà rít một hơi thuốc, làn khói xám trắng lượn lờ, nghiêng đầu liếc sang Cậu Năm, ý tứ rõ ràng: Bà vợ này của con đầu óc không lanh lợi, chuyện vặt vãnh thế mà cũng làm không xong; phải gọi con dâu ba đi, ngựa chết còn có thể coi như ngựa sống mà chữa.
Sắc mặt Anh Trân hơi đổi. Bà Lớn thừa biết cô không hòa thuận với chị dâu ba, vậy mà vẫn cố ý chê cô khen người ta ngay tại đây, rõ ràng là muốn làm nhục cô.
Cô liếc nhìn sang Cậu Năm. Hắn dường như không nghe thấy; mà cho dù có nghe, hắn cũng sẽ không nhúng tay vào cuộc chiến giữa đàn bà. Hắn tiện tay cầm lấy một chiếc bình cổ nền xanh men phấn vẽ hoa chim dây tử đằng, cổ dài, đưa lên ngắm nghía kỹ lưỡng, như đang bóp cổ con gà béo, chờ giá mà bán.
Bà Lớn nói: “Đừng làm rơi đó, đồ cũ đời Quang Tự nhà Thanh, cũng đáng mấy đồng đấy.”
Sắc mặt Cậu Năm lập tức sáng bừng. Ánh nắng chiều lướt qua cửa sổ như luồng đèn sân khấu, bốp một cái chiếu lên người hắn, khiến cả thân hình như trong suốt. Bà Lớn hừ lạnh một tiếng: “Đừng có động óc xấu, không thì ta không khách khí đâu.”
Cậu Năm cười gượng gạo, rồi lại thao thao kể chuyện hùn vốn mở nhà máy dệt với bạn bè. Sau khi hắn rút lui, cậu hai nhà họ Tào thế chỗ, bên Tùng Giang đã có sẵn xưởng, ngày khai công chỉ riêng pháo đã nổ mù mịt nửa bầu trời.
Bà Lớn hút thuốc, không nói gì. Một lúc sau, bà lạnh lùng liếc Anh Trân: “Còn đứng ì ra đó làm gì? Chẳng phải bên nhà cậu đã tới rồi sao?”
Anh Trân lúc này mới cáo từ vài câu, ưỡn thẳng lưng, chậm rãi đi ra ngoài, để khỏi mang tiếng bỏ chạy thục mạng, càng khiến người ta có cớ mà bàn tán. Gần tới cửa, giọng nói hạ thấp của Bà Lớn bay vào tai cô: “Lúc phú quý thì chẳng thấy đâu, đến khi sa sút mới mò tới, đúng là sao chổi.”
Cậu Năm cười hì hì mấy tiếng, giọng đời không sợ gì.
Vừa ra ngoài, tiết trời oi ả như đang hấp hoa quế, lưng cô dính mồ hôi nhớp nháp. Một bà vú đang cúi người gom đầy đất lá rụng cho vào bao tải, vừa gom xong, một cơn gió thổi qua lại rơi kín đất.
Cô đi về viện của mình. Hai bên là lầu nhỏ, giữa là một hành lang xuyên nhà; mấy phòng của các anh em đều ở đây, như đàn châu chấu xâu trên cùng một sợi dây.
Mái nhà kiểu cũ vươn rất rộng, ánh nắng không lọt vào được, mọi thứ đều âm u ẩm thấp. Tường là lớp xi măng loang lổ nấm mốc, khoét những ô cửa vuông vức; khung cửa màu đỏ san hô đã phai, lắp kính trắng, rèm cửa xanh nhạt buông hờ che không che, trông như có người núp phía sau lén nhìn ra ngoài.
Anh Trân nhớ lúc mình mới gả vào, trong phủ mời mấy chục thợ tới tu sửa chỉnh trang, tiếng búa gõ leng keng, trong không khí phảng phất mùi sơn dầu, náo nhiệt vô cùng. Nay cảnh tượng thì mỗi năm mỗi kém, nhà cửa cũng già đi theo.
Cô nghe thấy mọi người đang kéo đàn hồ cầm, dì Tạ ê a hát theo. Dì vốn xuất thân từ chốn kỹ viện, lúc mới gả vào, giọng hát trong trẻo như tiêu như sáo; nay nghe lại đã chẳng còn như xưa, thoang thoảng một cảm giác sống sót sau tai kiếp.
Cô theo khúc nhạc ấy bước về phòng. Vừa vào cửa đã thấy nha hoàn Minh Phượng đón tới: “Cậu lão gia và họ nhà bên đó chờ ở gian giữa đã lâu rồi ạ.”
Anh Trân “ừ” một tiếng, đi về phía gian giữa, thấy một bé gái bám vào cánh cửa hé đầu nhìn trộm. Vừa trông thấy cô, con bé liền rụt lại. Bước qua bậc cửa, đập vào mắt là năm sáu chiếc rương gỗ hồng mộc xếp trên đất, trông rất chắc nịch, nặng trĩu. Minh Phượng vén rèm lên, liền thấy đàn ông ngồi trên ghế uống trà, đàn bà dắt theo bé gái đứng đối diện cô, dáng vẻ lúng túng. Thấy cô, họ vội cười chào: “Chào cô ạ!”, rồi dỗ dành bé gái gọi cô. Con bé rụt rè, gọi lấp lửng một tiếng, rồi nép người trốn ra sau lưng người đàn bà.
Dẫu đã nhiều năm không gặp, nhưng rốt cuộc là ruột thịt máu mủ, vẫn nhận ra được dáng vẻ của anh chị mình.
Anh Trân gật đầu, ngồi xuống chiếc ghế đối diện họ. Minh Phượng xách ấm rót trà cho cô. Chị dâu cô cười lấy lòng: “Trong rương có để gà muối, vịt muối, giò heo muối, bánh nếp với gạo nếp. À đúng rồi, còn có sườn heo kho tương nữa. Anh nó bảo cô thích ăn nhất đồ của Tam Phượng Kiều, nên mang nhiều hơn chút. Dọc đường ép chặt trong rương, phiền các cô mau mở ra lấy phơi, kẻo ủ hỏng mất.”
Anh Trân nói lời cảm ơn, sai Minh Phượng đi mở rương lấy đồ. Chị dâu đẩy khẽ bé gái một cái: “Con đi đi, con biết để ở rương nào mà.”
Bé gái núp sau lưng ghế của mẹ, ngón tay bấu chặt vào mấy mắt mây lồi lên của chiếc ghế mây cũ, thẹn thùng không chịu đi.
Minh Phượng dỗ dành: “Chị dẫn em đi ăn kẹo nhé, có vị sữa, vị quýt, vị bạc hà, còn có cả socola nữa.”
Cơn thèm thắng được nỗi sợ, con bé ngoan ngoãn đi theo.
Tuy hoàng hôn đã gần kề nhưng trời vẫn chưa tối hẳn, để tiết kiệm điện nên không bật đèn. Trong phòng mờ mờ tối, chỉ có ánh sáng lọt vào qua những ô hoa chạm trên khung cửa sổ. Anh Trân ngồi gần, từng vệt sáng lay động hắt lên mặt cô, làm sáng lên nụ cười nhàn nhạt nơi khóe môi.
Anh chị cô vẫn lén nhìn sắc mặt cô, lúc này mới thầm thở phào nhẹ nhõm, như trút được gánh nặng, khẽ hừ hừ cười. Chị dâu nịnh nọt: “Cô vẫn còn trẻ trung thế này.”
Anh Trân lại thấy chua chát. Cách nói chuyện của chị dâu không hề có sự xa cách của mấy năm sau khi gặp lại lần đầu, giống hệt như mới hôm qua gặp, hôm nay lại tình cờ chạm mặt, nói toàn những câu xã giao kiểu “đã ăn cơm chưa”, cố tình quên đi quãng trống dài ở giữa, có lẽ muốn một nét bút xóa sạch.
Nhưng quãng trống ấy đâu phải là trống không, nó đậm đặc đến mức gần như nuốt trọn cả cuộc đời cô.
Cô bĩu môi về phía lưng bé gái: “Đây là Quế Châu à?”
Chị dâu lắc đầu: “Cô nhận nhầm rồi, Quế Châu gả chồng từ năm kia. Đây là đứa nhỏ nhất, tên là Quế San.”
“Quế Châu cũng lấy chồng rồi.” Anh Trân lẩm bẩm.
“Chứ sao.” Anh trai cô từ nãy vẫn im lặng, lúc này mới mở miệng, “Giữ tới hai mươi lăm tuổi mới gả được. Giữ nữa là phải đi làm vợ kế cho người ta.”
Anh Trân mỉm cười: “Gả được cho người mình vừa ý, muộn chút thì có sao, đừng như em.”
Anh trai cô vặn cổ định nói tiếp, bị chị dâu liều mạng liếc mắt ngăn lại, vội cướp lời: “Đúng lý ấy! Đúng lý ấy! Anh chị cũng không ép nó quá, chỉ sợ sau này thành thù oán, hôn sự này cũng là nó tự gật đầu đồng ý.”
Anh Trân nói một câu “thật tốt”: “Rốt cuộc là con gái ruột của mình, đâu như người ngoài mà dễ lừa.”
Anh trai cô ngồi ở góc trong cùng của căn phòng, sát bức tường, bên cạnh là bàn thờ thần. Trên mặt anh ta như phủ một tầng khí đen, mờ mịt không nhìn rõ biểu cảm, nhưng chắc chắn là không vui. Anh ta nặng nề đặt mạnh chén trà men lam xuống bàn.
Anh ta vốn thích làm bộ làm tịch, bày sắc mặt, nhưng là làm cho ai xem đây? Giờ đâu còn như ngày trước, ai ai cũng sa sút, lại sa sút thêm.
Ba người bất giác rơi vào im lặng. Chị dâu sốt ruột muốn hòa giải nhưng lúng túng không biết nói gì, vắt óc suy nghĩ, trên mặt vô thức lộ ra vẻ phiền não. Cuối cùng vẫn là Anh Trân lên tiếng hỏi: “Mộ phần cha mẹ chôn ở đâu?”
Giọng anh trai cô ù ù: “Dưới chân núi Tiểu Hoa, cách nhà cũ chừng một dặm. Ở đó có một ngôi chùa Quan Âm, phong thủy cũng được. Không phải tôi chọn, lúc hai cụ còn sống đã sớm định sẵn rồi.”
Anh Trân nghiêm túc nhớ lại. Dẫu sao cũng đã hơn mười năm, nhiều cảnh cũ mờ mờ ảo ảo, mà cô lại hay mộng mị, về sau đến cả thật giả cũng khó phân biệt. Nghĩ hồi lâu mới không chắc chắn hỏi: “Ở đó có một hàng táo phải không?”
Chị dâu cười nói: “Đúng thế, cô vậy mà còn nhớ.”
Anh trai cô tiếp lời: “Sau này chặt hết rồi.”
“Sao lại thế?”
“Thầy xem phong thủy nói mộ đặt ở đó thì tốt thật, chỉ có điều hàng táo là đại hung, vì chữ ‘táo’ ngụ ý là ‘sớm’. Chẳng lẽ hai cụ muốn sớm xuống mồ hay sao? Nghĩ ra thì đúng là không cát lợi, thôi thì chặt sạch không chừa cây nào.”
Anh trai cô nói nghe huyền hồ lắm, vẻ mặt lại rất thản nhiên.
Anh Trân nửa tin nửa ngờ. Cây táo vốn được coi là vượng tài, vượng vận, vượng con cháu, an gia bình loạn, nào có gì không lành. Nhưng chuyện xưa không thể truy cứu, cô cũng chỉ thấy tiếc: “Hàng táo đó có tuổi rồi. Em nhớ năm nào tháng sáu hoa nở rộ, tháng bảy tám thì kết trái, đỏ rực đầy cành, vừa giòn vừa ngọt. Người quản sự cầm sào tre dài đập xuống, táo rơi đầy đất, chúng em nhặt bỏ vào rổ.”
Đám tiểu thư như bọn cô hồi đó không cần tự tay làm, chỉ cốt lấy chút thú vui đồng quê.
Rồi về sau, cô đứng dưới tán cây, xuyên qua những chiếc lá ngập ánh nắng nhìn gương mặt thanh tú của người ấy, trong lòng bỗng sáng lên một thoáng. Hóa ra là kẻ hầu ngoài hành lang đang thắp đèn lồng đỏ.
