Chương 1
*
Trời lại tối xuống rồi, cơm tối vừa xong, phải đem đậu đi ngâm.
Gió xuân thổi rất lớn, lớn đến mức dường như màn đêm này cũng bị gió cuốn mà tới.
Làm đậu hũ cực nhọc, em gái nhỏ chẳng biết gì, chỉ quấn quanh ở bên bếp lò, chờ được ăn tào phớ. Dương Kim Phượng nói: “Trẻ con mà không đi ngủ thì không lớn được đâu. Minh Nguyệt, cháu đưa Đường Đường sang nhà trên đi.”
Minh Nguyệt bế cô bé bốn tuổi đi, kể cho nó nghe chuyện, kể chuyện sói ăn trẻ con. Sói ăn trẻ con nào? Chuyên ăn những đứa bé không nghe lời. Đường Đường sợ sói sẽ ăn mình, vội vàng nhắm mắt lại. Minh Nguyệt vuốt mái tóc Đường Đường, mềm quá, dịu quá. Con bé ngủ say rồi, trẻ con khi ngủ nhìn vừa đáng yêu vừa đáng thương, nhỏ xíu thôi, sao mà lại bé đến thế.
Mười ba, mười bốn cân đậu, chẳng phải ít, đều ngâm hết cả.
Trong làng có một nhà ép dầu mè, một cửa hàng tạp hóa, một tiệm sửa xe, tất nhiên, còn phải có một nhà làm đậu hũ nữa. Tử Hư Trang lớn lắm, tựa như nhất định phải có một xưởng đậu hũ, mà chủ nhà đậu hũ thì phải là người lanh lợi, siêng năng. Nghề này phiền toái, không phải hạng người như vậy thì không gánh nổi cái sinh ý này.
Dương Kim Phượng chính là người như thế. Bà không thích cười, tính tình nghiêm nghị, từ khi lấy chồng đến nay vẫn làm đậu hũ. Giữa chừng có vài năm không cho bán, bếp lửa cũng tắt, nồi cũng đập, sau đó lại được cho phép, thế là tiếp tục sống bằng nghề đậu hũ. Tính đến năm 2005 này, Dương Kim Phượng đã bán đậu hũ bốn mươi năm.
Tiếng gà gáy đầu tiên vừa vang, sao trời vẫn sáng trong như vậy. Dương Kim Phượng khoác áo bông, lần mò xuống giường. Bà vừa động đậy, Minh Nguyệt đã tỉnh.
“Bà ơi, để cháu giúp một tay.”
Cô chưa mở nổi mắt, người thì mệt, mà miệng lại giục bà dậy.
Dương Kim Phượng không bật đèn, bà định đi sang phòng bên.
“Cháu ngủ đi, không thì lúc học sáng mắt díp lại, cô giáo mắng cho.”
Minh Nguyệt há miệng, để lời bật ra: “Cháu không buồn ngủ đâu, cháu nhóm lửa cho bà.”
Dương Kim Phượng nói: “Cứng đầu giống y ông cháu! Ai cần cháu nhóm lửa chứ? Mau ngủ cho bà!”
Ông nội Minh Nguyệt là Lý Vạn Niên, cái tên nghe thì hay, nhưng rùa cũng chẳng sống nổi vạn năm. Ông vừa chạm đến sáu mươi, say rượu ngã trong tuyết lớn, chết rồi. Cả đời, Lý Vạn Niên bị Dương Kim Phượng mắng, đến chết cũng chẳng sửa được cái tật mê nói chuyện kể tích của mình. Chết rồi cũng tốt, lúc đưa tang, Dương Kim Phượng không rơi một giọt nước mắt. Trong vòng trăm dặm, ai mà chẳng biết Lý Vạn Niên, ông kể chuyện hay lắm. Nhà nào có việc lớn đều thích mời ông. Người mất, trẻ đầy tháng, nhà ai cưới vợ, dựng nhà mới… tóm lại, việc hỉ việc tang, hễ muốn ra dáng đều gọi Lý Vạn Niên.
