Chương 8: Thí Châu Ký I
*
Lư Hội lần đầu nghe nói về Trường An và Lạc Dương khi mới lên bảy, từ lời kể của các khách thương xuôi ngược nam bắc, từ những cái chỉ trỏ của đám thương đội người Hồ vang tiếng chuông lạc đà, từ ánh mắt khao khát của các quan viên mong sớm được thuyên chuyển. Cô biết đó là hai kinh thành phồn hoa, trù phú nhất thiên hạ.
Cô, với lòng mong mỏi thiết tha nhất của một đứa trẻ, luôn khao khát một ngày nào đó được tự do dạo chơi nơi ấy.
Giờ đây, cô đã đến Lạc Dương được ba tháng, nhưng chỉ quen thuộc con phố trước cửa nhà.
Vợ chồng Lư thị vô cùng tức giận vì hành động “thấy nghĩa dũng vi” của con gái ở Kim Châu. Giận đến mức Lư lão bản tính toán ba lần mà ra ba con số khác nhau, giận đến mức Tạ nương tử khi cãi vã với đại phu nhân nhà họ Lư cũng tạm thời lép vế.
“Hai đứa các con đầu óc bị sói hoang gặm mất rồi sao, chỉ có hai người mà dám xông vào hang ổ đạo tặc? Nếu bị phát hiện, rơi vào tay đám giặc ấy, hai tiểu nương tử các con… ôi, ôi…”
Nghĩ đến đứa con côi cút quý giá của mình có thể chịu cùng cảnh ngộ đau đớn như mười một nữ tử đáng thương kia, Tạ Ngọc Phù chỉ thấy hai mắt tối sầm, trời đất quay cuồng, một hơi thở không thông.
Lư Trí Nam vội đỡ lấy thê tử đang chao đảo muốn ngã, hét lớn: “Mau lấy dấm chua tới!”
Tạ Ngọc Phù hớp hai ngụm từ bình dấm mới dần tỉnh lại.
“Người ta vì sao phải áo đen che mặt? Chẳng phải là không muốn để lộ tung tích sao? Vậy mà các con còn dám xông ra! May mà tổ tông tích đức, nếu không, hai đứa các con chẳng phải rơi vào tay giặc sống không bằng chết, thì cũng bỏ mạng dưới lưỡi đao của đám hắc y nhân ấy!”
Lư Trí Nam vỗ đùi đánh bốp bốp, còn làm bộ muốn tìm roi mây đánh người.
Lư Hội cúi gằm đầu, ngoan ngoãn nghe mắng.
Y Lam thì đã chuồn mất từ lâu, chẳng chút nghĩa khí, bỏ mặc cô một mình chịu sấm sét.
Roi mây thì dĩ nhiên chẳng tìm đâu ra, nhà này từ trước đến nay chưa từng có thứ đó. Lư Trí Nam chỉ dọa con gái vậy thôi, đứa con cưng bao năm mới có, sao nỡ xuống tay đánh. Nhưng tà phong tà khí không thể dung túng, để tránh tiểu côi cút sau này còn dám liều lĩnh mạo hiểm, vợ chồng hai người quyết định ra tay trừng phạt nghiêm khắc, biện pháp là nhốt trong nhà, cấm túc không cho ra ngoài.
Phải bế môn tự vấn! Không đóng cửa, sao gọi là tự vấn được?
“Có khi nào phạt nặng quá không?” Tạ Ngọc Phù lo lắng nói, “Nó từ nhỏ đã quen chạy nhảy khắp núi đồi, nhốt trong nhà thế này, liệu có sinh bệnh không?”
Lư Trí Nam vuốt râu, “…Vậy đi, con phố trước cửa vẫn cho phép đi lại.”
Vợ chồng đồng lòng, tự cảm thấy rất hài lòng.
“Yêu thương con cái, nhưng phải đúng mực, không được làm hại chúng. Ta và nàng đâu phải cha mẹ nuông chiều con!”
“Đúng vậy, phạm lỗi thì phải phạt, tuyệt không thể khoan nhượng!”
“Trải qua chuyện này, nó hẳn sẽ biết nặng nhẹ.”
“Chịu hình phạt nặng thế này, chắc chắn sẽ nhớ lâu.”
“…” Y Lam quay mặt đi, nàng sớm biết vợ chồng gia chủ chỉ có chút bản lĩnh ấy.
