Chương 17: Nhận thân ký 3
*
Trong sảnh hoa rộng lớn, bốn năm chiếc bàn tròn và hai dãy bàn dài được bố trí rải rác, trên bàn chất đầy các loại trái cây theo mùa và điểm tâm thơm ngọt, để các quý nhân trong sảnh tùy ý thưởng thức. Riêng bánh bích la, Lư Hội đã thấy đến sáu bảy loại hình dạng khác nhau, dựa vào cách trang trí, cô đoán có lẽ là bích la anh đào, bích la cua, bích la thịt dê, bích la nho, và nhiều loại khác.
Những nô tỳ dáng người lanh lợi lặng lẽ qua lại, tay bưng các loại trà sữa thơm lừng, rượu trái cây, rượu nhạt, rượu đinh hương, cháo sữa, thậm chí cả canh hồ tiêu quý giá, lần lượt rót đầy chén bát trước mặt các chủ nhân.
Rõ ràng mọi người đã dùng xong bữa trưa, nên những món ăn uống này chỉ là để tiêu thực sau bữa.
Thật khí phái, Lư Hội dùng khăn lau mồ hôi trên trán, cảm thấy mình lại đói rồi.
Bùi Thứ Chi chỉ sang một bên cạnh mình, nói với Lư Hội: “Lại đây ngồi.”
Lư Hội vội vàng chạy bước nhỏ tới, lập tức có nô tỳ đặt một chiếc ghế gấm ngay bên dưới chỗ Bùi Thứ Chi.
“Dì Tiết hôm nay thế nào?” Bùi Thứ Chi ra vẻ hỏi han.
Lư Hội cũng ra vẻ đáp: “Bẩm biểu huynh, khí sắc vẫn khá, vừa dùng xong bữa trưa, giờ đang nghỉ ngơi.”
Bùi Thứ Chi tỏ vẻ quan tâm: “Vậy là tốt, ngày thường muội phải khuyên dì ấy giữ gìn sức khỏe, không được phí tâm sức.”
Lư Hội ngoan ngoãn: “Muội biết rồi.”
Bùi Thứ Chi khẽ gật đầu, rất hài lòng với sự phối hợp ăn ý giữa hai người.
Cô nha đầu ngốc này tuy hay cãi bướng, nhưng vào lúc quan trọng vẫn rất đáng tin.
“Đây là tiểu nương tử nhà họ Lư mà cậu nói đến?” Thôi Huyền nửa nhấc mí mắt, giọng điệu uể oải.
Là người lớn tuổi và cao vai vế nhất trong sảnh, ông ta ngồi ngay chính giữa vị trí cao nhất, hai tiểu đồng quỳ dưới chân nhẹ nhàng đấm chân cho ông. Cách bên phải một chút là Thôi lão phu nhân tựa trên trường kỷ, bên trái cách vài bước là Bùi Thứ Chi, ba người vừa vặn ngồi thành hình chữ phẩm lệch lạc.
“Con cháu Lư thị Phạm Dương sao lại đi làm thương nhân?” Lão già nói giọng mỉa mai.
Lư Hội cúi đầu thầm oán: Không làm thương nhân thì ông đưa tiền cho cha mẹ tôi à!
“Dân chúng quốc triều, sĩ nông công thương đều như nhau, tổ phụ chớ nên có thành kiến. Song thân muội ấy ở Lũng Hữu đạo nhiều lần làm việc thiện, sửa cầu lát đường, cứu tế kẻ nghèo, còn được triều đình khen thưởng.” Bùi Thứ Chi cao giọng, lời lẽ trôi chảy, khiến người ta không thể phản bác.
Mức vinh quang này trong mắt Thôi thị Bác Lăng rõ ràng chẳng đáng gì, Thôi lão phu nhân hừ lạnh: “Chỉ là một nô tỳ chăm sóc Tiết phu nhân, cần gì nhận làm biểu muội? Nhà ta môn đình cao quý, Thất lang chớ làm bừa.”
“Lư nương tử tổ tông quả thật xuất thân từ Lư thị Phạm Dương, huống chi là con gái nhà đại thương nhân Tây Bắc, sao có thể gọi là nô tỳ.” Bùi Thứ Chi mỉm cười phản bác: “Song thân cháu dặn dò phải chăm nom dì Tiết cho tốt, nhưng nhân lực không thể cải mệnh, bệnh tình dì Tiết ngày càng nặng, hiếm có Lư nương tử khiến dì ấy vui, nhận làm biểu muội thì có làm sao?”