Lý Vạn Niên quanh năm chẳng mấy khi ở nhà, gió mưa gì cũng cứ đi kể chuyện. Nếu mà kể chuyện kiếm được nhiều tiền thì cũng được, nhưng khổ nỗi ông tính phóng khoáng, chẳng coi trọng tiền bạc. Có thì người ta cho ông hai đồng, không có thì cơm nước no nê cũng xong. Dương Kim Phượng chẳng mắng ông thì mắng ai, mắng rồi cũng chẳng đổi được.
Người ta gọi thế là “mê rồi”, đời trước nói người mà đã mê thì lơ mơ lạc lối, cuộc sống sẽ thành bừa bãi.
Nhà họ Lý, quả thực sống cũng bừa bãi lắm.
Mỗi lần bà nhắc đến ông, Minh Nguyệt lại nghĩ đến ông nội, đôi mày ông động đậy, hoa râm, gió thổi qua là run run. Ông lúc nào cũng cười hiền, không chửi người, cũng chẳng đánh ai. Nói đến chuyện kể tích, mắt ông sáng bừng, trán cũng sáng, khắp người đâu đâu cũng sáng rỡ. Minh Nguyệt nhớ nhanh, Lý Vạn Niên từng bảo: “Cháu học hát ‘truyện xẩm’ với ông đi.” Nhưng Dương Kim Phượng túm cái chày nện cho lão một phát: “Ông dám, dám thì cút ra ngoài mà chết đi!”
Lý Vạn Niên quả thực đã chết ngoài đường rồi.
Mỗi lần nhớ đến ông, Minh Nguyệt đều có chút cảm giác cô đơn. Cô đơn, cô lại sờ vào cái trống lớn của ông, nhưng sờ xong thì càng cô đơn hơn.
Đến khi gà gáy lần thứ năm, đồng hồ báo thức vang lên, Minh Nguyệt đạp xe đến trấn để kịp buổi đọc sáng. Buổi đọc gần kết thúc, bạn cùng bàn của cô, Phạm Tiểu Vân mới ló mặt tới.
Cô giáo nói: “Sao ngày nào cũng dậy không nổi thế?”
Phạm Tiểu Vân thản nhiên: “Em không muốn học nữa.”
Cô giáo nói: “Mới học lớp bảy mà đã không học, rồi sau này làm gì?”
Trên đầu Phạm Tiểu Vân cài một chiếc băng đô, hễ nói chuyện là băng đô lại rung như râu mèo.
“Đi Quảng Đông làm công.”
Cô giáo cười khẩy: “Đi làm công thì ít nhất cũng phải có bằng tốt nghiệp cấp hai. Không có, ai thèm nhận em?”
Phạm Tiểu Vân đã quyết nghỉ học, cũng chẳng sợ thầy nữa.
“Em cao lớn, tìm việc □□ là được rồi.”
Cô giáo bắt đầu nổi giận: “Phạm Tiểu Vân, toàn ai nhồi vào đầu em mấy cái đường tà đạo ấy?”
Phạm Tiểu Vân im thin thít, miệng nhai nhóp nhép cái kẹo cao su còn sót lại từ Tết.
Cô giáo càng tức, quay sang mắng cả lớp:
“Cô biết bố mẹ các em đều đi làm ăn xa, ông bà thì quản không xuể, cũng chẳng ai mong các em thi được cấp ba. Nhưng ít ra cũng phải biết thêm được mấy chữ, kẻo sau này đi làm còn chẳng biết đường mà tìm! Đúng là mù chữ mà mắt còn mở!”
Giọng cô giáo the thé, lúc nổi giận trông rất có khí thế.
Đợi cô giáo đi rồi, Phạm Tiểu Vân lập tức ném sách: “Con mẹ già ấy, một tháng được mấy đồng lương chết tiệt, ngày nào cũng chỉ biết ba hoa đạo lý, đến giấy vệ sinh còn chẳng dám dùng!”