Lư Hội thì nghĩ, cô đứng nói chẳng đau lưng, người bị nhốt trong Lư Phủ đâu phải cô chứ.
Tạ Ngọc Phù sắm cho Y Lam mấy bộ y phục Hồ tộc mới tinh, xinh đẹp, nhét đầy tiền vào túi nàng. Lư Trí Nam lại lo liệu cho nàng một bộ hồ tịch và giấy thông hành đầy đủ, trong thành Thần Đô, trừ hoàng cung, nàng muốn đi đâu cũng được.
Hôm nay dạo Phiên Phường, ngày mai đi Nam Bắc thị, thậm chí đến Phúc Xuân Phường cũng mở mang tầm mắt một phen. Mỗi ngày nhìn nàng tung tăng với mái tóc tết lấp lánh trâm vàng ra vào, Lư Hội chỉ thấy trong miệng chua loét.
Ai ngờ được Lư tiểu nương tử ngày xưa tiêu dao tự tại, giờ đây chỉ có thể co mình trong một căn nhà cũ kỹ, ngồi làm nữ công.
Đúng vậy, nhà cũ kỹ.
Lần đầu đến nhà họ Lư, chính Lư Hội cũng giật mình.
Lư trạch ở Cảnh Hành Phường là một tòa đại trạch cổ kính, trang nhã, nhìn từ ngoài còn ra dáng ra hình, nhưng chỉ cần bước vào trong dạo một vòng, sẽ thấy nơi này đã lâu năm không sửa chữa, khắp chốn lộ rõ vẻ tàn tạ.
Tây Bắc đồn đại rằng chủ gia của Lư thị thương hành xuất thân từ một trong ngũ tính thất vọng, tức Lư thị Phạm Dương, lời này cũng không hoàn toàn là bịa đặt.
Tổ phụ của Lư Trí Nam quả thực xuất thân từ Lư thị Phạm Dương.
Cây lớn tất có cành nhánh, một môn phiệt thế tộc lừng lẫy vài trăm năm không thể nào để tất cả con cháu mãi tụ cư một nơi. Vì đủ loại nguyên do, luôn có những chi thứ rời bỏ quê tổ, đến nơi khác cắm rễ, nảy mầm, sinh sôi nảy nở.
Có chi thứ phát đạt, đường hoàng tuyên xưng tổ tiên, dựng lại từ đường môn đệ, cùng chi chính hỗ trợ lẫn nhau trên triều đình. Nhưng phần lớn chi thứ bị phân ra, sau vài đời làm bạch thân, dần dần suy bại.
Ví như thê tử của Bùi Hoàn, Liễu thị, từ thời cao tổ đã nhiều đời làm bạch thân. Cha bà may mắn cưới được nữ nhi của một nhà thương nhân có chút gia sản, đã là vạn hạnh.
Tình cảnh của chi Lư Trí Nam cũng tương tự.
Là chi thứ của chi thứ của chi thứ Phạm Dương Lư thị, tổ phụ của ông năm xưa bị phân gia, dẫn thê thiếp con cái đến Lạc Dương vừa dứt chiến loạn, mua một tòa trạch viện ba gian trước sau ở Cảnh Hành Phường để an gia lập nghiệp.
Khi tổ phụ qua đời, bên giường chỉ có hai người con trai, đều do chính thê sinh ra, tư chất bình thường như nhau, chẳng ai tỏ ra có tiền đồ. Thế là tổ phụ chia gia sản theo tỷ lệ bốn sáu cho hai huynh đệ — tổ phụ của Lư Trí Nam chính là con thứ.
Tổ phụ thể nhược, chỉ sinh được cha của Lư Trí Nam.
Phụ thân ông từ nhỏ lập chí thi đỗ công danh, làm rạng rỡ môn đình, nhưng tiếc thay chẳng phải người có tài đọc sách. Thân thể bị hao mòn, sớm qua đời, để lại cô nhi quả mẫu sống nhờ vài mẫu ruộng mỏng. Nhưng quả mẫu cũng chẳng cầm cự được bao lâu.
Năm Lư Trí Nam mười tuổi, song thân đều mất. Theo lệ thời bấy giờ, ông được đường bá phụ nuôi dưỡng.