Thôi lão phu nhân cúi đầu nghịch chuỗi hạt mã não trên cổ tay: “Gì mà ‘song thân’? A Hoàn từ nhỏ không thông thạo thế sự, ngay cả mặt Tiết phu nhân cũng chỉ gặp đôi lần, đều là ý của mẹ cậu. Nhà ta với nhà họ Tiết vốn chẳng có giao tình sâu đậm, giờ lại cung phụng một Tiết phu nhân suy sụp như Bồ Tát, Thất lang không sợ người ngoài cười chê sao!”
Lư Hội nghe ra, lão phu nhân này không phải không hài lòng với cô, mà là không hài lòng với đãi ngộ của Tiết phu nhân trong Bùi phủ; mà nói không hài lòng với đãi ngộ của Tiết phu nhân, thực ra là không hài lòng với Liễu phu nhân, mẹ của thiếu tướng.
Bùi Thứ Chi chẳng để tâm đến lời oán trách này, cười mà giải thích: “Nhà họ Tiết tuy suy tàn, nhưng chưa đến mức ‘suy sụp’, vẫn còn vài nhà thân thích. Nếu phu thê Đậu học sĩ không về quê chịu tang, vốn định đón dì Tiết qua. Thực ra vài ngày trước, Quận vương Tín Lăng còn nói muốn đón dì Tiết đến ở vài ngày, ta sợ dì ấy vất vả nên đã từ chối.”
Mẹ của Tiết phu nhân xuất thân từ Lưu thị Phù Phong , chính là cô ruột của Lưu Phi và phu nhân Đậu Đàm, nên Tiết phu nhân và phu nhân Đậu Đàm coi như biểu tỷ muội. Quậ vương Tín Lăng phải gọi Tiết phu nhân là dì, vừa hay làm cớ để ông ta thường xuyên đến Bùi phủ.
Thôi lão phu nhân thần sắc kiêu ngạo: “Quận vương Tín Lăng thì đã sao, chỉ là một hoàng tôn nhàn tản bị bệ hạ gạt sang một bên, đợi ngày Lương Vương kế vị, còn chưa biết có thể…”
“Đừng nói bừa!” Thôi Huyền quát lớn: “Việc kế vị là đại sự, bệ hạ tự có quyết định, sao để nữ nhân nội trạch bàn luận lung tung.”
Thôi lão phu nhân nhanh chóng đổi giọng, khẽ kêu: “Ôi chao, vừa rồi rượu nho trông hồng hào thế, hóa ra hậu kình mạnh, làm ta chóng mặt.”
Bùi Thứ Chi hứng thú nhìn đôi huynh muội đã vào tuổi xế chiều này –
Mẹ đẻ của họ là Định Dương Đại Trưởng công chúa đã qua đời từ lâu, tuy vai vế cao, nhưng lão luyện khôn khéo, chưa từng đối đầu với Chử Hậu tiền triều. Dù là cái chết của Thôi Quý Phi hay việc ban bố Cấm Hôn Lệnh, Định Dương Đại Trưởng công chúa đều không oán trách, còn thường xuyên lên tiếng bênh vực hoàng đế và hoàng hậu. Vì thế, Chử Hậu đáp lễ, không chỉ phong tước cho trưởng tử Thôi Huyền, mà còn phong trưởng nữ làm Phần Dương quận quân.
Quả nhiên, những kẻ sống sót qua cơn địa chấn hơn mười năm trước đều là người thông minh.
“Lư nương tử ở đâu?” Thôi lão phu nhân giả vờ say rượu.
Bùi Thứ Chi: “Dĩ nhiên ở cùng dì Tiết.”
Lư Hội nhịn không được liếc người bên cạnh, rõ ràng chỗ ở của cô cách chỗ Tiết phu nhân cả một hồ nước, lại gần thư trai của chàng hơn – Cha nói không sai, đám thế gia cao môn này đều là tinh anh, nói dối không chớp mắt, diễn xuất tuyệt vời.
Thôi lão phu nhân bĩu môi, tỏ ý không tán thành.