Ba người thoáng chốc lại rơi vào im lặng. Chị dâu có phần sốt ruột, hạ giọng lẩm nhẩm: “Thật ra hồi đó, dù không chặt thì cũng phải chặt, trong nhà đã hết tiền sinh sống rồi… giờ lại càng khó khăn hơn…”
Anh Trân nhấp một ngụm trà cho trơn cổ họng: “Thời thế bây giờ, mấy nhà được yên ổn đâu. Phủ này cũng mỗi ngày một sa sút, chúng em rồi cũng chẳng cầm cự nổi.”
“Lạc đà gầy vẫn lớn hơn ngựa.” Chị dâu cười nói. “Cô than nghèo với anh chị, thế là khách sáo quá rồi!”
HỒNG LOAN HY – CHƯƠNG 5
Chương 5: Năm xưa
*
Anh Trân cười khẽ một tiếng, coi như kết lại câu chuyện: “Em nói gì thì anh cũng chẳng tin đâu.”
Cô nhấp một ngụm trà, chậm rãi nói tiếp: “Nhưng trùng hợp là hôm nay em vừa gặp Vương Ngọc Cầm.”
Anh trai cô đang ăn lạc rang muối tiêu. Một hạt lăn dọc theo chiếc áo mã quái xanh đã sờn, rơi xuống khe giữa hai đầu gối khép lại. Anh ta chẳng buồn để tâm, dùng ngón cái và ngón trỏ nhặt lên bỏ vào miệng, nhai ngon lành, vừa ăn vừa cảm khái: “Cô ta bây giờ sống sướng thật.”
Chỉ vì cái động tác ấy, mũi Anh Trân bỗng cay xè không rõ vì sao. Phồn hoa rốt cuộc cũng bị gió mưa cuốn đi, công tử quyền quý ngày trước giờ cũng học cách cúi xuống nhặt miếng ăn từ giữa hai chân mình. Sự sa sút của gia đình ấy, đến khoảnh khắc này, trong đầu cô bỗng trở nên vô cùng chân thực.
Chị dâu hỏi: “Vương Ngọc Cầm là ai thế?”
Không ai đáp, chị ta vẫn truy hỏi cho bằng được: “Nghe cái tên quen quen nhỉ?”
Anh trai cau mày, giọng mất kiên nhẫn: “Bà Triệu đó, người em gặp ở nghĩa trang dịp Thanh minh, còn tặng em cả cái khăn choàng dệt hoa to tướng.”
“À, là cô ta đó hả!” Chị dâu kéo dài giọng, lông mày hất lên, vẻ ngưỡng mộ không giấu nổi: “Xinh đẹp thật, mà ra tay cũng hào phóng. Phong thái đúng kiểu phu nhân quan lớn. Về quê tảo mộ, chẳng nói chẳng rằng đã cho sửa sang lại mộ phần nhà mình, bia mộ dùng cả khối đá cẩm thạch trắng. Cô Hai Vương Song Song quen biết đó, ở Tô Châu ai cũng biết là thợ ra giá đắt nhất, chuyên được mời khắc chữ trên đá. Quanh nghĩa trang còn trồng cả một vòng cây táo, không phải cây non đâu, toàn cây lớn to bằng cả cánh tay tôi thế này. Chỉ riêng tiền đó thôi đã là con số khủng khiếp. Em vẫn hay nói với anh ấy, cô em chồng nhà mình cũng là phu nhân quan lớn, mai này áo gấm về làng, cũng nên sửa sang lại mộ phần cha mẹ cho đàng hoàng. Lúc sống đã giàu sang phú quý, chết rồi cũng không thể quá lạnh lẽo, mất mặt tổ tiên.”
Anh trai trừng mắt nhìn chị ta: “Nói linh tinh gì thế!”
Rồi anh ta lại lầm bầm thêm một câu: “Em gái tự biết chừng mực.”
Anh Trân nghe chị dâu không ngớt lời ca tụng Vương Ngọc Cầm, lại nhớ đến lúc gặp bà Triệu hôm nay, ngoài mặt khiêm nhường, trong lòng thì ngấm ngầm muốn hơn thua, cô im lặng một lát, rồi mỉm cười nói: “Không giấu gì anh chị, trước kia Vân Phiên bị cuốn vào một vụ án lớn, chuyện đó chắc anh chị cũng nghe qua rồi chứ? À, chưa nghe à? Có lẽ anh chị không có thói quen đọc báo, hoặc có nghe người ta kể cũng chẳng liên hệ được với cậu ấy. Vụ án đó lên báo suốt hai tuần liền, đến cả chính phủ trung ương cũng bị kinh động. Vân Phiên làm thư ký tòa án, trong lúc sao chép sổ sách tham ô hối lộ của người ta, lỡ tay làm đổ đèn dầu, thiêu rụi sạch sẽ. Ai cũng nói anh ấy nhận tiền để tiêu hủy chứng cứ. Em là người hiểu anh ấy nhất, anh ấy không có gan trời ấy đâu. Nhưng em hiểu thì có ích gì, người ta nói năng rành rẽ, cuối cùng hồ đồ kết tội luôn.”
Cô dừng lại một chút rồi nói tiếp: “Bị chính phủ ghi lỗi, xóa tên, suýt nữa thì ngồi tù, phải tốn không ít tiền mới giữ được người. Sau đó chẳng ai dám giao việc cho anh ấy nữa, mấy năm nay cứ lang bạt khắp nơi, ăn chơi cờ bạc, ra vào kỹ viện ném tiền không hề nương tay. Tất cả đều trông vào bà cụ thương tình bố thí và bán dần chút của hồi môn của em mà sống qua ngày. Anh chị nói xem, có phu nhân quan lớn nào lại thành ra như em không?”
Cô kéo nhẹ tà chiếc sườn xám hoa rắc màu xanh nhạt trên người: “Từ sau khi xảy ra chuyện, em chưa từng may lấy một bộ đồ mới, vẫn mặc toàn kiểu dáng lỗi thời.”
Bên ngoài cửa sổ trời đã tối hẳn. Cô quay lưng về phía cửa sổ nửa khung được đèn lồng đỏ hắt sáng, khuôn mặt mờ đi. Chiếc sườn xám trong thứ ánh sáng u ám ấy trông quả thật cũ kỹ, như rau cải muối bị hong khô, mất hết nước.
Tai, cổ, cổ áo, cổ tay và các ngón tay cô đều trơ trụi, không đeo lấy một món trang sức nào, cảnh ấy quả thực chói mắt. Ít ra thì tai chị dâu còn đeo đôi khuyên vàng to sáng choang.
Anh trai vẫn giữ được bình tĩnh, còn chị dâu thì đã biến sắc.
Anh Trân không nói thêm gì, chỉ lặng lẽ uống trà trong bát mình, vị nhạt đi nhiều. Ngoài hành lang vang lên tiếng sột soạt, Quế San vén rèm chạy vào, bớt câu nệ hơn lúc trước, gọi: “Mẹ, gói bánh nếp con không tìm thấy, mẹ để đâu rồi?”
Mẹ cô bé bực bội đáp: “Trong cái rương sứt một góc ấy.”
“Không có, không có.” Quế San kéo tay áo chị ta: “Con không thấy, mẹ đi cùng con xem.”
Miệng còn vương mùi ngọt của kẹo quýt.
Trong lòng mẹ cô bé cũng đang hụt hẫng, cần ra ngoài hít thở chút không khí. Chị ta lầm bầm gì đó, đứng dậy nắm tay Quế San đi ra ngoài. Anh Trân nghe loáng thoáng như chị ta đang mắng cô.
Trong phòng chỉ còn lại hai anh em, cùng với sự sa sút bủa vây.
Anh Trân đá đôi giày cao gót ra, gác chân lên ghế cúi đầu nhìn kỹ. Da gót chân đã tróc một mảng, lộ ra phần thịt non hồng hào. Cũng chỉ có đôi giày này là còn mới, bởi vì nó không vừa chân.
Cô thấm nước trà trong bát vào khăn tay, đắp lên vết thương. Luồng mát lạnh thấm vào, cơn đau dịu đi đôi chút. Cô hỏi: “Anh chị lên Thượng Hải làm gì? Chỉ để gặp em một chuyến thôi sao?”
Anh trai không tiện nói đúng là như vậy. Nếu em gái vinh hoa phú quý, anh ta có thể cúi mình nhún nhường, nhưng khi hai con người cùng cảnh khốn khó đối diện nhau, anh ta lại bắt đầu giữ thể diện.
Anh ta nói: “Nhà máy dệt nơi chồng con bé Quế Châu làm việc vừa mở thêm phân xưởng ở Kim Sơn, điều nó lên đó sửa máy. Giờ trời sắp lạnh, nó viết thư thúc giục gửi áo ấm với chăn bông, nói mua ở Thượng Hải vừa đắt lại chẳng đủ ấm. Quế Châu bụng đã to, anh với chị dâu rảnh rỗi, tiện đường ghé thăm em…” Anh ta ngập ngừng một chút, vốn định nói đã hơn mười năm không gặp, lại thấy hai chữ “mười mấy năm” quá nặng nề, cuối cùng đổi lời: “Dù sao cũng lâu lắm rồi không gặp.”
Anh Trân dường như chẳng nghe thấy câu cuối, chỉ nói: “Con rể biết lo toan là phúc của Quế Châu. Chỉ sợ ở Thượng Hải, cái chốn phồn hoa này, ở lâu rồi nhiễm thói ăn chơi cờ bạc, bao nhiêu tiền cũng không đủ tiêu.”
Anh trai đáp: “Con rể xuất thân không cao, là người thật thà, đứng đắn.”
Khóe môi Anh Trân khẽ nhếch lên, giọng mang theo chút kiêu bạc: “Người thật thà à? Người thật thà mới dễ hư nhất, lại còn bướng, mười con lừa cũng kéo không quay đầu.”
Tiếng cười khe khẽ của cô mỏng như lưỡi dao cạo, nhìn đã thấy sắc. Nó lướt qua cổ họng, không thấy đau, nhưng trong khoảnh khắc đã rỉ máu.
Anh trai cô nhíu chặt mày, cơn nghiện thuốc phiện bắt đầu cồn cào, đưa tay bóp lấy cổ họng: “Em có hận chúng tôi thì thôi, dính dáng gì tới con rể mà phải trù ẻo nó như vậy? Quế Châu đâu có lỗi với em.”
Anh Trân đáp: “Ồ! Thì ra anh biết em hận anh chị cơ đấy, biết là có lỗi với em. Em cứ tưởng anh chị quên cả rồi, chỉ còn mình em nhớ mãi thôi.”
Anh trai hừ một tiếng: “Em nói vậy là ý gì! Năm đó nếu không phải em không biết giữ mình, thì làm gì có những chuyện về sau! Chẳng ai có lỗi với em cả, là em tự có lỗi với chính mình.”
Anh Trân tức đến run bắn cả người. Cô không ngờ rằng đến tận hôm nay, người anh ruột từng đẩy cô vào hố lửa ấy vẫn có thể trơ trẽn ngụy biện như vậy, hoàn toàn không có lấy một chút áy náy.
Chợt nghe ngoài hành lang có tiếng bước chân sột soạt, rèm vừa vén lên, chị dâu dắt Quế San, phía sau là Minh Phượng cùng bước vào. Chị dâu cười nói: “Đúng là trí nhớ kém thật, bánh nếp gói xong còn buộc dây cẩn thận, vậy mà quên đặt vào rương, đợi chuyến sau sẽ mang đến cho cô.”
Anh Trân cắn từng chữ, nói: “Không cần đâu, tôi không thích ăn bánh nếp.”
Chị dâu vẫn tiếp lời: “Hồi trước ở nhà, cô thích nhất là canh bánh nếp thái lát, bánh nếp Thượng Hải mềm nhão, không có độ dai, nên ăn không ngon.”
Anh Trân không thèm để ý, quay sang Minh Phượng nói: “Cô đã hỏi nhà bếp chưa, mấy thứ mang tới này tính ra hết bao nhiêu tiền? Đưa tiền cho họ đi.”
Minh Phượng còn chưa kịp đáp, anh trai đã đập bàn đứng bật dậy: “Đi thôi! Thật sự coi chúng ta là ăn mày đến xin cơm à!”