Nhà cô giáo chẳng nghèo đến thế, chỉ là keo kiệt. Cho con gái chùi mông toàn dùng vở cũ của học sinh, dấu tích chấm đỏ gạch chéo đỏ loang lổ, tất cả dính hết vào mông.
Minh Nguyệt hỏi Phạm Tiểu Vân: “Cậu thực sự không học nữa à?”
Phạm Tiểu Vân vốn dĩ đã chẳng muốn học. Mới lớp bảy học được nửa năm, cái gì cũng không hiểu. Cô nàng vốn đi học muộn, lại dậy thì sớm, dáng người cao lêu nghêu nổi bật giữa lớp, cực kỳ lạc lõng. Mấy môn cộng lại được vừa khéo một trăm điểm, sách tiếng Anh toàn viết phiên âm chữ Hán, phát âm cũng chẳng nhớ nổi. Phạm Tiểu Vân thấy tuyệt vọng, học hành… học cái rắm gì! Cô nàng chỉ muốn đến xí nghiệp Phúc Sĩ Khang làm công, đi cùng mẹ cô nàng.
Đi làm công thì tự do biết bao.
“Mình làm cái chứng minh giả trước. Không có chứng minh thư thì sau này bị bắt sẽ bị đưa vô trại tạm giữ. Mẹ mình nói, năm kia có người không có chứng minh thư, bị nhốt vào đấy rồi đánh chết luôn.” Phạm Tiểu Vân lôi trong túi ra một cái gương nhỏ, lại rút thêm thỏi son, cười với Minh Nguyệt, “Cái này mfinh lén lấy của mẹ lúc bà về ăn Tết. Dù sao qua Tết mẹ đi, phải đến Tết năm sau mới về.”
Phạm Tiểu Vân bôi son trông ra dáng lắm, cũng xinh nữa. Minh Nguyệt thấy lạ lẫm, cô ngẩn người nhìn cô bạn. Bố mẹ Phạm Tiểu Vân về ăn Tết đều đi xe máy, mang theo nhiều đồ. Trong làng, ai đi Quảng Đông làm công cũng đều cưỡi xe máy về, chen chúc tàu hỏa khổ lắm, đi xe máy vừa đỡ mệt, lại có đồng hương đi cùng, cũng hay.
Nhiều nhà cha mẹ đều đã về, trước đêm ba mươi là tới, chừng mùng tám lại bắt đầu lục tục rời đi. Tình cảnh như thế, đã kéo dài nhiều năm, càng ngày càng nhiều người đi xa, như chim én, năm nào cũng một chuyến đi – về.
Minh Nguyệt đã ba năm không gặp bố mẹ. Sau khi em trai mất, họ chẳng quay lại nữa.
Em trai là sinh đôi với Đường Đường, được sinh lén ở nhà ngoại. Sau đầy tháng, đưa về nhà họ Lý. Không lâu sau, Lý Xương Thịnh cùng vợ đều bỏ đi làm ăn, đứa nhỏ trở thành con của Dương Kim Phượng. Bà phải xay đậu hũ, làm ruộng, đi cắt rau cho lợn, còn phải nuôi ba đứa nhỏ. Cậu bé chưa tròn một tuổi, Dương Kim Phượng lấy cây xúc xích mà bà nỡ không ăn, bẻ vụn cho cháu, kết quả đứa nhỏ bị nghẹn mà chết. Từ đó, vợ chồng với bố mẹ già thành kẻ thù, mối thù to bằng trời, ngay cả con gái họ cũng mặc kệ.
Ai mà biết trẻ nhỏ không được ăn xúc xích chứ? Xúc xích là thứ ngon, tất nhiên phải để dành cho cháu trai. Dương Kim Phượng nghĩ mãi không làngg, bà chỉ ước người chết là mình thì tốt biết bao.
Lý Xương Thịnh không thể đánh Dương Kim Phượng, liền quật Minh Nguyệt một trận. Nó không trông được em trai, là tội nhân, cùng tội với ông bà.