Bùi phủ ở Thần Đô vốn do Bùi Thứ Chi đứng đầu, nhưng Thôi lão phu nhân tuổi cao vị trọng, mà Bùi Thứ Chi lại chưa có phu nhân quản lý nội trạch, nên mọi việc trong phủ vẫn do bà ta nắm giữ.
Duy chỉ có Tiết phu nhân, từ ngày phu thê Bùi Hoàn đưa bà vào phủ, mọi chi phí ăn ở đều từ kho riêng của Bùi Thứ Chi, không qua sổ sách chung, lại còn khoanh riêng một phần ba khu vực phía đông Bùi phủ, không giao thiệp với người khác trong phủ.
Bùi Thứ Chi nói Lư Hội ở cùng Tiết phu nhân, ý là Lư Hội không thuộc quyền quản lý của Thôi lão phu nhân, bà ta sao có thể vui?
Dĩ nhiên, đây chỉ là chuyện nhỏ, điều Thôi lão phu nhân thực sự quan tâm là việc khác… Nghĩ đến đây, bà ta và huynh trưởng Thôi Huyền lặng lẽ trao đổi ánh mắt – Bùi Thứ Chi năm nay hai mươi hai, chưa đính hôn.
Với quyền mưu cao thâm và thủ đoạn tinh diệu của chàng, dù có đổi triều hoán đại, chàng cũng sẽ tiếp tục vinh hoa, tương lai ắt vị cực nhân thần. Vậy thì thê tử của chàng chẳng phải sẽ có thế như Hoắc Hiển hay Tôn Thọ, mang lại lợi ích to lớn cho nhà mẹ đẻ sao?
Bùi Thứ Chi bận rộn triều chính, còn âm thầm làm chuyện lớn, vốn không vướng bận chuyện phong nguyệt, hôm nay đột nhiên dẫn về một thiếu nữ, chẳng lẽ…?
Thôi lão phu nhân giật mình, vội cúi đầu nhìn, rồi lập tức cảm thấy mình lo xa.
Tiểu nương tử họ Lư kia ngồi chẳng ra dáng, tay chân thô kệch, mặt mày mông lung, có lẽ chẳng hiểu họ nói gì, thỉnh thoảng còn mơ màng nhìn điểm tâm trên bàn, không biết đang nghĩ gì.
Dù Bùi Thứ Chi đối với cô gái ấy bề ngoài có vẻ lễ độ, nhưng không hề có chút lưu luyến ái muội, ngược lại còn thoáng chút bất đắc dĩ và ghét bỏ. Thôi lão phu nhân tin vào con mắt từng trải mấy chục năm của mình, chắc chắn không thể nhìn nhầm – xem ra, Bùi Thứ Chi thực sự vì Tiết phu nhân mà dẫn cô gái này vào phủ.
Thôi Huyền thì không nghĩ nhiều như muội muội. Dù Bùi Thứ Chi có ý với cô gái họ Lư này, giữ bên cạnh làm thiếp thì đã sao, chỉ là con gái nhà thương nhân thôi. Thê tử tương lai của Bùi Thứ Chi ắt phải là công chúa hoàng tộc hoặc khuê tú danh môn, chút khí lượng ấy chắc chắn phải có.
Trong sảnh nhất thời không ai lên tiếng, nhưng ánh mắt qua lại, đều mang ý sâu xa.
Lư Hội ngó lên trần nhà, thầm nghĩ ba người này cộng lại ít nhất có mười bảy mười tám cái tâm nhãn.
“Ôi, trời cao có đức hiếu sinh, Tiết phu nhân cô khổ, lại có lời dặn của mẹ cháu, Thất lang cứ chăm sóc bà ấy cho tốt.” Thôi Huyền thở dài, đôi mắt già nua ươn ướt, như thực sự rất thương xót Tiết phu nhân: “Chỉ cần Lư tiểu nương tử tận tâm an ủi Tiết phu nhân, nhà ta nhận mối thân thích này cũng chẳng sao.”
“Ý của cháu chính là như thế này.” Bùi Thứ Chi chờ đúng câu này, khẽ nghiêng người về phía Thôi Huyền: “Chỉ cần Hội nương khiến dì ấy vui vẻ hơn, tương lai cháu chẳng những tặng muội ấy một khoản tiền của hậu hĩnh, mà ngay cả hôn sự của muội ấy cháu cũng sẽ lo liệu.”