Chị dâu vội vàng kéo lại: “Đi làm gì chứ! Vừa rồi mới nói xã giao với cậu được mấy câu, còn chưa chào hỏi bà cụ, Mỹ Quyên cũng chưa gặp, khó lắm mới đến một chuyến, sao có thể chưa đủ lễ nghĩa đã bỏ đi được. Anh chị thì không sao, đi là xong, mắt không thấy thì lòng không phiền, nhưng trong phủ trên dưới người ta sẽ nghĩ thế nào về cô? Dù sao đây cũng là nhà cao cửa rộng, hiếm hoi lắm cô mới có anh chị bên ngoại tới thăm, lại vô phép tắc như vậy thì còn ra thể thống gì.”
Anh Trân ghê tởm chị ta đến cực điểm, cười lạnh nói: “Chị cũng đừng có nước đôi như dao cắt đậu hũ. Trong phủ này người ta đã coi nhà mẹ đẻ tôi chết sạch từ lâu rồi, anh chị đến mới là chuyện lạ. Lúc giàu sang phú quý thì chẳng thấy đâu, đến khi sa cơ nghèo hèn lại mò tới cửa.”
Chị dâu nghẹn họng không nói được lời nào. Anh trai tức đến đỏ bừng mặt mày: “Tôi nói một câu, em đừng khó nghe, nếu không phải cha mẹ trước lúc lâm chung có dặn dò, thấy mấy năm nay em sống một mình ở Thượng Hải cô quạnh đáng thương, tôi còn lâu mới thèm đến!”
Nói xong anh ta phất tay áo, dắt Quế San quay đầu đi thẳng ra ngoài không ngoảnh lại. Chị dâu lắp bắp: “Cô bớt giận… ơ, Quế San…”
Rồi chị ta vội vàng theo sát phía sau, Minh Phượng cũng cuống quýt chạy ra tiễn khách.
Trong phòng lại trở về tĩnh lặng, không biết từ đâu chui ra mấy con muỗi, vo ve bay vòng quanh Anh Trân. Cô buông thõng tay ngồi thừ ra đó, môi khô khốc, dính chặt vào nhau như bị dán keo, tách mãi không ra. Trước mắt cô lách tách tóe lên những đốm sáng, không biết đã qua bao lâu mới dần tối lại.
Mu bàn tay ngứa ngáy dữ dội, cô dùng móng tay gãi mạnh, bị đốt sưng lên một cục to.
Muỗi cuối thu, quả nhiên độc thật.
HỒNG LOAN HY – CHƯƠNG 6
Chương 6: Nhiếp Vân Phiên
*
Minh Phượng tiễn họ ra khỏi sân, cô ấy dừng lại, đưa tay chỉ đường, bảo cứ đi thẳng là tới cổng trước.
Chị dâu để chồng dắt Quế San đi trước, mình thì nở nụ cười lấy lòng, nói: “Phiền cô lát nữa thay tôi xin lỗi cô ấy giúp, nói thêm vài lời. Anh trai cô ấy miệng dao lòng đậu hũ, mấy năm nay vẫn luôn canh cánh trong lòng, chỉ vì bận rộn không rút ra được, giờ sa sút rồi lại ngại mặt mũi nên chẳng dám tới thăm. Lần này khó lắm tôi mới kéo được anh ấy đi theo, thật ra trong lòng mừng lắm. Dù sao cũng chỉ có một đứa em ruột, mà cô ấy cũng chỉ có một người anh ruột. Cha mẹ mất rồi, anh em gặp lại, nói được vài câu, sau này nghĩ lại cũng là một kỷ niệm. Nhờ cô bảo cô ấy nguôi giận, ít bữa nữa tôi sẽ tới nhận lỗi.”
Minh Phượng đáp lời. Chị dâu lại nói tiếp: “Cô cũng giúp tôi xin lỗi bà cụ, cậu và cô Mỹ Quyên nữa. Chúng tôi đi vội quá, đến mặt cũng chưa kịp gặp, không phải cô ấy tiếp đãi không chu đáo, là lỗi của chúng tôi. Để lần sau cùng đến tạ lỗi.”
Minh Phượng nghe xong liền cười: “Bà đừng lo. Trong phủ này, cậu là người có tiền đồ nhất, mà họ hàng bên ngoại của mợ đến, bà cụ còn chẳng tiếp. Cậu thì chơi bời bên ngoài dữ lắm, muốn gặp cũng khó tìm thấy người. Còn tiểu thư tính tình cổ quái, không thích giao tiếp, người không thân quen thì nhất loạt không gặp.”
Chị dâu “ồ ồ” mấy tiếng rồi hỏi: “Mỹ Quyên cũng không còn nhỏ nữa nhỉ, vẫn chưa lấy chồng sao?”
Minh Phượng đáp: “Năm nay hai mươi rồi. Dạo này mợ đang thay cô ấy xem mối. Trước đó còn xem cho cậu con trai của Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ. Nếu thành thì nhà ngũ phòng chúng tôi coi như có ngày ngẩng đầu.”
Chị dâu ghi nhớ trong lòng, cáo từ xong liền đuổi theo họ.
Vừa bước qua ngạch cửa, phía sau đã nghe “rầm” một tiếng, cánh cổng đỏ thẫm đóng sầm lại, đôi khoen cửa hình thú màu xanh cổ rung lên leng keng không ngớt.
“Ối, áo của tôi!”
Một vạt áo bào của anh trai bị kẹt trong khe cửa, giật mấy cái không ra, đập cửa mạnh cũng chẳng có ai đáp. Ngược lại, một gã làm công trong cửa hàng đồ gỗ bên kia đường ngoái sang nhìn, còn gọi thêm mấy người khác lại, chỉ trỏ bàn tán.
Hai người đành nén giận ngồi xổm xuống, đầu chụm đầu. Anh trai kéo thẳng vạt áo, chị dâu dùng đầu móng tay cạy từng chút một. Loay hoay hồi lâu mới rút ra được. Anh trai bật dậy, máu dồn thẳng lên đầu, vội vàng nắm lấy cánh tay chị dâu, trong đầu ong ong. Ánh hoàng hôn chiếu thẳng vào mắt, anh nhắm lại rồi mở ra, trước mặt mới rõ ràng. Anh hất tay người đàn bà ra, sải bước đi nhanh, đến khi rẽ qua góc đường mới dừng lại.
Bên đường có một bà lão trông cái thúng, bán kẹo lê cao tự nấu. Anh quay đầu thấy người đàn bà và Quế San còn ở xa tít phía sau, liền móc tiền trong tay áo mua ba bốn miếng kẹo lê cao, đứng ven đường ăn. Toàn bỏ đường trắng mềm, ngọt đến dính cổ họng.
Đợi hai mẹ con mồ hôi đầm đìa đi tới, anh đưa chỗ kẹo còn lại cho Quế San. Nhìn người đàn bà, lửa giận bốc lên trong lòng, anh ta hạ giọng chửi: “Rảnh hơi cái gì! Chính là cô đòi tới tìm nó, tìm hay lắm, còn thua cả sai chó đi.”
Chị dâu lại trách anh ta: “Anh chấp với nó làm gì! Tai trái nghe, tai phải bỏ, coi như chưa nghe thấy không được sao! Mười năm rồi, thứ cần tan cũng tan hết rồi, chẳng qua chỉ còn chút hơi thừa ở miệng chai. Cứ để nó xả cho đã, xả xong là thôi. Cớ gì phải tranh cãi với nó, để rồi tự nghẹn lại trong lòng.”
Anh trai phun bãi đờm xuống nắp cống, cổ họng nhớp nháp: “Tôi còn phải nâng niu nó nữa chắc? Cái bộ dạng sa sút ấy, đáng để tôi nâng niu à!”
Chị dâu nói: “Dù sao trước kia cậu cũng từng làm việc trong chính phủ, qua lại với cô ấy toàn là phu nhân quan lớn, phu nhân nhà giàu. Nghe con hầu nói, dạo trước còn xem mối cho Mỹ Quyên với cậu ấm nhà Bộ trưởng Tài chính. Nếu thành, đúng là chim sẻ hóa phượng hoàng. Giờ tôi cũng chẳng mong cô ấy cho tiền cho của, chỉ cần giúp đỡ, tìm cho Quế Xảo một mối hôn sự ở Thượng Hải, vậy là tôi mãn nguyện rồi.”
Quế Xảo là con gái thứ ba của chị ta, chị ruột của Quế San, mười chín tuổi, dung mạo cũng coi như có chút nhan sắc, lòng dạ lại cao.
Anh trai cô không cho là đúng: “Cô lo chuyện bao đồng quá rồi.”
Trong phòng không thắp đèn, lại quay mặt về hướng bắc, nắng chiều xế xuống, ánh sáng u ám tụ lại thành một vệt khói xám trước chiếc trường kỷ thấp. Con hầu A Xuân ngồi ở mép giường, cầm que chọc thuốc khẽ khều khều nhựa thuốc trong lỗ tẩu. Lửa lên, khối thuốc mềm ra, sôi lục bục từng bọt nhỏ. Nhiếp Vân Phiên nằm nghiêng, đầu gối lên chiếc gối mềm màu xanh sẫm thêu hoa cúc móng cua, hút hết hơi này đến hơi khác, toàn thân khoan khoái thư thái. A Xuân chăm chú đốt thuốc, chót bím tóc thô đen thỉnh thoảng quệt qua má hắn, hắn không nhịn được khẽ hừ một tiếng cười: “Đi đi, lấy trà lại đây.”
A Xuân đặt que chọc thuốc xuống, cầm ấm rót trà, nâng lên đưa sát miệng hắn. Hắn ngửa cổ uống chầm chậm, đôi mắt đen sâu thăm thẳm vẫn dán chặt lên người nàng, trên mặt phảng phất vẻ lười nhác phóng túng. Hắn tiện tay cầm que thuốc hơ trên đèn, rồi ghé sát vào chót bím tóc ả, “xèo” một tiếng khẽ vang lên. A Xuân đang đút trà cho hắn, không dám cử động, chỉ bĩu môi, son phấn bôi đỏ hồng.
Trà vừa uống xong, Nhiếp Vân Phiên đã túm lấy eo ả kéo vào lòng, tiện tay đưa cán tẩu sát bên miệng ả: “Ăn một miếng, em cũng ăn một miếng.”
A Xuân cười hì hì, lách tới vặn lui như con cá trơn tuột. Nhiếp Vân Phiên dùng bảy phần sức để ghì ả lại, cán tẩu lắc lư, bọt thuốc nhỏ xuống đèn, xèo xèo lách tách như rang bỏng, mà chẳng ai buồn để tâm.
Ngoài rèm, người hầu bẩm: “Mợ đã về.”
Anh Trân bước vào phòng, “tách” một tiếng vặn sáng ngọn đèn. Liếc mắt đã thấy Nhiếp Vân Phiên đang hút thuốc phiện. A Xuân đứng dậy, vội bước tới trước mặt cô, cúi người chào một lễ, gọi: “Thưa mợ.”
Bím tóc ả xù xì, áo màu nguyệt bạch bó chặt lấy eo, chỗ thắt vào in hằn một dấu tay vàng vọt dính dầu. Anh Trân coi như không nhìn thấy, gật đầu một cái, đặt chiếc túi xách lên mặt bàn trang điểm. A Xuân lặng lẽ lui ra.
Nhiếp Vân Phiên nằm đó nhìn cô. Cô mở tủ lấy ra một chiếc sườn xám ca-rô năm màu, nửa mới nửa cũ nhưng được là phẳng phiu, không một nếp nhăn, treo cả mắc áo lên lưng chiếc ghế mây cũ. Cô giơ tay tháo hàng nút vải, từng chiếc một, từ cổ xuống tận nách; cánh tay thon dài uốn thành đường cong duyên dáng. Rồi từ vai, chậm rãi trút xuống. Sườn xám lụa mỏng manh lắm, chỉ hơi dùng sức là đường chỉ ở mép đã có thể rách. Cô cúi người xuống, lưng thon như liễu, mông tròn như đào chín, hai chân dài mảnh. Thực ra bên trong còn một chiếc váy lót ren trắng, mỏng như cánh ve, mặc hay không mặc cũng chẳng khác là bao. Vốn dĩ cô trắng trẻo như tượng tuyết.
Nhiếp Vân Phiên thầm nghĩ, vị phu nhân này quả thật biết cách giữ nhan sắc: dung mạo thanh tú mà quyến rũ, vóc dáng đẫy đà vừa độ. Mười mấy năm trôi qua như tên bắn, anh chị em trong nhà sinh nở xong đã sớm già đi, đến cả ba phòng thiếp theo hắn, nay cũng béo tốt đến mức khó nhận ra. Trong lúc hắn còn đang mải nghĩ, cô đã mặc xong chiếc sườn xám ca-rô, ngồi xuống trước gương, cẩn thận tháo những chiếc kẹp tóc xen-lu-lô đủ màu trên đầu.