Lư Trí Nam đối với đường bá phụ có tình cảm rất phức tạp. Là tộc trưởng của chi Lư thị này, đường bá phụ quả thực tận trách nuôi ông khôn lớn, cho ông học hành cơ bản và giao thiệp với người đời, không để ông lưu lạc đầu đường, đói rét khốn khổ.
Nhưng đường bá phụ cũng lấy đi chút tài sản mọn mà song thân ông để lại, chẳng những không có ý hoàn trả, mà còn thường xuyên trước mặt người đời ra vẻ ơn nghĩa ngập trời.
Năm mười bảy tuổi, Lư Trí Nam nhìn thấu tiền đồ của mình. Ông không muốn cúi đầu làm kẻ hầu dưới các đường huynh đệ, sống nhờ lòng thương hại bố thí. Ông không phải kẻ có tài đọc sách, nhưng thân thể tráng kiện, khéo léo linh hoạt, lại thêm Tạ Ngọc Phù nhạy bén quyết đoán. Đôi vợ chồng trẻ tin tưởng có thể gây dựng gia nghiệp của riêng mình, bèn dứt khoát rời xa quê hương.
Hoàng thiên phù hộ, hơn hai mươi năm qua, tuy gian nan trắc trở không ngừng, vợ chồng ông cuối cùng cũng vượt qua nghịch cảnh, đạt được thành công.
Khác với Tạ Ngọc Phù chẳng chút lưu luyến nhà mẹ đẻ, Lư Trí Nam luôn nhớ mãi song thân sớm qua đời.
Phụ thân ông khoan hậu, mẫu thân ông từ ái, tuy không giàu sang phú quý, nhưng một nhà ba người sống vui vẻ mỹ mãn.
Trong những năm tháng sống nhờ nhà người, ông luôn mong một ngày có thể mua lại mảnh đất nhỏ nơi ông sinh ra và lớn lên, đồng thời dời mộ song thân, dựng lại bia đá.
Nhưng Sa Châu cách Lạc Dương ngàn dặm xa xôi, ông chủ Lư lại bận rộn công việc, ý nguyện này đành cất giữ trong lòng suốt hai mươi năm. Mãi đến nửa năm trước, ông nhận được thư từ Lạc Dương, báo rằng đường bá phụ bệnh nguy kịch, gọi ông về chịu tang.
Lư Trí Nam quá hiểu gia đình đường bá phụ. Việc tốt chắc chắn chẳng đến lượt ông.
Thư vượt ngàn dặm gửi đến, ắt hẳn là có việc cần ông ra sức. Ừm, hoặc là ra tiền.
Đã có ý cầu mình, Lư Trí Nam không khỏi nghĩ đến việc lấy lại mảnh đất mọn kia, dù sao đó cũng là vật duy nhất song thân để lại. Thê tử Tạ Ngọc Phù hết sức ủng hộ ý định của ông, vợ chồng lập tức lên đường.
Đến Lạc Dương, Lư Trí Nam mới phát hiện nhà đường bá phụ suy bại vượt xa tưởng tượng của ông.
Theo ý đường huynh Lư Thiện, “Ngươi, Lư Trí Nam, được phụ thân ta nuôi lớn, giờ cần báo đáp ơn dưỡng dục, mau lấy tiền ra đây.”
Lư Trí Nam cũng chẳng phải quả hồng mềm dễ bóp — báo ân thì được, nhưng nếu nuôi ta bảy năm chỉ để sau này thu hồi báo đáp, thì trước tiên hãy trả lại tài sản của phụ mẫu ta.
Mảnh đất mọn kia may sao vẫn còn, nhưng những tài sản khác sớm bị nhà Lư Thiện bán sạch, dùng sạch, lấy đâu ra mà trả.
Huống chi Lư Thiện mở miệng sư tử, nghe ngóng được vợ chồng Lư Trí Nam nay gia sản vạn quán, hận không thể moi được cả một ngọn núi vàng, để cả nhà mình mãi mãi áo gấm đeo vàng.
Vợ chồng Lư Trí Nam kinh qua bao năm lăn lộn, đối phó với loại người như Lư Thiện thừa rất nhiều kiên nhẫn.
Sau khi lo liệu tang sự cho đường bá phụ, vợ chồng ông một mặt quan sát thương hội Lạc Dương, tìm kiếm mặt bằng thích hợp ở các phường thị, một mặt chờ Lư Hội đến đoàn tụ. Lúc rảnh rỗi, mới thong thả đấu khẩu với nhà Lư Thiện – dù sao người cần gạo cũng chẳng phải họ.