Nói xong, chàng cảm thấy không ổn, vội bổ sung: “Ý cháu là, sẽ tìm cho cô ấy một mối hôn sự tốt đẹp.”
Thôi Huyền gật đầu: “Vậy rất tốt. Cha mẹ cô ấy dựa vào bản thân tạo dựng sự nghiệp, hẳn cũng có chút tài năng. Nhưng…” Ông ta nhớ ra một chuyện: “Lư thị, cô đọc được bao nhiêu sách?”
Với năng lực của Bùi Thứ Chi, mối hôn sự mà chàng tìm cho tiểu nương tử này chắc chắn không tệ.
Nhưng tương ứng, tài học của tân nương cũng không thể quá tệ.
Lư Hội giật mình: “À, tôi đọc rồi, đọc rồi…” Đọc gì cơ? Cô đọc sách bao giờ chưa? Cô chẳng biết nữa.
Bùi Thứ Chi nhếch môi cười gượng: “Hội nương từ nhỏ thể nhược, nên nhà chỉ dạy cô ấy rèn luyện thân thể, không đọc nhiều sách, chỉ biết vài chữ thôi.” Thừa nhận điều này, chính chàng cũng thấy mất mặt.
Lư Hội từ nhỏ khỏe như trâu, bất lực rũ vai. Thể nhược? Ha ha, Thần Đô quả là mảnh đất báu. Đất kỳ diệu, người càng kỳ diệu hơn.
Cô không muốn nghe ai đó nói dối nữa, nhưng ngay khoảnh khắc sau, cô lại giật bắn mình.
Bùi Thứ Chi nói: “Đợi bệnh tình của dì Tiết ổn định, cháu định gửi muội ấy đến học quán Tiểu Sơn học hành vài ngày.”
Gì cơ? Học quán gì? Học cái gì? Lư Hội kinh hãi, mắt tròn xoe nhìn sang bên cạnh.
Thôi Huyền cười lớn: “Học quán Tiểu Sơn đâu phải nơi con gái thương nhân vào được, Thất lang phải phí tâm rồi.”
Nhân lúc lão già ngửa đầu cười, đôi mắt phượng lạnh như băng của Bùi Thứ Chi liếc ngang, ra hiệu Lư Hội thu lại đôi mắt sắp lồi ra, rồi lại ra vẻ hiền từ: “Đã định nhận biểu muội này, phí chút tâm sức cũng là phải.”
– Nếu kế sách thất bại thì thôi, nhưng nếu Lư Hội thành công lấy lòng Ngụy Quốc phu nhân, công lao phải thuộc về chàng hết. Không thể để công sức bỏ ra uổng phí, cuối cùng Ngụy Quốc phu nhân vì thích Lư Hội mà nâng đỡ nhà Lư Trí Nam, gạt chàng sang một bên, thế chẳng phải làm áo cưới cho người, thành trò cười lớn sao?
Vì vậy, mối quan hệ thân thích giữa chàng và Lư Hội phải được làm thật, tốt nhất là để cả thiên hạ đều biết.
Thôi lão phu nhân nhịn rồi lại nhịn, cuối cùng không nhịn nổi: “Thất lang, cậu tuổi cũng không nhỏ, triều đình bận rộn đến đâu cũng nên nghĩ đến hôn sự. Tiền nương cậu đã gặp rồi…”
“Lại nữa rồi.” Thôi Huyền bất đắc dĩ ngắt lời: “Nhược Trạm tự có cha mẹ và tổ mẫu, hôn sự của nó bao giờ đến lượt cô, một trưởng bối ở xa xen vào lải nhải?”
Thôi lão phu nhân không phục: “Ta mới nói một câu, sao đã lải nhải? Dù không phải Tiền nương, nhà họ Thôi còn bao tiểu nương tử khác, đều phẩm mạo song toàn, môn đăng hộ đối, nói một chút thì có sao đâu.”
Lúc này, Bùi Thứ Chi như đột nhiên câm nín, chỉ cười hiền không nói.
Thôi Huyền bực bội: “Chỉ mình cô có cháu gái à? Chỉ nhà họ Thôi có tiểu nương tử tuổi hợp sao?Lương Vương Phủ không có? Vận Vương Phủ không có? Tộc Chử thị không ai hết sao? Các trọng thần trong triều cũng không có?”