Nhiếp Vân Phiên đặt cán tẩu xuống, uống một ngụm trà, rồi xỏ dép đi tới trước mặt Anh Trân, dựa vào bàn trang điểm khoanh tay nhìn cô, mở miệng nói: “Ở phòng bà cụ, tôi gặp bà ba, cô ấy hỏi tôi bí quyết sao cô mãi không già. Cô nói xem, lần sau tôi gặp lại cô ấy, tôi nên trả lời thế nào?”
Anh Trân vẫn chải tóc: “Đừng tranh hơn thua, đừng lúc nào cũng muốn đè người khác một đầu, đó là phương thuốc tốt nhất.”
Nhiếp Vân Phiên không nhịn được bật cười, lại hỏi: “Đã gặp anh chị cô rồi à? Còn ở phòng khách không? Tối nay tôi mời họ ra Hoa Mậu ăn hải sâm lớn nấu tôm.”
Anh Trân lạnh nhạt đáp: “Họ đi rồi.”
Nhiếp Vân Phiên tặc lưỡi hai tiếng, giọng đầy tiếc rẻ: “Mười mấy năm chưa gặp, đáng lẽ có nhiều chuyện để nói, sao lại vội vã đi thế?”
“Sợ không kịp chuyến tàu cuối đi Kim Sơn.”
Nhiếp Vân Phiên chẳng coi là gì: “Tôi lái xe đưa họ ra Kim Sơn một chuyến, có gì to tát đâu.”
Anh Trân liếc nhìn hắn trong gương. Hắn mặc áo dài gấm xanh nhạt, khoác mã quái hoa mây bạc, tóc chải ngược hết ra sau, đen bóng. Hắn không xấu, có đôi mắt trũng sâu màu nâu xám giống hệt bà cụ. Thời gian đủ đầy đã bồi thêm vào hắn vô số từng trải thế sự, khiến hắn trông trầm tĩnh sâu kín, khiến người ta không nhìn thấu, cũng chẳng đoán ra.
Đó chính là thủ đoạn quen thuộc của hắn, dùng để lừa cả đàn bà lẫn đàn ông.
Cô nhìn rõ như soi gương.
HỒNG LOAN HY – CHƯƠNG 1
Chương 1: Gặp cố nhân
*
Trên đại lộ có một quán cà phê Mars, do người Do Thái gốc Tô Châu mở. Nhân viên phục vụ là một cô gái trẻ, gương mặt tròn trịa, lúc nào cũng tươi cười, chẳng biết vui vì điều gì, nói giọng Tô Châu ngọt lịm như thể cổ họng được rót đầy kem sữa.
Mỗi khi đến khoảng hai, ba giờ chiều, quán vắng khách, thường ngày cô gái ấy sẽ tắt bớt mấy dãy đèn. Hôm nay có hai vị khách, cô bật hết đèn lên, nhưng vẫn toát ra vẻ quạnh quẽ.
Anh Trân vừa ngồi xuống chiếc bàn sát cửa sổ thì cảm thấy bên ngoài ánh sáng mang một sắc vàng khô cháy rực rỡ. Đến khi thật sự nhìn ra, cô mới phát hiện trời âm u. Thứ cô cảm thấy sáng ấy, thực ra đến từ hai hàng cây ngô đồng Anh ven đường. Vừa qua Trung thu, những chiếc lá to bằng bàn tay rơi xuống từng mảng lớn, phủ kín mặt đất, vàng óng rực rỡ, lớp này chồng lên lớp kia, dày xốp, mang theo một cảm giác nặng nề, như một tòa lầu bằng lá sắp nhổ bật khỏi mặt đất, rồi lại bị bước chân người qua đường vội vã giẫm nát thành hư không.
Trước mắt Anh Trân bỗng tối sầm lại, Mỹ Quyên đã ngồi xuống. Vừa rồi cô đứng trước quầy kính chọn bánh ngọt, loại nào trông cũng tinh xảo, muốn gọi món quen đã ăn rồi, lại muốn thử cái mới, vì thế do dự khá lâu.
Nhân viên đến hỏi gọi món gì, Anh Trân nói: “Hai ly cà phê, hai phần bánh kem hạt dẻ.”
Bình thường cô sẽ không hào phóng đến vậy, nhưng lát nữa bà Triệu đến, thể diện vẫn phải giữ.
Mỹ Quyên được đà lấn tới: “Con muốn ăn bánh siffeni chocolate.”
Anh Trân giả như không nghe thấy, vẫn nói: “Chỉ hai phần bánh kem hạt dẻ!”
Mỹ Quyên bĩu môi, nhân viên cười hì hì: “Bánh siffeni chocolate cũng ngon lắm đó ạ!”
Anh Trân có phần mất kiên nhẫn: “Không ngon thì có trả được không?”
Nhân viên lắc đầu, cười rồi rời đi.
Mỹ Quyên bắt đầu giận dỗi, không muốn nói chuyện, mặt không biểu cảm, cúi đầu cạy móng tay.
Một tiểu thư được giáo dưỡng đàng hoàng nào lại cạy móng tay giữa chốn đông người! Anh Trân định mắng con, nhưng lại nhịn xuống. Giờ không phải ở nhà, bà Triệu sắp tới rồi, cô vẫn hy vọng mình và Mỹ Quyên có thể biểu hiện ra bộ dạng mẹ con hòa thuận.
Cô nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc, đến khi có một người ăn xin đứng ngoài kính cũng nhìn chằm chằm vào cô, mới thu ánh mắt lại, rơi lên người Mỹ Quyên, cố gắng dùng giọng ôn hòa nói: “Trước mặt bà Triệu, đừng cạy móng tay nữa.”
Mỹ Quyên không ngẩng mắt, ậm ừ một tiếng, đưa đầu ngón tay lên miệng, hé môi dùng răng mài mấy cái, lộ ra vẻ ngỗ nghịch bất kham.
Anh Trân chỉ thấy hai má nóng bừng, máu dồn lên mặt. Biết rõ con bé là cố ý chọc tức cô, vậy mà cô vẫn mắc bẫy! May mà đúng lúc này nhân viên mang cà phê nóng cùng bánh ra.
Uống hai ngụm cà phê, cô mới dần bình tĩnh lại, liếc nhìn Mỹ Quyên qua hàng mi. Đứa trẻ này từ lúc sinh ra đã ngày càng giống cha nó, chẳng thừa hưởng được từ cô nửa phần dung mạo.
Ngay cả tính cách cũng có xu hướng giống hệt.
Điều đó khiến cô thất vọng đến cực điểm, kéo theo tình cảm dành cho Mỹ Quyên cũng trở nên nhạt nhẽo, không lạnh lùng mà cũng chẳng thân thiết.
Chuông gió trước cửa quán leng keng vang lên không ngớt, có người bước vào.
“Chị à!”
“Ôi! Bà Triệu!” Anh Trân đặt ly cà phê xuống, đứng dậy, nghiêng mặt cười thân thiết chào hỏi, nửa khuôn mặt còn lại thì hung dữ nhìn về phía Mỹ Quyên. Mỹ Quyên đặt chiếc thìa bạc nhỏ xuống, miễn cưỡng đứng lên, gọi một tiếng: “Dì ạ.”
Bà Triệu vội cười đáp: “Đây là Mỹ Quyên à!”
Rồi lại quay sang Anh Trân nói: “Chị cứ gọi em như trước kia là em đi, gọi bà Triệu nghe xa lạ quá.”
Nghe đến bốn chữ “như trước kia”, trong lòng Anh Trân như bị ong chích một cái, nhưng rất nhanh đã che giấu đi. Cô mỉm cười nói: “Cung kính không bằng tuân mệnh.”
Vừa nói vừa hờ hững giơ cánh tay lên, chiếc vòng ngọc bích khẽ lay động: “Em à, mời ngồi.”
Bà Triệu ngồi xuống bên cạnh Anh Trân. Nhân viên lại đến hỏi gọi gì, Anh Trân theo thói quen gợi ý: “Bánh kem hạt dẻ ở đây cũng được lắm, vị ngọt dịu.”
Trước khi lấy chồng, cô và bà Triệu thường quấn quýt bên nhau, là bạn thân thiết. Lại thêm gia thế của cô hiển hách hơn, nên chuyện gì bà Triệu cũng nghe theo cô, nói là cúi đầu răm rắp cũng không quá.
Bà Triệu không tỏ rõ thái độ, chỉ “ừ” một tiếng, rồi ngẩng đầu nói với nhân viên: “Một ly cà phê, một phần bánh siffeni chocolate.”
Anh Trân từng cười chê bà là cổ ngắn, nhưng lúc này lại phát hiện cổ bà dường như đã phát triển lần hai. Chiếc sườn xám cổ đứng tròn ngày trước không dám mặc giờ cũng đã khoác lên người, cổ áo dựng cao ít nhất một tấc, viền xanh biếc, còn để lộ nửa đoạn cổ trắng ngọc. Hai người đều là người Tô Châu, làn da trắng như bánh nếp nước, trắng mà ánh lên sắc xanh nhàn nhạt.
Đợi nhân viên rời đi, bà Triệu mới cười với Anh Trân: “Chị nên thử bánh siffeni chocolate của họ đi. Trước kia em cũng chỉ ăn bánh hạt dẻ thôi, là bà Mã nhắc em đấy, bảo ăn bánh hạt dẻ là lỗi thời rồi.”
Chồng của bà Mã là tư lệnh Sở Dân chính. Mấy năm trước khi chồng Anh Trân còn làm quan, cô từng gặp bà ta vài lần trong các buổi tụ họp của các phu nhân, thời thượng, kiêu kỳ, rất ít khi để mắt đến người khác.
“Em biết chị là người nặng tình, lại hoài cựu nhất. Bánh hạt dẻ ăn quen rồi thì không thích đổi sang món khác.”
Anh Trân nói vậy để giải thích rằng cô không phải lạc hậu, mà là do tính cách.
Bà Triệu hừ nhẹ một tiếng không rõ ràng, ánh mắt thoáng lóe lên một ý vị khó đoán.
Anh Trân lập tức nói: “Em đừng nghĩ nhiều!”
Nói xong lại thấy hối hận, nghe như che giấu điều gì đó.
Lúc này cô thà để bà Triệu nghĩ rằng cô đã lạc hậu còn hơn.
Tiếng thìa bạc chạm vào bát sứ lanh canh, càng khiến thần kinh cô thêm nhức nhối. Cô cau mày nhìn sang Mỹ Quyên, khuôn mặt phồng lên vì giận, chỉ vì một miếng bánh siffeni chocolate mà tủi thân đến mức sắp khóc.
Chỉ có chút tiền đồ ấy thôi sao! Dẫu gì cũng mười tám tuổi rồi, mấy năm ở trường học chỉ biết lêu lổng, chẳng thấy tiến bộ gì, tầm mắt nông cạn, y hệt cha nó.
Bà Triệu cũng nghiêng đầu quan sát Mỹ Quyên, rồi lại nhìn sang Anh Trân, cằm khẽ nhúc nhích, cười nói: “Mỹ Quyên trông không giống chị lắm.”
Anh Trân cũng cười theo: “Không chỉ là không giống, mà là hoàn toàn không giống. Em xem chị lúc chưa lấy chồng, một bím tóc to vừa đen vừa dày, không thoa chút dầu hoa quế lên thì bông xù như đám mây. Còn nó thì sao, hai bím cộng lại còn không bằng một bím của chị, ép sát da đầu, mỏng dính. Gọi nó là con bé tóc vàng cũng chẳng sai.”
Mỹ Quyên lầm bầm trong cổ họng một câu: “Tóc nhiều thì có gì hay ho, suốt ngày làm nghẹt miệng cống, kéo một cái là rụng cả nắm, nhìn đã thấy ghê!”
Anh Trân tiếp lời than phiền: “Em nhìn mắt nó xem, mí đơn, tròng mắt xám nâu, đuôi mắt lại xếch ngược vào tận thái dương, trông vừa kỳ vừa quái.”
Bà Triệu cười nói: “Dẫu không được rực rỡ như mắt phượng của chị, nhưng mắt con bé lại có mấy phần giống người Tây.”