Lý Xương Thịnh ly dị vợ, chính ông ta ở ngoài cũng tìm đàn bà, sống kiểu vợ chồng tạm bợ. Nghe đâu vợ ông ta cặp với một người Chiết Giang, ăn ngon mặc đẹp, mỗi người đều có đường riêng, xem ra cũng chẳng tệ.
Ba năm chẳng về nhà, người ở Tử Hư Trang đều nói vợ chồng Lý Xương Thịnh chắc chắn chết rục ngoài kia rồi. Thật hay giả cũng thế, người già vẫn phải nuôi hai đứa trẻ mà sống tiếp.
Minh Nguyệt chờ suốt ba năm, thân thể cao lên, tóc dài ra, đứng trên bậc cửa vươn tay đã chạm tới xà ngang. Năm ngoái Lý Vạn Niên chết, Lý Xương Thịnh cũng chẳng về đưa tang. Ông ta sẽ không bao giờ về nữa. Lại là mùa xuân, xuân đến xuân đi, xuân lại trở về, Minh Nguyệt vẫn còn phải đợi hạ, đợi thu, đợi đông, chờ đến nỗi khuôn mặt bố mẹ cũng trở nên mờ nhòe.
Ngày tháng thực sự chẳng có gì để mong đợi, Minh Nguyệt nhận lấy viên kẹo cao su Phạm Tiểu Vân đưa, bỏ vào túi.
Phạm Tiểu Vân kể rất nhiều chuyện ở Quảng Đông, Quảng Đông như thiên đường vậy. Cô nàng nói lâu quá, môi dính cả vào răng.
“Này? Sao cậu không ăn đi?”
Minh Nguyệt đáp: “Để cho Đường Đường ăn.”
Phạm Tiểu Vân “hầy” một tiếng, lại hỏi cô: “Thứ bảy này cậu còn đi Lễ Đường không?”
Minh Nguyệt gật đầu: “Có đi, mình xếp được mấy cái chuông gió rồi, hoa cũng nở hết cả.”
Phạm Tiểu Vân lắc đầu: “Một ngày bán được mấy đồng bạc đâu, dân thành phố đúng keo kiệt, chẳng rộng rãi gì cả.”
Lễ Đường cách làng Tử Hư bốn năm dặm, có nước, có lúa, mùa xuân ở Lễ Đường hùng vĩ nhất, cỏ non lớp trước lớp sau xanh mướt, hoa dại nở loang loáng như gió vẩy màu, gà thả đất chạy loạn, đàn ngỗng trắng kêu vang. Người dân ở đó mở một cái “nông gia lạc”* để thu hút dân thành phố đến ăn uống, vui chơi.
(Chú thích: Nông gia lạc 农家乐: mô hình du lịch nông làng, khách đến ăn uống, nghỉ ngơi, trải nghiệm)
Có người lái xe đi cả trăm dặm tới, thật sự là kinh ngạc. Minh Nguyệt và đám bạn học chẳng hình dung nổi nơi cách trăm dặm là thế nào, nhưng hễ dân thành phố vừa tới, tự nhiên bọn họ có việc làm. Dân thành phố thích ăn gà thả vườn, thích rau dại, tâm trạng tốt thì lại mua chút đồ lặt vặt.
Minh Nguyệt và Phạm Tiểu Vân nói chuyện chẳng được bao lâu, vì bạn bè Phạm Tiểu Vân nhiều, cô nàng ngồi ghế không yên, như ghế có độc, chỗ này ngồi hai câu, chỗ kia lại tạt qua vài câu, có lúc còn gác cả người lên bàn người ta, mông vểnh cao, mấy thằng con trai đùa: “Mông Phạm Tiểu Vân to ghê!”
“Bốp” một tiếng, quyển sách nện thẳng vào đầu thằng kia, Phạm Tiểu Vân chửi: “To còn chẳng bằng con mẹ mày ấy!”