Lư Hội đến nơi, cũng được mở mang tầm mắt. Tây Bắc tuy không sánh bằng Trung Nguyên phồn hoa trù phú, nhưng chính vì sinh tồn khó khăn, ai nấy đều rất thực tế. Cô thật chưa từng thấy loại người chết sĩ diện, nghèo mà thích phô trương như thế.
Đại bá, nhị bá, tam bá của Lư Hội cùng thê thiếp con cái, thậm chí cả thê thiếp của con trai, tổng cộng hơn hai mươi miệng người chen chúc trong một tòa trạch viện cỡ trung, lại nuôi thêm hơn chục nô bộc, ba con ngựa già.
Dù nữ quyến phải luân phiên đeo trang sức vàng, váy áo vá chằng vá đụp, xe ngựa phải đi thuê, các nàng dâu trẻ phải tự mình xuống bếp, giặt giũ, quét dọn thì thể diện khi ra ngoài vẫn không thể thiếu.
Lư Hội thật không hiểu nổi, Lư Phủ bao nhiêu lang quân rõ ràng có tay có chân, có sức lực, sao không ra ngoài tìm kế sinh nhai? Ba ngày hai lượt đến tửu lâu dự tiệc, tụ họp ngâm thơ kết bạn, chỉ chi không thu, gia nghiệp sao không suy bại?
“Hội Hội không hiểu, đây gọi là thể diện thế gia.” Giọng Lư Trí Nam đầy ý châm chọc.
Tạ Ngọc Phù thong dong làm thêu, “Thuyền rách còn ba cân đinh, thế này vẫn chưa chạm đáy. Đợi đến ngày đứt bữa, họ mới chịu bỏ sĩ diện xuống.”
Nghiêm khắc mà nói, nhà họ Lư chưa đến mức cùng đường, chỉ đang trong cảnh suy tàn chậm rãi.
Không như nhà họ Lý ở Đạo Chính Phường phía bắc thành, đã biến hai phần ba tổ trạch thành lữ điếm, coi như nửa phần bước vào thương lưu; càng không như nhà họ Tiêu ở Quy Nghĩa Phường bên cạnh, tự xưng thanh cao, nhất quyết không chịu tự lực cánh sinh, đành bán tổ trạch, dọn ra huyện thành ngoại ô.
Nhà họ Lư dù sao tổ trạch vẫn còn, điền sản ngoại ô chưa bán sạch, chỉ là miệng ăn nhiều, người làm ít, chi vượt quá thu mà thôi.
Lư Hội từng tốt bụng nhắc nhở, trong trạch có một hồ nước lớn, lại hiếm có là nước chảy, thay vì để cỏ nước mọc đầy, sao không nuôi cá, ba ba, vừa để gia đình dùng, vừa bán lấy tiền, chẳng phải rất tốt sao?
Rồi cô bị cả đám chế giễu.
Thứ nhất, đó không phải cỏ nước, mà là lan thảo thủy sinh
Lư Hội: Chẳng phải vẫn là cỏ sao?
Thứ hai, hồ ấy có cái tên rất thanh nhã, gọi là “Đạm Nhã Trì”; hồ thanh nhã thế sao có thể nuôi cá, ba ba?
Cuối cùng, trong nhà chẳng ai biết nuôi.
Lư Hội: “…”
Thôi, xem như cô lắm lời.
*
Hôm ấy mưa lớn, Lư Kỷ tám tuổi dắt Lư Ỷ năm tuổi khóc lóc chạy đến.
Hóa ra trưởng tôn của tam bá cướp túi hương bạc mạ vàng của Lư Ỷ. Lư Kỷ vì muội muội mà bênh vực, lại bị tiểu nhi tử của đại bá đẩy ngã trong mưa — giờ hai kẻ gây họa đều trốn vào phòng Lư tiểu muội.
Lư Hội đập bàn giận dữ, lau khô nước mắt cho đệ muội, thay y phục khô ráo, rồi dẫn một đám người hùng hổ kéo đến phòng Lư tiểu muội.
Y Lam cười tươi theo sau.
Lư tiểu muội đã chuẩn bị sẵn, gọi một đám nô tì cầm gậy gộc thủ thế trong phòng.