Mỹ Quyên đáp: “Cha con nói bà cố là người Liên Xô, mấy đời trước chẳng sao cả, đến đời con thì lại phản tổ, chuyện này trách con sao được.”
Anh Trân giọng đầy mỉa mai: “Người Tây mũi cao thẳng, sao mũi con lại như chất một tép tỏi lên đó thế kia.”
Mỹ Quyên không chịu thua: “Mũi chủ về tiền đồ, mũi tỏi là tướng phúc bẩm sinh. Mũi mẹ cao thẳng thì được ích gì, mẹ chẳng phải ngày nào cũng than số khổ đó sao!”
Bà Triệu bật cười phì một tiếng: “Hai người tuy không giống nhau về dung mạo, nhưng cái kiểu cô một câu tôi một câu, lanh mồm lanh miệng thế này, thì đúng là mẹ ruột con ruột thật.”
Rồi bà quay sang Anh Trân thở dài, chỉ vào Mỹ Quyên nói: “Chị xem cái dáng vẻ hoạt bát này của nó, so với chị lúc mười bảy tuổi thì có khác gì đâu!”
Anh Trân im lặng giây lát, lấy ví ra, rút hai tờ tiền giấy đưa cho Mỹ Quyên: “Con về nhà trước đi.”
Mỹ Quyên đang mong được rời đi sớm, liền nhận lấy tiền, uống nốt chút cà phê còn lại, vui vẻ chào bà Triệu một tiếng, rồi như chim sổ lồng, tung tăng bay mất.
HỒNG LOAN HY – CHƯƠNG 2
Chương 2: Nói chuyện
*
Từ khi gả đến Thượng Hải, Anh Trân đã cắt đứt liên lạc với nhà mẹ đẻ ở Tô Châu. Bên nhà ngoại vốn không mang tư tưởng con gái gả đi là bát nước hắt ra ngoài, những năm đầu vẫn thỉnh thoảng gửi thư sang, nhưng cô chẳng buồn bóc, cầm lên là ném thẳng vào bếp lửa.
Về sau, khi sinh Mỹ Quyên và đang ở cữ, nhà mẹ đẻ gửi tới một bức thư, không đề tên cô, mà ký là con rể Nhiếp Vân Phiên. Đến lúc ấy cô mới hay cha mẹ đã lần lượt qua đời. Nghe tin xong, cô không biểu lộ cảm xúc gì, rất nhanh đã gạt sang một bên, bởi khi đó cô đang tập quấn “bao nến” cho đứa trẻ. Tay chân nhỏ xíu, mảnh mai và giòn tan, dường như chỉ cần dùng mạnh một chút là sẽ rắc một tiếng gãy lìa. Lại đặc biệt không yên, đạp loạn tay chân, tay trái vuốt thẳng thì tay phải lại co, chân phải duỗi ra thì chân trái lại rút về.
“Sinh ra đúng là của nợ!”
Cô nghiến răng mắng, thế nào cũng không làm xong, cuống đến mồ hôi đầm đìa. Bà đỡ được mời tới chỉ khoanh tay đứng bên, dùng miệng chỉ dẫn, mấy người chị em dâu khác cũng chẳng coi là chuyện gì to tát.
Đại khái là vì sinh con gái, nếu là con trai thì đã khác rồi.
Cô đã khóc mấy trận thật to. Về sau soi gương, chỉ thấy đôi mắt mình không còn trong trẻo như trước nữa, phụ nữ ở cữ không tốt, vừa hại thân vừa chóng già.
Cô vẫn tưởng cả đời này sẽ không bao giờ gặp lại Vương Ngọc Cầm, tức vị bà Triệu ấy.
Cho đến buổi tụ họp vào tuần trước.
Vợ của trưởng phòng Lý, thuộc phòng Thanh tra Sở Cảnh sát, rất thích làm mối cho người khác, gọi điện cho cô, nói trong tay có một chàng trai trẻ du học nước ngoài về, tên là Diêu Tô Niệm, hai mươi lăm tuổi, hiện còn độc thân. Cha anh ta giữ chức Bộ trưởng Tài chính của chính phủ, mẹ là bà Diêu, có quen biết với bà, nhờ bà để ý xem có cô gái phù hợp hay không. Lại hỏi nếu Mỹ Quyên vẫn chưa có đối tượng, thì không ngại đến nhà bà gặp mặt một lần.
Anh Trân thầm nghĩ, hơn phân nửa là bà Lý đang tự dát vàng lên mặt mình, với thân phận như bà ta, sao có thể quen thân với phu nhân Bộ trưởng Tài chính chứ? Có lẽ người ta chỉ buông một câu xã giao, bà ta đã lông gà làm lệnh tiễn, khúm núm liếm láp như chó săn.
Dẫu trong lòng khinh thường lời ăn tiếng nói của bà Lý, nhưng cô cũng không khỏi động tâm. Nếu trèo được lên mối hôn sự này, chẳng khác nào bánh từ trên trời rơi xuống.
Cô đặc biệt dẫn Mỹ Quyên đến tiệm sườn xám Hồng Tường trên đại lộ lớn may một bộ, chọn kiểu mốt nhất, lại lôi những món trang sức cất đáy rương ra cho con đeo, trang điểm kỹ càng, nhìn qua cũng ra dáng ra vẻ.
Hôm ấy mưa âm u dầm dề, sợ làm bẩn sườn xám và lớp trang điểm, cô không dám gọi xe kéo, chỉ lật tấm bạt nhựa phủ trên ô tô ra. Nay giá xăng đắt đỏ, nhà cô không kham nổi, đã lâu chẳng dám dùng đến.
Đến trước cửa nhà bà Lý, cô giúp Mỹ Quyên chỉnh lại mái tóc mái trước trán, lại vuốt phẳng những nếp nhăn nơi eo chiếc sườn xám do ngồi tạo ra, lúc này mới tươi cười bước vào phòng khách. Nhưng nụ cười ấy chỉ giữ được trong chốc lát.
Bà Lý dĩ nhiên không chỉ mời mỗi Mỹ Quyên. Với tâm thế thu nhiều cá, giăng lưới rộng, trong phòng khách đã có không ít tiểu thư, ai nấy đều ăn diện rực rỡ như hoa. Người quen thì tụm lại trò chuyện, người không quen thì ngồi rải rác, hoặc uống cà phê, hoặc đọc sách, thậm chí chỉ ngồi yên một cách tao nhã.
Cùng lúc Anh Trân và Mỹ Quyên bước vào phòng khách còn có bà Mã và cháu gái bà ta. Dăm ba bà phu nhân nhanh chóng vây quanh chào hỏi, chen ép hai mẹ con sang một bên. Cũng chẳng biết là ai giẫm lên mu bàn chân phải của Anh Trân, cô cúi đầu nhìn, chiếc tất thủy tinh trắng muốt đã in một vệt bùn nhạt.
Cơn giận bốc lên, cô chỉ cảm thấy mình bị sỉ nhục đủ đường, oán hận sự lừa gạt của bà Lý. Cô ngẩng mặt lên, xuyên qua những lọn tóc uốn sóng của đám phụ nữ ấy, nhìn về phía cháu gái của bà Mã, chỉ chừng mười sáu, mười bảy tuổi, là một mỹ nhân lai, giống hệt búp bê Tây bày bán trong cửa hàng, tinh xảo lại ngoan ngoãn, khiến người ta không khỏi thương yêu.
Mỹ Quyên nhìn thấy bạn học của mình, liền hồ hởi bước tới chào hỏi, hai người thì thầm ríu rít. Anh Trân nhìn sang vị tiểu thư kia, vì có Mỹ Quyên đứng bên làm nền, dung mạo của cô gái ấy lại càng thêm thanh tú. Lòng cô chìm thẳng xuống đáy vực, dâng lên một cảm giác khó diễn tả thành lời.
Cũng đúng vào lúc ấy, cô nghe bên cạnh có người cất tiếng hỏi, giọng không chắc chắn: “Chị là Anh Trân phải không?”
Anh Trân nghiêng đầu nhìn, là một bà phu nhân trạc tuổi cô, mặc một chiếc sườn xám lụa Ninh màu xanh mực, eo còn thon hơn cô, trước ngực thêu một đóa ngọc lan. Làn da trắng trẻo, ngũ quan tuy không sắc nét nhưng dịu dàng, tạo cảm giác dễ gần. Giữa hai hàng mày có một nốt ruồi son, cười lên lộ ra hàm răng không được đều lắm.
Cô giả vờ ngần ngừ: “Ồ, là Ngọc Cầm à! Bao nhiêu năm không gặp, suýt nữa chị không nhận ra.”
Anh Trân cảm thấy việc chạm mặt bà Triệu là một chuyện cực kỳ tệ hại.
Hơn hai mươi năm nay cô đoạn tuyệt ân nghĩa với huyết thân, tuyệt nhiên không nhắc đến nhà mẹ đẻ. Ngay cả người hầu trong nhà, có người quê An Huy, Hà Nam, Tô Bắc, người Thượng Hải bản địa, duy chỉ không dùng người Tô Châu, dẫu ai cũng biết người hầu Tô Châu chăm chỉ, lanh lợi, chịu khó nhất.
Cô đang che giấu một vụ phong nguyệt cũ đã xảy ra khi còn là thiếu nữ chưa xuất giá.
Năm tháng trôi qua làm ký ức nhạt phai, đến cả cô đôi lúc cũng hoang mang, chuyện ấy có thật hay không! Hay chỉ là một trích đoạn Côn khúc từng nghe qua: trong từ đường nhà mình, ánh nắng buổi trưa lách qua những ô cửa hoa văn hình thoi ba ngang sáu dọc, rơi thành từng vệt vằn vện sáng tối lay động; trong ánh sáng ấy là sắc vàng của rượu cũ trong chén cha cô, phủ đầy bụi thời gian, rọi xuống người thư sinh đang chống cằm khổ đọc trên sân khấu; có một tiểu thư vén rèm lén nhìn chàng, mày liễu mắt hạnh, gò má tô đỏ phấn trắng.
Nhưng sự xuất hiện của bà Triệu đã một tay xé toạc tấm màn dịu dàng kia, phơi ra vết thương cũ từ bao năm trước. Lớp vảy vẫn còn đó, năm tháng bao lâu, vảy dày bấy nhiêu; vừa lật ra là đau bấy nhiêu, máu lập tức trào lên, tươi mới đến ghê người.
“Chị ơi? Chị ơi!”
Anh Trân giật mình hoàn hồn. Trước mặt là bà Triệu, gương mặt tròn hơn xưa, khóe mắt đã hiện nếp nhăn, trán nhẵn bóng, tóc đen chải ngược gọn ra sau, búi thành kiểu cúc hoa sau đầu. Chỉ có nốt ruồi son giữa mày và hàm răng không đều kia là dấu hiệu cho thấy bà chính là Vương Ngọc Cầm, người bạn thêu thùa thuở trước, kẻ hiểu rõ quá khứ của cô đến không sót điều gì.
Bởi vậy, khi bà Triệu gọi điện đến nhà đề nghị gặp mặt ôn chuyện cũ, Anh Trân trăm bề không muốn, nhưng ngoài mặt vẫn cười đáp lời, còn nhiệt tình đề nghị hẹn ở quán cà phê Mars trên đại lộ, nơi có món bánh kem hạt dẻ rất ngon.
Cô nhấp một ngụm cà phê, thuận miệng hỏi: “Em rể có đến Thượng Hải không?”
Lần trước ở nhà trưởng phòng Lý, hai người còn chưa kịp hàn huyên mấy câu thì bà Triệu đã bị kéo đi mất, dường như có không ít phu nhân muốn kết giao với bà.
Cô bèn kín đáo dò hỏi, mới biết Triệu Thúc Bình là tham mưu cao cấp của Bộ Tham mưu, nắm thực quyền trong tay, lại thân giao với Bộ trưởng Tài chính Diêu Khiêm; hai người cùng du học rồi về nước phục vụ chính phủ, thậm chí dinh thự ở kinh thành cũng ở cạnh nhau, qua lại nâng đỡ.
Anh Trân không ngờ Ngọc Cầm lại lấy được chồng tốt đến vậy. Cảm giác mây bùn cách biệt năm xưa nay đảo ngược hoàn toàn, khiến lòng cô dâng lên đủ mùi vị khó nói.
Bà Triệu cười đáp: “Anh ấy không đến. Em ở Nam Kinh lâu ngày chán quá, đúng lúc bà Diêu lo không yên về con trai, muốn lên Thượng Hải trông chừng nó, em bèn theo cùng.”