Cả lớp cười ầm, náo nhiệt vô cùng. Đúng lúc đó thầy cô như từ dưới đất chui lên, bước vào, cả phòng học lập tức im như chết. Đợi đến khi cô giáo gọi Minh Nguyệt ra ngoài, lớp mới sống lại.
Cô giáo nói: “Lý Minh Nguyệt, đổi chỗ cho em nhé, sau này em ngồi với Trương Lôi, con bé ngoan. Ban đầu định để em kèm Phạm Tiểu Vân, mà cô thấy em sắp bị nó kéo hư rồi.”
Thực ra Phạm Tiểu Vân cũng chẳng phải đứa hư hỏng gì, chỉ là không thích học, mê làm đẹp, mồm miệng sắc bén. Minh Nguyệt cảm thấy Phạm Tiểu Vân cũng tốt, cô không ghét cô bạn này, vả lại Phạm Tiểu Vân còn hay chia cho cô đồ ăn vặt mua từ Quảng Đông.
Minh Nguyệt nói: “Bạn ấy không ảnh hưởng đến việc học của em đâu, bạn ấy toàn ngủ trong giờ.”
Cô giáo tức cười, lại bắt đầu dặn dò Minh Nguyệt mấy câu sáo rỗng, ví dụ cả lớp chỉ có hơn chục đứa may ra thi được lên cấp ba, Minh Nguyệt tuy không phải giỏi nhất nhưng cũng trong top mười, chỉ cần cố gắng là lên được.
Mà lên cấp ba thì thế nào chứ? Trong mắt Minh Nguyệt mơ hồ cả.
“Cô Nhậm, em vẫn muốn ngồi với Phạm Tiểu Vân.” Minh Nguyệt lại thấy thứ cảm giác cô đơn ấy dấy lên, Trương Lôi ít nói quá, cô mong có người trò chuyện lúc ra chơi, dù chỉ nghe Phạm Tiểu Vân chửi bậy, cũng thấy thú vị.
Không ai nói chuyện thật sự tệ lắm, Minh Nguyệt khổ tâm vì chuyện này, muốn mở miệng mà lại chẳng thốt ra được gì, cũng chẳng ai lắng nghe. Chỉ có Phạm Tiểu Vân là nói huyên thuyên không ngừng, nói xong lại chạy sang chỗ khác tiếp tục.
Cô Nhậm không vui, Minh Nguyệt luôn nghĩ cô thích mình, nhưng từ lúc cô nhất quyết muốn ngồi cạnh Phạm Tiểu Vân, thì hình như cô Nhậm không thích mình nữa, vì cô không nghe lời.
Kết quả vẫn là đổi sang ngồi với Trương Lôi, sang dãy khác. Phạm Tiểu Vân lại có bạn bàn mới, vẫn vui như thường, cô nàng vốn có thể ríu rít với bất kỳ ai. Minh Nguyệt ngoái lại nhìn, Phạm Tiểu Vân đã dựng sách lên che mặt, ghé sát bạn mới thì thầm, vai run run, chắc là đang cười trộm.
Mẹ Trương Lôi sau khi sinh em trai nó thì bỏ đi, nhiều bạn học cũng cùng cảnh, ban đầu chỉ đi làm xa, dần dần chẳng thấy về nữa. Chồng con thì mặc kệ, đàn ông lại cưới, trẻ con có ông bà trông, ngày tháng tự khắc có cách mà tiếp tục.
Trương Lôi không phải ngoan ngoãn, mà là lạnh lùng, thành tích học tập cực tốt, chẳng cần nói chuyện với ai. Như thể mỗi lời thốt ra đều rút mất hồn vía nó, khiến cô tổn hao. Ngày nào cũng ra vào phòng giáo viên, thu phát bài tập, đọc tiếng Anh, còn đăng bài báo trên báo chí, có cả con dấu riêng, nghe nói có thể ra bưu điện lĩnh nhuận bút. Tất cả về Trương Lôi đều đầy thần bí, hấp dẫn, mà cũng chẳng ai tiếp cận được.