Lư Hội vốn định chất vấn một phen, ai ngờ vừa vào phòng đã nghe tiếng tí tách liên hồi. Cô nhìn quanh, mới phát hiện mái nhà dột, không chỉ một chỗ, trên sàn như trận đồ mai hoa, đông một chậu tây một bát, tổng cộng bảy tám cái để hứng nước mưa.
Lư Hội không nhịn nổi: “Nhà cô ngay cả tiền tu sửa mái nhà cũng không có sao? Ngày tháng đã đến nước này, các huynh trưởng của cô còn mơ tưởng nạp thiếp chơi kỹ, phụ thân và thúc phụ cô còn ba ngày hai lượt uống rượu vui chơi, mấy đứa nhỏ các cô chỉ biết bắt nạt đệ muội ta. Nhà này còn ra thể thống gì nữa?”
Lư tiểu muội the thé mắng: “Ngươi, con gái nhà thương nhân xảo trá, có vài đồng tiền bẩn đã tự cho là ghê gớm sao?”
Lư Hội bản tính chất phác, không mắng được lời khó nghe. Y Lam thì chẳng khách sáo, nàng chống nạnh: “Đương nhiên là ghê gớm! Phụ thân cô giờ ngày nào cũng đến xin tiền gia chủ nhà ta. Mấy tháng nay nếu không phải gia chủ chi tiền cho nhà cô, phụ thân cô đã sớm bán cô lấy tiền cưới gả rồi!”
“Cô, cô…” Lư tiểu muội giận run người, ánh lệ lấp lánh.
Y Lam chế giễu: “Cô cái gì mà cô? Con gái nhà thương nhân còn hơn ‘cô nương chờ gả’, cô cũng xứng khinh Hội Hội nhà ta sao?”
Mấy tháng ở Lạc Dương, nàng chẳng phải đi dạo vô ích, nghe được bao chuyện chưa từng biết, trong đó có “bán hôn”.
Cây báu nhà họ Tạ, thỉnh thoảng cũng có lá vàng. Môn phiệt thế tộc nhiều đời làm quan, dĩ nhiên có thể môn đăng hộ đối mà cưới gả. Nhưng những thế gia dần suy tàn thì sao?
Có gia đình thứ tộc giàu có, ham danh tiếng cao quý của thế tộc, sẵn lòng bỏ tiền lớn cưới con gái các gia đình sa sút.
Nhưng dù nghèo khó đến mức no ấm cũng khó khăn, thế gia sa sút vẫn không cam lòng làm thông gia với thứ tộc, thế là làm một vụ mua bán một lần — không màng nam phương cao thấp mũm mĩm, già trẻ hiền ngu, chỉ cố vơ vét sính lễ thật nhiều.
Hành vi này, người đời gọi là “bán hôn”.
“Bán hôn” là việc rất mất thể diện, nữ tử bị bán hôn vì chờ giá mà gả, còn gọi là “cô nương chờ gả”.
Lư tiểu muội lệ ướt nhòa, môi run run: “Hôn sự là việc lớn, vốn do cha mẹ định đoạt, lời người mai mối. Đại tỷ ta gả cho Trịnh thị Huỳnh Dương môn đăng hộ đối, nhị tỷ ta gả cho con trai thủ bị cung thành. Ta sau này cũng sẽ được gả tốt! Hai nữ tử man di không biết lễ nghi giáo hóa các cô, dám nhục mạ phụ huynh ta. Người đâu, đánh chúng ra ngoài cho ta!”
Các bộc phụ trong phòng nghe lệnh, vung gậy dài ngắn đánh tới.
Y Lam nhanh tay đoạt một cây cán bột, quất đông đánh tây, thoáng chốc khiến cả phòng bộc phụ ngã nghiêng ngã ngửa. Lư tiểu muội thấy mình không địch nổi, dứt khoát nằm bò lên bàn khóc rống, miệng kêu “nhục mạ phụ huynh ta, hủy thanh danh ta, ta không sống nữa” vân vân.
Lư Hội sợ nhất cảnh này, vội kéo Y Lam chạy trối chết.
Chẳng thể đòi lại công đạo cho đệ muội, cô đành dẫn Lư Kỷ, Lư Ỷ ra con phố trước cửa dạo chơi.
Mưa tạnh trời quang, phố xá sạch bụi, không khí trong lành.