Rồi bà Triệu tiện miệng nói thêm: “Chị ấy có một dinh thự ở đường Nhị Mã, em mượn chỗ cũng ở trong đó.”
Anh Trân giữ vẻ chừng mực: “Dinh thự ở đường Nhị Mã thì đắt lắm!”
Bà Triệu sững người: “Ý chị là sao?”
Anh Trân lập tức hiểu ra: “Khu đó vị trí tốt, tấc đất tấc vàng, dinh thự nào cũng đắt cắt cổ.”
Bà Triệu nói: “Ra là vậy! Em ở Nam Kinh lâu rồi, nghe em nói toàn giọng Nam Kinh nhé. Bà Mã phải chiều em, nói tiếng phổ thông, cái vẻ gượng gạo ấy, em còn sợ chị ấy trẹo lưỡi. Em bảo em nói được tiếng Tô Châu, chị ấy mới thở phào, nói tiếng Thượng Hải với tiếng Tô Châu khác nhau chẳng bao nhiêu, chị ấy nói Thượng Hải, em nói Tô Châu, thế mà đúng thật!”
Hai người nhìn nhau cười. Chuông gió trước cửa leng keng vang lên, một cậu công tử đội mũ lưỡi trai thò đầu vào nhìn thử, rồi lại nhanh chóng rụt đi.
Anh Trân tuy đang cười, nhưng vẫn cảm nhận được trong lời nói của bà Triệu lộ rõ vẻ đắc ý. Cô mím môi, nói: “Nghe thì có vẻ giống, chứ thực ra khác nhiều lắm.”
Bà Triệu “ừ” một tiếng, thần sắc nửa tin nửa ngờ.
Anh Trân thầm nghĩ, sự nhiệt thành chỉ nghe lời mình của bà Triệu năm xưa, hóa ra chẳng qua là vì kính sợ gia thế quyền quý của cô. Lột bỏ lớp áo hoa lệ ấy đi, nay cô ta lại đang lên thế, tự nhiên quay mặt không nhận người.
Cô dùng thìa bạc xắn một miếng kem cho vào miệng, vừa chạm lưỡi đã tan, mang theo vị ngọt nhạt, thong thả nói: “Em xem, đến ‘lão giá điền’ mà em còn nghe không hiểu, sao lại bảo giống được! Bà Mã là người phương Bắc, học tiếng Thượng Hải sau này, nói toàn thứ Thượng Hải lai căng, vậy mà cứ tưởng ‘giống’ là ‘đúng’, thật là khiến người ta bật cười.”
Bà Triệu không đáp, lặng im một lát, rồi dứt khoát chuyển đề tài, vừa uống cà phê vừa hỏi: “Anh rể dạo này vẫn ổn chứ?”
HỒNG LOAN HY – CHƯƠNG 3
Chương 3: Nhờ cậy
*
Anh Trân thở dài nói: “Trước kia anh ấy làm thư ký ở tòa án, chủ yếu ghi biên bản lấy lời khai, sắp xếp hồ sơ, thỉnh thoảng còn kiêm luôn việc hành chính lặt vặt. Tất cả cũng nhờ hồi còn học tư thục, anh ấy luyện được một tay chữ thể các bộ rất đẹp. Bây giờ thì suốt ngày ở không trong nhà, cũng chẳng ra ngoài tìm việc. Tháng trước có bạn rủ hùn vốn mở xưởng, nhưng bà cụ trong nhà sống chết không đồng ý, nói là làm nhục gia phong, bà rất coi thường giới buôn bán.”
Nói thì nói vậy, cũng là tự tô son trát phấn cho mình. Thực ra cuộc sống trong nhà ngày càng túng thiếu, bà cụ dù có cố chấp đến đâu cũng phải cúi đầu trước thực tế, phản đối lấy lệ vài câu rồi cũng nhắm một mắt mở một mắt cho qua. Sở dĩ việc không thành là vì cần một khoản tiền góp vốn khá lớn, nhà họ không có tiền, mấy ông bác lại cho rằng đây là cái bẫy, bà cụ tin họ, nghĩ ai muốn tự giày vò thì tự đi mà giày vò, bà thì một xu cũng không chịu bỏ ra phụ thêm.
Anh Trân mỉm cười: “Em rể địa vị cao, quan hệ rộng, nếu có thể giới thiệu cho anh ấy một việc nhỏ làm tạm, vậy thì tốt quá rồi.”
Nói câu này, gò má cô nóng ran, có cảm giác xấu hổ chẳng khác nào phải để nữ giúp việc trong nhà ứng tiền mua thịt mua rau.
Sắc mặt bà Triệu có phần khó xử, Anh Trân nhìn mà thấy chói mắt, bèn vớt vát thể diện: “Chỉ nhờ em để tâm giúp là được, thật ra cũng không gấp lắm.”
Lúc này bà Triệu mới chậm rãi lên tiếng: “Chị đừng trách em không chịu giúp. Tuần trước bà Lý lỡ miệng nói vài câu, về nhà em liền gọi điện cho Thúc Bình, định giúp anh rể, ai ngờ còn bị Thúc Bình mắng cho một trận. Vụ án năm đó của anh rể, làm rùm beng đến mức trung ương ai ai cũng biết, nổi tiếng cả nước, còn có ghi chép đàng hoàng…” Bà Triệu ngừng một chút rồi kết luận: “Chuyện này khó làm lắm!”
Anh Trân chỉ “à” một tiếng, ngược lại còn thấy nhẹ nhõm, không ai nợ ai như vậy cũng chẳng có gì không tốt.
Hai người nhất thời đều không nói gì, lặng lẽ nghe tiếng thìa bạc nhỏ khuấy cà phê, vô tình chạm vào thành tách kêu lanh canh, nghe như gõ tam giác sắt, tấu lên một khúc “gặp nhau chi bằng nhớ nhau”.
Bà Triệu như chợt nhớ ra điều gì, nói: “Thanh Minh vừa rồi em có về Tô Châu tảo mộ, tình cờ gặp anh chị của chị ở nghĩa trang. Họ vẫn còn nhận ra em, đợi em hóa vàng xong thì nói chuyện một lát.”
Giọng bà có phần cảm khái: “Anh trai chị trông già đi nhiều.”
Anh Trân bật cười khúc khích: “Chị còn nhớ hồi đó em một lòng một dạ muốn lấy anh ấy cơ mà! Khăn tay, túi thơm, túi hương em tặng không ít, còn lén lút sau lưng chị đưa cho anh ấy một đôi lót giày, thêu hình một cặp uyên ương đùa nước.”
Bà Triệu nhớ lại cảnh hai anh em họ cầm đôi lót giày ra trêu chọc mình, nét mặt không mấy vui vẻ.
Anh Trân nói tiếp: “Em có biết vì sao hồi đó anh ấy không nhận tình ý của em không? Là vì chê răng em không đẹp, nói rằng hôn nhau như vậy thì bốn hàng răng sẽ va vào nhau lách cách, còn cắn rách cả môi.”
Bà Triệu lẩm bẩm một câu: “Chuyện từ đời nào rồi, còn nhắc tới làm gì?”
Nhưng rốt cuộc vẫn không cam lòng, châm chọc nói: “Răng của chị dâu em, cũng có thấy đều đặn gì cho cam.”
“Vốn là hàm răng nếp rất đẹp, sau theo anh trai hút thuốc phiện nặng, hun cho vàng khè, sâu hai cái phải nhổ bỏ.” Anh Trân nói: “May mà em không gả cho anh ấy!”
Bà Triệu đưa tay vén mớ tóc rơi bên tai, đổi sang chuyện khác: “Hôm ở nghĩa trang, em nghe anh trai chị nói từ sau khi chị lấy chồng về Thượng Hải thì gần như cắt đứt liên lạc. Trong nhà liên tiếp xảy ra chuyện, anh ấy bận đến đầu tắt mặt tối, cũng không rảnh để để ý tới chị. Bây giờ thì lại rảnh rỗi, dự định lên Thượng Hải thăm chị. Hai người đã gặp nhau chưa?”
Anh Trân chỉ lắc đầu.
Bà Triệu cười nói: “Rồi hai anh em nhất định sẽ gặp nhau thôi. Lúc anh ấy nói muốn lên thăm chị, thái độ rất kiên quyết.” Lại bồi thêm một câu: “Chị rồi sẽ biết anh ấy đã phong sương thế nào.”
Giọng điệu không hiểu sao lại có vẻ nhẹ nhõm.
Anh Trân nhìn ra ngoài cửa sổ. Nơi chân trời, hoàng hôn và mây chiều cùng bay, ánh sáng phản chiếu lên mặt kính cửa sổ sát đất. Sau khi Mỹ Quyên rời đi, bà Triệu đã đổi sang chỗ ngồi của cô bé, tiện cho hai người ngồi đối diện nói chuyện.
Chỉ thấy một quầng sáng vàng óng như chiếc vòng ánh sáng cài hai bên tai, vầng trán rộng nhẵn nhụi, đôi mắt tròn, giữa mày có một nốt ruồi son, trông hệt như một pho Quan Âm Bồ Tát phổ độ chúng sinh.
Trong lòng Anh Trân rất khinh thường.
Anh Trân xuống khỏi xe kéo, móc ví da trả hai mươi đồng. Phu xe “hừ” một tiếng, không chịu đi: “Phu nhân, cho thêm hai đồng tiền trà nữa đi! Người nghèo dãi gió dầm mưa, khổ lắm!”
Anh Trân chẳng ngoảnh đầu, đi thẳng về phía cổng lớn. Gã gác cổng Thường Quý kính cẩn bước lên, khom lưng gọi một tiếng Mợ Năm: “Có ba người đến tìm bà, tự xưng là bên nhà cậu ở Tô Châu. Tôi không dám cho vào, vừa khéo gặp Cậu Năm, lão gia nói đúng là người quen, nên sai Trường Tùy với Phúc An dẫn họ vào phòng rồi.”
Tim Anh Trân bỗng chậm lại một nhịp. Vừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đã tới, trên đời thật có chuyện huyền diệu đến vậy.
Cô giơ tay vén mớ tóc rơi bên mai, thực ra chẳng có gió, “ừm” một tiếng định bước đi, Thường Quý vội nói: “Bà Lớn dặn, Mợ Năm vừa về tới thì ghé qua chỗ bà ấy trước.”
Anh Trân mím môi tiếp tục đi. Ánh hoàng hôn còn sót lại chiếu lên bức tường trắng mài nước, ánh lên màu vàng cũ kỹ. Mấy cây ngô đồng đã rụng trơ lá, chỉ có khóm cúc móng cua đỏ thắm đang nở rộ. Cổng viện của Bà Lớn lặng lẽ mở rộng, liếc mắt là thấy tấm rèm buông ở gian chính, không có ai. Cô bước qua bậc cửa, dường như mọi thứ mới sống động hẳn lên: từ trong khung cửa sổ truyền ra tiếng cười, một con mèo mướp to chậm rãi vểnh đuôi đi khuất, rèm cửa xào xạc lay động. Nha đầu A Xuân tiễn một vị tiên sinh mặc trường bào áo khoác ra ngoài. Anh Trân dùng khăn tay che trán, đứng yên tại chỗ, đợi người kia đi gần mới mỉm cười nói: “Ông Vi đến rồi.”
A Xuân thì gọi một tiếng Mợ Năm, rồi quay vào trong bẩm báo.
Ông Vi vốn là hạng môi giới “thiên hạ tấp nập đều vì lợi đến, thiên hạ chen chúc đều vì lợi đi”. Chỉ là dạo này làm ăn khó khăn, ông ta cũng bắt đầu thu mua vài món đồ, rồi xoay vòng bán lại, không cầu lời nhiều, chỉ để mở rộng quan hệ, tạo dựng mối.
Ông Vi tháo mũ, hơi nghiêng vai chào cô, ánh mắt liếc qua phía trên cặp kính gọng vàng, để lộ hàm răng to cười nói: “Ồ, Mợ Năm! Đi đâu uống cà phê về thế? Người toàn mùi cà phê!”
Anh Trân cười mà không đáp, bĩu môi về phía rèm: “Bà Lớn gọi ông tới làm gì? Có đáng đồng tiền không?”
Ông Vi hạ giọng: “Không giấu gì Mợ Năm, Bà Lớn đem ra một cây như ý men pháp lang, chẳng đáng đồng tiền!”
Anh Trân có chút ngạc nhiên: “Mắt ông cao thật, như ý mà cũng chê!”