Tan học, xe đạp của Trương Lôi bị kẹt trong cùng, người cô thấp bé, trông như tiểu học. Minh Nguyệt muốn giúp lôi ra, nhưng Trương Lôi từ chối.
Minh Nguyệt lúng túng, chỉ còn cách dời xe bên cạnh cho cô dễ dắt ra. Xe của Trương Lôi mới tinh, nhìn chắc chắn, chất lượng tốt, lại còn có cái giỏ nhỏ xinh phía trước, Minh Nguyệt thì không có, cô vẫn luôn mong có một cái giỏ như vậy.
Trương Lôi mặt đỏ bừng, bị mắc ở giữa khung xe khác, Minh Nguyệt liền đưa tay, cố gắng nhấc giúp. Cô vừa dùng sức, logo con phượng hoàng nhỏ ở đuôi xe bị trầy mất. Minh Nguyệt giật mình, mặt cũng đỏ bừng theo.
“Xin lỗi nha, để mình đền cho cậu!” Minh Nguyệt tim đập nhanh dồn dập.
Trương Lôi lạnh lùng: “Cậu đền nổi chắc? Đây là quà sinh nhật mẹ tôi tặng, nếu tôi làm hỏng quà sinh nhật cậu, rồi chỉ nói một câu xin lỗi, cậu vui không?”
Minh Nguyệt chưa từng nhận quà sinh nhật.
Có bạn đứng cạnh nói: “Dùng keo dán lại là được mà.”
Trương Lôi cười nhạt: “Dán vào là nguyên vẹn lại được chắc?”
Phạm Tiểu Vân cũng không bắt Minh Nguyệt đền, chỉ càu nhàu mấy câu rồi đạp xe đi. Minh Nguyệt đứng trơ ra, tóc bị gió xuân thổi phần phật.
Mùa xuân xanh ngắt. Minh Nguyệt men theo lối xanh rì mà tới đầu làng. Đường Đường ngồi dưới gốc cây du lớn, nắng trắng xuyên qua chồi non, vỡ vụn rải khắp mặt nó. Khuôn mặt trẻ con loang loáng như một khối pha lê lấp lánh. Minh Nguyệt dựng xe, bước lại gần, hóa ra thật sự là pha lê, Đường Đường khóc rồi.
“Sao lại ngồi đây? Giáo viên không thấy em chắc lo lắm!”
Năm ngoái làng Tử Hư mở một nhà trẻ, năm nay Đường Đường mới đi học. Buổi trưa có cơm, trẻ con phải ngủ trưa, lẽ ra nó không nên ở đây.
Đường Đường cúi gằm đầu: “Tiểu Hổ nói em ăn vụng bánh chocolate của nó.”
Minh Nguyệt ngồi xổm xuống: “Có ăn vụng không?”
Đường Đường đáp: “Không có, cô giáo bảo em rồi, phải để bố mẹ mua cho, không được ăn vụng của người khác.”
Minh Nguyệt ôm Đường Đường vào lòng, hôn lên mái tóc mềm mại của nó: “Em nói thật với chị, có đúng là không ăn vụng không?”
Đường Đường ỉu xìu: “Không có mà, sao chị với cô giáo cứ hỏi hoài vậy.”
Minh Nguyệt nói: “Đợi đến phiên chợ lớn, bảo bà nội mua kẹo cho mình ăn.”
Thế nhưng Đường Đường lại không chịu đi nhà trẻ nữa, nó lăn lộn trên đất, làm nũng, Minh Nguyệt kéo một cái, bụng nó lộ cả ra.
Minh Nguyệt đành phải đưa Đường Đường về nhà.
Dương Kim Phượng vừa bán đậu hũ về, hỏi vài câu, mặt đã sa sầm: “Cô giáo đổ oan cho mày một cái là mày bỏ chạy hả? Nhỡ rơi xuống sông thì sao? Bị xe tông thì sao? Đụng phải kẻ buôn người bắt cóc, ngày nào cũng bị nó đánh thì sao!”
Đường Đường òa lên khóc.