Lư Hội bế Lư Ỷ, Y Lam dắt Lư Kỷ, hai người vừa đi vừa trò chuyện.
Lư Hội cầm hồ lô ngào đường dỗ Lư Ỷ, “Sửa mái nhà đâu có khó. Mua ít bột đá xanh thượng hạng, trộn nước với cháo gạo, quét đều lên tấm gỗ mới đóng, đợi khô rồi lợp ngói mới là xong — tôi cũng làm được.”
“Cô muốn giành bát cơm của lão Triệu à, cẩn thận ông ấy lại chạy đến khóc lóc với phu nhân.” Y Lam dừng chân trước một tiệm đường, cân vài lạng kẹo mạch nha và đường trái cây cho Lư Kỷ.
Giọng nàng mang ý châm biếm, “Mấy tiểu nương tử này ban đầu đều thế, việc gì cũng trông chờ người nhà định đoạt, nghĩ rằng trời sập cũng có phụ huynh gánh vác. Đợi đến khi nếm chút khổ đau thì sẽ tỉnh ngộ. Hội Hội, đừng bận tâm đến nàng ta.”
Lư Hội khẽ thở dài, “Sao cứ phải đợi đến khi chịu khổ mới hiểu ra chứ…”
Cô biết, sĩ nông công thương, con cháu thế tộc sao có thể hạ mình làm việc thợ thuyền.
Thế nên Lư Phủ giờ đây vườn hoa hoang phế, sân viện tiêu điều, vì không thuê nổi thợ nề, đành để mặc căn nhà dột mãi.
Thế tộc, rốt cuộc thế nào mới là thế tộc?
Thế tộc mất đi quyền thế và tài sản, còn được xem là thế tộc nữa không?
Hai thiếu nữ trò chuyện bâng quơ, Lư Hội mỏi tay, bèn đổi với Y Lam.
Cô vừa nắm tay Lư Kỷ, một cỗ xe ngựa vẽ hoa mạ vàng lướt qua bên cạnh.
Lúc này tiết trời còn nóng, quý phụ Lạc Dương ra ngoài hoặc cưỡi ngựa, hoặc ngồi xe lộng lẫy để mở, bốn phía buông rèm lụa mỏng. Xe lộng lẫy lướt đi, rèm lụa tung bay uyển chuyển, thướt tha, quả là một cảnh đẹp của kinh thành.
Khi cỗ xe lộng lẫy này lướt qua nhóm Lư Hội, bỗng nghe “xoảng” một tiếng kim loại gãy vụn, thân xe nghiêng về một phía. Đám gia đinh nô tì vây quanh xe kêu lên kinh hãi, kẻ kéo ngựa thì kéo ngựa, người đỡ xe thì đỡ xe.
Lư Hội vội đẩy đệ đệ cho Y Lam, lao nhanh tới, trước khi bánh xe hoàn toàn rời trục gãy, liên tục đá mấy cái, khiến bánh xe bật lại chống đỡ khung xe. Nhân khoảnh khắc ngắn ngủi này, cô lập tức đỡ vị quý phụ sắp ngã khỏi xe ra ngoài.
Vị quý phụ này cao hơn Lư Hội đôi chút, nhưng gầy yếu lạ thường, khi Lư Hội đỡ nàng hầu như không cảm nhận được chút sức nặng nào.
Mũ rèm nghiêng lệch che khuất dung mạo quý phụ, nhưng chỉ nhìn bàn tay trắng nhợt với những đường gân xanh đen nổi rõ, cũng biết nàng chắc chắn yếu đuối không chịu nổi.
Chỉ ngẩn ra một thoáng, hai bộc phụ đã vội tiến tới đỡ quý phụ đi.
Một phụ nhân dáng vẻ quản sự vội vàng bước lên, “Đa tạ tiểu nương tử ra tay tương trợ. Phu nhân nhà ta họ Tiết, trú tại Bùi Phủ ở Thanh Hóa Phường. Xin hỏi quý tính của tiểu nương tử, gia cư nơi đâu, ngày khác nhất định sẽ đến cửa tạ ơn.”
*
Sâu trong Bùi Phủ ở Thanh Hóa Phường.
Phụ nhân quản sự vừa ở bên xe quý phụ đến cầu kiến, Tử Liệt mở cửa cho nàng vào thư trai.