Ông Vi nói: “Như ý pháp lang tuy nhìn sặc sỡ náo nhiệt, nhưng chẳng gọi được giá. Thứ đáng tiền vẫn là như ý vàng, như ý ngọc, hoặc như ý gỗ khảm đá quý.” Ông ta cười: “Cây ‘Tam khảm như ý’ của bà, thật không bán sao?”
Anh Trân lắc đầu: “Ông ép giá dữ quá, bán cho ông chi bằng để lại cho Mỹ Quyên làm của hồi môn.”
Ông Vi vội nói: “Bàn tính lâu dài, bàn tính lâu dài!”
Anh Trân thấy trước rèm có bóng người lay động, liền nói một tiếng cáo từ, uốn lưng đi vào trong phòng. Ông Vi liếc mắt nhìn theo cho thỏa. Mợ Năm này ngoài ba mươi rồi, mà trông như mới hai mươi lăm, hai mươi sáu; dáng người đẫy đà mà thon thả, làn da trắng như món thạch sữa bán trong tiệm bánh Tây. Phong tình của cô lành lạnh, lại càng khiến đàn ông muốn ôm vào lòng, ủ cho nóng hổi lên.
Anh Trân đã vén rèm bước vào phòng. Bà Lớn ngồi nghiêng trên giường, đang nói chuyện với Cậu Năm ngồi ghế bên phải. Cô đi tới trước mặt, gọi một tiếng: “Mẹ.”
Bà Lớn bảo cô ngồi xuống. Cô suy nghĩ giây lát, vẫn đứng sang bên cạnh Cậu Năm.
Bà Lớn hừ hừ nói: “Cây như ý của ta cũng là đồ tổ truyền, cán vẽ hình tiền như ý, dơi cát tường, còn có linh chi đào quả, bảo quản cũng tốt, màu sắc tươi mới như vừa làm xong, sao lại chỉ đáng có ngần ấy tiền? Anh hai con nói ông Vi không đáng tin, ta vốn còn thấy anh ta là người thật thà, giờ thì không nghĩ vậy nữa.”
Cậu Năm cười nói: “Lời anh hai nói mà tin được sao? Lời con nói, sao mẹ lại không tin?”
Bà Lớn đánh ông một cái: “Con lừa ta bao nhiêu lần rồi, ta còn tin con được à!” rồi mới ngước mắt nhìn Anh Trân, vào thẳng vấn đề: “Bà Triệu nói thế nào? Chồng cô ta là quan lớn của chính phủ trung ương, nhờ anh ta giới thiệu cho Vân Phiên một công việc, đơn giản lắm mà!”
Bảo vệ: KẺ THÙ – CHƯƠNG 14
THI HÀNH – CHƯƠNG 6
Chương 6: Họp định kỳ – xử lý hồ sơ
*
Sáng sớm, Thiệu Kiệt triệu tập Viên Ỷ và Lý Nguyên: “Chúng ta mở một buổi họp định kỳ, sắp xếp lại các vụ án cần thi hành trong tuần này.”
Lý Nguyên đã quen với nhịp làm việc như vậy, ôm chồng hồ sơ đã sắp xếp sẵn đặt lên chiếc bàn tròn nhỏ cạnh cửa sổ. Viên Ỷ cầm sổ và bút, theo sau Thiệu Kiệt, cùng ngồi quây quanh bàn.
Hôm nay nắng vừa đẹp, ánh nắng ấm áp xuyên qua cửa kính chiếu vào. Một đàn bồ câu bay qua, đậu xuống mái ngói dốc của dãy nhà trong ngõ hẻm không xa.
Thiệu Kiệt nói: “Còn hai ba tháng nữa là tới cuối năm, chúng ta chịu khó một chút, hoàn thành chỉ tiêu đặt ra từ đầu năm chắc không thành vấn đề.”
Anh bắt đầu lật hồ sơ, nói từng vụ: “Tuần này có một vụ cần theo sát, là cưỡng chế thi hành quyền thăm nom. Điểm khó là giữa người yêu cầu và người bị cưỡng chế có quan hệ mang thai hộ. Người yêu cầu sau khi sinh con thì đổi ý, khởi kiện ra tòa đòi quyền nuôi con; hai lần xét xử đều thua kiện, sau đó lại khởi kiện đòi quyền thăm nom, tòa tuyên thắng. Nhưng mẹ con họ vẫn luôn bị ngăn cản không cho gặp, nên nộp đơn xin cưỡng chế. Người bị cưỡng chế từng đến tòa hòa giải, anh ta lo ngại phía nữ là người ngoại tỉnh, không rõ lai lịch, sợ rằng trong lúc thăm nom sẽ mang con bỏ trốn giấu đi, nên nhất quyết không đồng ý.”
Viên Ỷ nghĩ một lát rồi đề nghị: “Hay là liên hệ với phường hoặc ban quản lý khu dân cư, xem lúc thăm nom có thể để nhân viên của họ đi cùng hay không.”
Thiệu Kiệt gật đầu: “Cách này cũng không tệ. Cô chạy một chuyến, hỏi ý kiến bên họ xem sao.”
Viên Ỷ đáp ứng. Anh tiếp tục nói tới vụ thứ hai: “Hồ sơ của Tần San đều đã xem qua chưa?”
Lý Nguyên chen vào: “Đã gửi thông báo cho Tần San rồi, giấy triệu tập, gửi bưu điện, tin nhắn điện thoại, đến tận nhà đưa cũng không gặp được người.”
Thiệu Kiệt hỏi: “Đã tra soát tình hình tài sản của cô ta chưa?”
Lý Nguyên đáp: “Vì là người nước ngoài, cầm hộ chiếu nên không tra được thông tin cá nhân, không mở tài khoản ngân hàng, cũng không có ghi chép đóng bảo hiểm.”
Không có hồ sơ bảo hiểm chứng tỏ có thể cô ta chưa từng đi làm.
Thiệu Kiệt trầm ngâm một lát, quay sang Viên Ỷ: “Cô hẹn người yêu cầu tới tòa, thông qua họ tìm hiểu thêm một số thông tin hữu hiệu về Tần San. Tôi phải đi công tác một tuần, lúc về sẽ cùng cô chạy vụ này.”
Lý Nguyên hỏi: “Đi xử lý vụ nào vậy?”
Thiệu Kiệt rút từ chồng hồ sơ dày một tập, dùng ngón tay gõ gõ lên bìa: “Vụ tai nạn giao thông gây tàn tật rồi bỏ trốn. Án cũ mười năm trước, người bị thi hành đã trốn mất tăm từ lâu, phán quyết có rồi nhưng không thể thi hành. Giờ người yêu cầu lại xin cưỡng chế. Tôi lấy được từ đồn công an giấy tạm trú của người bị cưỡng chế khi lên Thượng Hải làm việc, quê ở Ninh Ba, Chiết Giang. Bên Phòng Hai có thẩm phán Bùi cũng có án cần thi hành ở đó, tiện thể tôi theo cùng chạy một chuyến.”
Lý Nguyên chậc lưỡi mấy tiếng: “Thế này điều tra kiểu gì, đúng là một mớ bòng bong!”
Thiệu Kiệt nói: “Không đi tìm thì làm sao gỡ ra được manh mối!”
Họ tiếp tục sắp xếp thêm vài vụ nữa, không để ý đã đến giờ ăn trưa. Chợt nghe tiếng gõ cửa, Viên Ỷ đứng dậy chạy ra mở. Cô không khỏi khựng lại, là Trịnh Thanh Thanh.
“Chào nhé! Trợ lý Viên.” Trịnh Thanh Thanh cười, hai lúm đồng tiền hiện rõ, nghiêng người qua vai cô nhìn vào trong phòng, vẫy tay: “Thẩm phán Thiệu, anh mời tôi ăn căng-tin được không? Tôi quên mang thẻ cơm rồi!”
Thiệu Kiệt bảo cô đợi một lát, tự đi thu dọn ba lô. Trịnh Thanh Thanh nhìn Viên Ỷ, cười hỏi: “Nghe nói cô ngất xỉu ngay tại hiện trường cưỡng chế thi hành à?”
Viên Ỷ giải thích: “Không có ngất, chỉ là hơi choáng đầu thôi.”
Trịnh Thanh Thanh còn định nói thêm, Lý Nguyên đã ghé lại trêu: “Ngày nào cũng thấy cô chạy qua văn phòng bọn tôi, nhìn phát chán rồi!”
Trịnh Thanh Thanh xách tập hồ sơ đuổi theo đánh anh ta: “Ôi! Có người mới là quên người cũ à, đồ không có lương tâm!”
Lý Nguyên ôm đầu chạy trối chết.
Viên Ỷ nhìn ra quan hệ của họ trước đây hẳn rất thân, trong lòng bỗng dưng thấy có chút hâm mộ.
Thiệu Kiệt đeo ba lô bước tới, dặn cô: “Tôi ăn trưa xong sẽ ra thẳng ga tàu, không quay lại nữa.”
Dừng một chút, anh bổ sung: “Có gì không hiểu thì hỏi Lý Nguyên, hoặc nhắn WeChat hỏi tôi cũng được.”
Viên Ỷ “vâng” một tiếng.
Thiệu Kiệt đợi một lát, thấy cô không có phản ứng gì, liền rút điện thoại ra, bật sáng màn hình, cười nhạt nói: “QR WeChat đây, của cô à? Tôi quét nhé.”
Mặt Viên Ỷ “bừng” đỏ lên, anh có thấy cô hơi ngốc nghếch quá không…
Thiệu Kiệt thêm WeChat xong, búng tay với Trịnh Thanh Thanh, cô ấy chạy tới, vừa nói vừa cười cùng anh rời đi.
Viên Ỷ thì đi căn tin với Lý Nguyên. Căn tin ở tầng hai. Lúc họ đợi thang máy, đồng nghiệp các phòng ban khác cũng lục tục tới. Thẩm phán Lưu Dật của Phòng Lập án thấy Viên Ỷ thì cười nheo mắt: “Nghe nói cô ngất ngay tại hiện trường cưỡng chế à? Người trẻ mà sức khỏe không ổn rồi! Biết thế sang Phòng Lập án có phải tốt hơn không!”
Ở đây có chút duyên cớ: trong đợt tuyển dụng đó, Viên Ỷ là người thể hiện xuất sắc nhất, thẩm phán Lưu Dật rất quyết tâm muốn giữ cô. Phòng Chính trị từng hỏi ý kiến Viên Ỷ, nhưng cô gái nhỏ này nhất quyết đòi vào Cục Thi hành án, còn cách nào nữa! Những người quen thân với Lưu Dật cũng thường trêu ông mấy câu: “Ta đem lòng gửi ánh trăng, nào ngờ trăng soi rãnh nước.”
Viên Ỷ trước sự coi trọng của thẩm phán Lưu Dật cũng có chút ngại, nghe vậy chỉ mím môi cười. Thang máy tới, cô còn để họ lên trước, đứng chờ chuyến sau.
Lý Nguyên lẩm bẩm: “Có gì mà ngại? Tôi nói cho cô nghe, trong tòa án này, Cục Thi hành án bọn tôi là đứa sáng nhất! Tiền thật bạc thật đều do bọn tôi đòi về! Bộ phận tạo doanh thu, ai dám tranh? Phòng Lập án à, hừ! Phòng Lập án mà cũng tính là phòng nghiệp vụ sao?”
Hai người bước vào thang máy. Mấy người của Văn phòng Quản lý xét xử vừa chạy vừa gọi “đợi với”, Viên Ỷ giữ nút tạm dừng, để họ chen vào rồi nói cảm ơn. Lý Nguyên hạ giọng: “Văn phòng Quản lý xét xử, một bộ phận quản chuyện linh tinh.”
Đến căn tin thì đông nghịt người, một dãy quầy bày đủ các món. Hai người cầm khay xếp hàng. Có người chào Viên Ỷ, là đồng nghiệp cùng đợt tuyển dụng, phân về Phòng Dân sự. Lý Nguyên nói: “Sau này cô sẽ biết, Phòng Dân sự đúng là một lời khó nói hết, toàn ném cho bọn tôi mấy vụ không thể thi hành.”
Anh ta lại chỉ sang một đám người khác: “Nghe đi nghe đi, nói to nhất là Phòng Hình sự, lúc nào cũng tự cho mình ghê gớm, ăn cơm thừa của công – kiểm, có gì hay ho!”