“Khóc khóc khóc, chỉ biết khóc, nói, có ăn vụng bánh chocolate của người ta không?” Dương Kim Phượng nghiêm khắc, “Ăn vụng thì phải xin lỗi người ta, không ăn vụng cũng không thể để cô giáo đổ oan mình. Mày phải nói thật với bà, nếu để bà biết mày nói dối, coi bà có đánh gãy chân mày không!”
Đường Đường len lén nhìn bà nội, vẫn khóc.
Dương Kim Phượng vớ lấy cái chổi, quật mấy cái vào mông nó: “Có biết mở miệng không hả!”
Đường Đường vừa né vừa khóc: “Có ăn mẩu thôi, chỉ ăn mẩu thôi…”
Dương Kim Phượng hỏi: “Ăn mẩu gì?”
Đường Đường nức nở: “Vỏ bánh Tiểu Hổ vứt đi, bên trong còn mẩu, cháu muốn ăn, nên nhặt ăn.”
Minh Nguyệt thấy xót xa, nhưng không nói gì.
Dương Kim Phượng kéo Đường Đường lại, quật thêm mấy cái vào mông: “Để tao coi mày vô dụng chưa, tao coi mày vô dụng chưa! Thèm cái thứ đó đến vậy hả? Nhà mình có cơm có bánh, thiếu gì của mày đâu?”
Đường Đường khóc dữ dội, Minh Nguyệt biết bà nội tính nóng, cô lao tới, giằng cái chổi trong tay Dương Kim Phượng ra ngoài:
“Đừng đánh em nữa, nó còn nhỏ quá, trẻ con thì đứa nào chả ham ăn, đừng đánh em nữa mà!”
Mùa xuân xanh ngắt, ngay cả gió cũng như xanh, thổi thẳng vào người.
Chiếc khăn trùm đầu của Dương Kim Phượng cũng bị gió thổi tung, bà quăng cái chổi, ngồi phịch xuống bậc đá một hồi lâu, chẳng ai dám thở mạnh.
Minh Nguyệt định vào nấu cơm, bếp nguội tanh, cả ba bà cháu còn chưa ăn gì.
“Đường Đường, lại đây.” Dương Kim Phượng gọi.
Đường Đường nhích từng chút lại gần, vừa thấy bà vung tay là nó che mặt.
“Bà không đánh, lại đây bà có chuyện nói.”
Đường Đường ngước nhìn Minh Nguyệt, Minh Nguyệt liền dắt nó đến trước mặt bà nội.
“Mùng tám tới, trên trấn có chợ, bà mua cho mày cái ăn. Sau này không được nhặt đồ người khác ăn nữa, mình không ăn đồ của người ta, biết không? Cũng không được cô giáo vừa nói mấy câu đã bỏ chạy…”
Dương Kim Phượng còn chưa nói xong, cô giáo nhà trẻ đã tìm đến. Cô giáo sợ hãi lắm, bờ sông, miệng giếng đều đã tìm khắp.
Cả đời này, Dương Kim Phượng kính trọng giáo viên nhất, vội vàng đứng lên, mời cô giáo vào nhà uống trà, lại nói đủ điều hay, cực kỳ khách sáo.
Đợi cô giáo đưa Đường Đường đi rồi, sân nhà lặng ngắt, mùa xuân xanh đến hiu hắt.
Minh Nguyệt muốn nói gì đó với bà nội, nhưng Dương Kim Phượng đã mệt lử, bà vừa đạp xe ba bánh cả buổi sáng, chạy khắp năm làng quanh đây.
Minh Nguyệt chỉ lặng lẽ nhóm bếp, nấu cơm. Ăn xong, bếp trong nhà cũng lại im ắng, Dương Kim Phượng phải xuống ruộng, dặn cô học hành cho tốt, làm bài cho xong, lúc đi nhớ cài chốt cửa.
Dương Kim Phượng ra cánh đồng, Minh Nguyệt đi đến chuồng cừu, bế con chiên nhỏ mà cô thương nhất vào lòng, thì thầm với nó.