Bùi Thứ Chi đặt bút ngọc tê xuống, “Thế nào?”
Phụ nhân khom người đáp: “Xin công tử yên tâm, mọi việc đã thu xếp ổn thỏa, người qua đường và các tiệm gần đó đều nhìn thấy.”
Lão Tống hài lòng: “Cuối cùng cũng kịp, vị ấy ít ra ngoài, nếu lỡ dịp hội lớn của Vĩnh Ninh Công Chúa năm nay, muốn sắp xếp lần sau e chẳng dễ dàng.”
Bùi Thứ Chi nhận ra phụ nhân quản sự như muốn nói lại thôi, “Chuyện gì, nói.”
Phụ nhân quản sự lấy từ trong tay áo một chuỗi tiền, vẻ mặt hoang mang, “Lư tiểu nương tử để lại chuỗi tiền này, nói là, nói là…”
Bùi Thứ Chi nhướng mày, cũng không hiểu.
Phụ nhân quản sự: “…Nói là để chúng ta thuê xe.”
*
Sau bữa tối, mọi người ngồi trong sân hóng mát.
“Lại một nhà mặt ngoài sáng sủa mà bên trong suy tàn.” Y Lam phe phẩy quạt lá, “Đến xe ngựa cũng không bảo dưỡng nổi, trục xe nói gãy là gãy, thật là sĩ diện chết người.”
Lư Hội ôm dưa ngọt ướp nước giếng, lòng đầy thương cảm, “Ôi, đáng thương vị phu nhân yếu bệnh ấy, sao đi đường nổi chứ. Nhà họ Bùi này không biết đã sa sút đến mức nào rồi.”
Tác giả có lời muốn nói:
Vào thời Đường, đơn vị kiến trúc cơ bản của hai kinh thành Trường An và Lạc Dương đều là “phường”.
Từ đầu thời Tùy đến đầu thời Đường, số phường trong thành Trường An khoảng một trăm lẻ tám. Vào thời Cao Tông và thời Khai Nguyên, thành có mở rộng thêm.
Mỗi phường đều có hình vuông, các phường trong cùng một dãy dọc cơ bản có kích thước như nhau, còn theo chiều ngang thì hơi khác biệt. Giữa các phường là những con đường lớn nhỏ không đều.
Theo ghi chép và khảo cổ về cổ thành Trường An, phường nhỏ có diện tích khoảng (500-600m x 500-600m), phường trung bình khoảng (500-600m x 700-800m), còn phường lớn thì có thể lên tới (500-600m x 1000-1200m). So với Trường An, các phường ở Lạc Dương rất đều đặn, phần lớn có kích thước giống nhau.
Giả sử một trạch viện ba gian thông thường thời xưa có diện tích khoảng 1000-2000 mét vuông, một phường có thể chứa ít nhất mười mấy hộ gia đình. Nếu phạm vi cư trú nhỏ hơn, như Bạch Cư Dịch thời trẻ ở Trường An, ban đầu chỉ ở lữ điếm, sau thuê được nhà chỉ đủ chỗ cho vài nô bộc và thư đồng, thậm chí không có nhà bếp riêng. Về sau, ông mới thuê được một tiểu viện hai gian vài trăm mét vuông.
Môi trường sống giữa các phường chênh lệch rất lớn. Nếu may mắn, trong phường có đại hộ giàu có thích làm việc thiện, có thể họ sẽ bỏ tiền cải thiện điều kiện sinh sống của phường, như trồng thêm cây xanh, dọn sạch kênh rạch, tu sửa nhà cũ, v.v.
Nhưng nếu là những phủ đệ cực kỳ rộng lớn xa hoa, một phường có khi chỉ chứa được vài hộ.
Ví dụ: Theo ghi chép, Phấn Dương vương phủ của Quách Tử Nghi tọa lạc tại Thân Nhân Phường ở Trường An, trạch viện rộng rãi, lầu các cao vút, có đến ba ngàn nô bộc. Chính giữa vương phủ còn có một con hẻm dài, các viện trong phủ qua lại với nhau có thể đi xe hoặc cưỡi ngựa. Vài ngàn người ra vào, qua lại tấp nập, thân thuộc trong phủ thậm chí còn không biết mặt nhau — chỉ riêng Phấn Dương vương phủ đã chiếm tới một phần tư diện tích Thân Nhân Phường.