Viên Ỷ bị anh ta chọc cười, chỉ về phía cảnh sát tư pháp: “Người ta đều nói họ là thần hộ mệnh của tòa án, anh chẳng có gì để chê đúng không?”
Lý Nguyên càng khinh khỉnh: “Chỉ là bảo vệ thôi! Có gì mà lên mặt.”
Đến lượt họ lấy đồ ăn. Lấy cơm, canh xong, Viên Ỷ nhớ lúc mới vào làm, chị Thái từng nói có mấy món ăn rất ngon, cô bèn chọn sườn chua ngọt, thêm một đĩa rau muống trộn tỏi, một phần đậu phụ chay, thấy cũng đủ rồi. Thấy Lý Nguyên còn đang lải nhải với người múc đồ ăn đòi thêm một miếng cá đao chiên khô, cô bèn đi tìm chỗ ngồi trước. Vô tình liếc qua, cách hai bàn, Thiệu Kiệt và Trịnh Thanh Thanh cũng đang ăn cơm.
THI HÀNH – CHƯƠNG 7
Chương 7: Không phải bạn gái
*
“Hai người họ không phải quan hệ nam nữ.” Lý Nguyên liếc thấy ánh mắt lén thu lại của Viên Ỷ, lập tức nói rõ sự thật cho cô.
“Anh nói ai cơ?” Viên Ỷ giả vờ hỏi, tay múc canh uống, bị bỏng miệng. Bát canh trông thì chẳng có gì, nhưng hơi nóng bị một lớp bơ vàng trên mặt phủ kín lại.
“Cô nhìn ai thì tôi nói người đó!” Lý Nguyên chuyên làm bộ làm tịch, tay kẹp một khúc cá đao rán, vừa ăn vừa nói: “Thẩm phán Thiệu có người yêu rồi, ở nước ngoài!”
“Ở nước ngoài?” Viên Ỷ lẩm bẩm lặp lại một lần, cũng không có ý gì khác, chỉ là “tin dữ” bỗng nhiên từ trên trời rơi xuống, trong đầu trống rỗng, không biết nên nói gì, phản xạ tự nhiên mà thôi.
“Ừ!” Lý Nguyên lại bồi thêm một nhát: “Tôi xem ảnh trong điện thoại anh ấy rồi, mặt mũi rất sang, cực kỳ Tây.”
“Được thôi!” Viên Ỷ đột nhiên thấy món sườn xào chua ngọt chẳng còn thơm nữa. Lý Nguyên an ủi cô: “Cô cũng xinh mà, dáng vẻ điển hình của con gái Thượng Hải.”
“Con gái Thượng Hải trông thế nào?”
“Gọn gàng sạch sẽ, thanh thanh sảng sảng, biết ăn mặc, mang ba phần khói lửa của ngõ hẻm, với người khác không thân quá cũng chẳng lạnh lùng, hợp nhất với Cục Thi hành án bọn mình.” Lý Nguyên khen cô: “Đám cưỡng chế kia bắt nạt kẻ yếu sợ kẻ mạnh, gặp kiểu như thế này là hết cách!” Anh ta còn chưa nói xong, thì Phòng Hàng chính Đới Cát Dương dẫn theo hai anh đầu bếp căn tin vai u thịt bắp đi “kiểm tra”, nhìn thấy Viên Ỷ liền giới thiệu với các đầu bếp: “Cô này là Thẩm phán Viên, từng ngất xỉu ngay tại hiện trường cưỡng chế? Thế này không ổn, chứng tỏ căn tin chúng ta trong khâu phối hợp dinh dưỡng còn thiếu sót…”
Chuyện cô ngất xỉu suýt nữa đã thành ca điển hình của cả viện! Viên Ỷ có phần ngượng ngùng: “Không không không, hôm đó là ngày đầu tôi đi làm, không liên quan gì tới căn tin cả.”
“Không có thì lấy đó làm động lực, có thì sửa đổi.” Đới Cát Dương cười nói: “Thẩm phán Viên, phiếu khảo sát mức độ hài lòng căn tin cô chưa nộp nhỉ? Không sao, hôm nay nộp cũng được, có món ăn vặt nào cô thích thì ghi chú vào, sau này sẽ có bất ngờ!”
Viên Ỷ cảm động, gật đầu lia lịa như gà mổ thóc. Lý Nguyên đùa: “Thế Trưởng phòng Đới không quan tâm quan tâm tôi sao?”
Đới Cát Dương vỗ vai anh ta: “Giảm cân cho tốt vào!” Mọi người cười ầm lên.
“Họ cười cái gì thế?” Trịnh Thanh Thanh quay đầu nhìn sang. Điện thoại của Thiệu Kiệt rung lên, anh cầm lên xem, màn hình vẫn dừng ở trang vừa thêm Viên Ỷ thông qua. Ảnh là của chính cô, giơ tay làm động tác chiến thắng, tên ghi là: Hôm nay anh ấy sống có ổn không? nghe khá văn nghệ thanh niên, chắc là bạn trai nhỉ! Anh gạt cuộc gọi nhỡ rồi gọi lại, là Thẩm phán Bùi, hỏi anh ăn xong chưa, chuẩn bị xuất phát, đang đợi ở cổng tòa án.
Anh chào Trịnh Thanh Thanh một tiếng, bưng khay cơm đứng dậy đi trước. Viên Ỷ nhìn sang lần nữa, chỗ đó đã đổi người khác ngồi.
Ăn trưa xong về văn phòng, Viên Ỷ phát hiện bên cạnh máy tính có một miếng sữa tươi hình vuông phủ mứt hồng ngọc, lập tức nghĩ chắc là Thiệu Kiệt tặng. Lại nghĩ đến chuyện anh có đối tượng, trong lòng không khỏi “buồn vui lẫn lộn”. Cô cầm lên bỏ vào túi, dự định ra ngoài xử lý vụ án quyền thăm nom, nói với Lý Nguyên một tiếng, vừa rời chỗ thì điện thoại reng reng vang lên, tiện tay nghe máy, là giọng một ông trung niên kiểu ông chú Thượng Hải, khàn khàn: “Thẩm phán Viên có phải không?”
Viên Ỷ đáp tôi đây, ông là ai ạ? Ông lớn tiếng nói mình là cậu của Tần San, ngày mai thế nào cũng phải đến tìm thẩm phán để kêu khổ. Buổi sáng Viên Ỷ vừa cùng Thiệu Kiệt và Lý Nguyên trao đổi về vụ cho vay dân sự này, ấn tượng rất sâu, cô xem lịch sắp xếp rồi nói: “Ngày mai mười giờ sáng, ông cùng bốn người nộp đơn khác đến đúng giờ, chúng tôi sẽ lập biên bản.”
Ông lão nói: “Ba người còn lại là em gái tôi, còn một người em gái khác đã mất, con gái của cô ấy sẽ tới.” Rồi ông lại hỏi: “Tần San và mẹ nó có tới không?”
Viên Ỷ nghe trong ống nghe có người kích động gào lên: “Bảo chúng nó đi thắp hương cho cao, đừng có đụng mặt tôi, đụng vào là cùng chết!”
Viên Ỷ nói: “Đã đi theo trình tự tòa án rồi, chúng ta cứ bình tâm lại, tin vào sự công bằng của pháp luật. Tổn hại thân thể chỉ khiến đôi bên đều thua thiệt, là điều không nên nhất. Hiện giờ làm sao thu hồi được khoản vay mới là trọng điểm hàng đầu.”
“Vâng vâng vâng, con em gái chỉ là nóng tính, mồm mép nói vậy thôi, thật sự thì có thế nào cũng tuyệt đối không dám!” Rồi quay sang quát vọng một tiếng: “Nói bậy nói bạ gì đấy, làm ơn đừng nói thêm nữa!”
Viên Ỷ đợi ông ta cúp máy, lặng lẽ suy nghĩ một lúc, rồi hỏi Lý Nguyên xin hồ sơ vụ án Tần San, lấy ra bản phán định dân sự, thấy ở phần quan điểm bị đơn ghi: Bị đơn Tần San không đến tòa để biện hộ. Cô mở mạng nội bộ tòa án trên máy tính, vào hệ thống thi hành án, tra cứu Tần San, tình hình đúng y như Lý Nguyên đã nói trong cuộc họp trước đó.
Lý Nguyên đứng dậy rót trà, thấy cô vẫn còn ở đó: “Sao còn chưa đi? Từ đây đi tàu điện ngầm sang Phố Đông cũng phải một tiếng rưỡi đấy.”
“Ngày mai người nộp đơn vụ án Tần San sẽ đến nói chuyện, tôi chuẩn bị thêm chút nữa.” Cô nhìn giờ, quả thật đã muộn, vội vàng tắt máy tính. Lý Nguyên thở dài: “Tài sản thế chấp có khiếm khuyết, vay mượn dân gian thì lắm vấn đề, doanh nghiệp nhỏ năng lực thi hành kém, tranh chấp quyền thăm nom thì trở lực lớn, bốn loại án này cho dù phán quyết thắng kiện, khi thi hành cũng vô cùng khó!”
“Khó cũng chẳng có cách nào khác! Thẩm phán Cục Thi hành án chẳng phải làm cái việc nhổ răng trong miệng hổ sao.” Viên Ỷ cười nói, khoác ba lô ra khỏi tòa án. Một chiếc xe dừng lại trước mặt cô, Đới Cát Dương hạ kính hỏi cô đi đâu, nghe nói đi Phố Đông Hoa Mộc thì vẫy tay bảo cô lên xe: “Tôi đi Bát Bách Bạn mua sắm lớn, tiện đường chở cô một đoạn.”
Viên Ỷ mừng rỡ, vội vàng cảm ơn. Đường đi suôn sẻ, đến khi tìm được ủy ban khu dân cư tiểu khu Hải Đường thì có một nhân viên họ Ngụy ra tiếp. Xem giấy tờ xong, nghe rõ mục đích, anh ta áy náy nói: “Chủ nhiệm Trương của chúng tôi đi họp ở quận, phải đợi ông ấy về rồi mọi người cùng bàn bạc quyết định.” Anh ta lại nói thêm: “Thẩm phán Viên để lại cho tôi số điện thoại nhé, đợi Chủ nhiệm Trương về tôi sẽ liên hệ với cô!”
Viên Ỷ để lại số, cáo từ ra khỏi khu. Nghĩ lại thấy mình cũng buồn cười, quả nhiên là thiếu kinh nghiệm làm việc, chẳng đầu chẳng đuôi đã xông tới, tưởng đâu giống trẻ con ngồi xếp hàng ăn quả, ai nấy đều ngồi sẵn đợi cô đến! Thực ra dù là chuyện nhỏ đến đâu cũng có sự phức tạp của nó, không hề đơn giản theo kiểu nghĩ sao làm vậy.
Trong điện thoại nhận được một tin nhắn: [Ỷ Ỷ, tối nay qua ăn cơm nhé, dì cả!]
Viên Ỷ biết dì cả rất ít khi mời ăn cơm, đã mời thì nhất định là có chuyện!
Gọi điện về nhà thì mẹ cô nghe máy, giọng có phần trách móc: “Đi ăn với Tần Lan, sao không nói sớm, cơm mẹ đã đồ lên rồi! Đi làm rồi mà vẫn chẳng hiểu chuyện gì cả, thôi thôi, không nói nữa!”
Viên Ỷ nghe tiếng “cạch” cúp máy, mím môi, mở Baidu Maps tra đường đi Tam Lâm. Lúc tìm được trạm xe buýt, bầu trời trắng xám lờ mờ, âm u nặng nề. Không biết có phải ảo giác không, chỉ thấy gió Phố Đông lúc nào cũng buốt hơn Phố Tây; ven đường từng cuộn lá vàng cuốn xèo xèo chạy loạn. Con đường này xung quanh toàn khu dân cư, dùng tường bao cách ly, vẽ đầy tranh tuyên truyền văn minh tinh thần. Cô mặc một chiếc áo len dệt màu xám, gió chui thẳng qua khe sợi bông, đâm vào da thịt, bất giác rùng mình một cái.
Thượng Hải bây giờ đúng là chẳng còn xuân thu, cảm giác như chỉ qua một đêm đã vào đông.
Một bà lão chầm chậm rán dầu đôn tử, ở Phố Tây khó mà còn thấy cảnh bán hàng rong ngay ven đường như vậy. Viên Ỷ mua một cái ăn, vừa vào miệng đã bỏng rẫy, ăn nửa cái xong người mới ấm lên đôi chút.