Thôi lão phu nhân bị hàng loạt câu hỏi làm á khẩu.
Lư Hội thì chẳng hiểu gì. Ý gì cơ? Vì ai cũng muốn gả cho Bùi thiếu tướng nên ngược lại chẳng ai gả được?
Chẳng lẽ đây chính là điều cha Y Lam nói, “đầy rẫy sơ hở, nên chẳng có sơ hở”?
“Hôn sự của Thất lang không dễ, cô đừng xen vào.”
Thôi Huyền hiểu rõ triều cục phức tạp, Chử Hoàng muốn gả nữ nhân Chử thị cho mỗi hoàng tôn Lệ thị, nhưng không muốn trọng thần tâm phúc kết thông gia với hai nhà Chử Lệ, khiến cán cân vốn ổn định nghiêng về một bên, nên hôn sự của Bùi Thứ Chi cứ thế bị đình trệ.
Nhưng Thôi Huyền không biết, đây cũng là điều Bùi Thứ Chi cố ý. Nếu chàng thực sự muốn lập gia thất, không kén chọn môn đệ cao quý hay tài mạo song toàn, hoàn toàn có thể như Bùi Hoàn cưới Liễu thị, chọn một người xuất thân thấp kém, sẽ chẳng ảnh hưởng gì đến triều cục.
Thôi lão phu nhân liên tục bị mất mặt, lòng đầy bất mãn: “…Vai vế tính không sai chứ? Lư thị Phạm Dương với nhà họ Bùi thông gia đã cách bao đời, cậu với Lư thị thật sự là huynh muội sao?”
Bùi Thứ Chi vung tay, sai người mang ra một chồng sổ sách: “Ta đã cho chép lại gia phả, mời bá tổ mẫu xem giúp vãn bối.”
Từng cuốn sổ được trải phẳng trên bàn dài, Thôi lão phu nhân vốn không muốn nói thêm với huynh trưởng và Bùi Thứ Chi, bèn bước xuống trường kỷ xem gia phả, đám nữ quyến vây quanh cũng theo sau.
Thấy họ đi xa, Thôi Huyền đứng dậy, đến ngồi cạnh Bùi Thứ Chi, nói với Lư Hội: “Cô đi rót hai chén rượu trái cây lại đây.” Như thể đang sai khiến một nô tỳ vậy.
Lư Hội nhìn Bùi Thứ Chi, thấy chàng gật đầu mới đứng dậy rời đi.
Thôi Huyền hạ giọng: “Nghe nói Trang Hoài Trinh hai ngày trước bị bệ hạ mắng té tát?”
Bùi Thứ Chi cười: “Tai bá tổ phụ thật thính. Đúng vậy. Trang Hoài Trinh dâng tấu, xin bệ hạ sớm lập tự.”
Thôi Huyền mắt lóe tinh quang: “Lập ai?”
“Nếu nói rõ lập ai thì đâu chỉ bị mắng một trận.” Bùi Thứ Chi thở dài: “Trang Hoài Trinh tuy chính trực, nhưng không ngốc, chỉ nói bệ hạ tuổi đã cao, vì xã tắc thiên hạ nên sớm lập tự.”
Thôi Huyền ngạc nhiên: “Vậy sao ngoài kia đồn rằng Trang Hoài Trinh xin bệ hạ lập con trai làm trữ? Khiến Lương Vương điện hạ nổi trận lôi đình, trước mặt đám môn khách mắng Trang Hoài Trinh tâm tư bất chính.”
“Chỉ là tin đồn.” Bùi Thứ Chi ánh mắt giễu cợt: “Trong ngoài triều đình, lòng người khó lường, ai cũng muốn dò ý bệ hạ.”
“Hóa ra là vậy.” Thôi Huyền chậm rãi ngồi thẳng: “Lời Trang Hoài Trinh cũng không sai, dù lập ai, bệ hạ cũng nên nghĩ đến chuyện trữ quân vì tuổi tác đã cao. Chẳng lẽ không lập trữ, bệ hạ sẽ trường tồn nghìn năm sao?”
“Chuyện này bệ hạ cũng biết, nhưng bà không muốn đối mặt.” Bùi Thứ Chi hiểu rõ tâm tư Chử Hoàng, một là không muốn lập trữ, hai là không biết nên lập ai.
Thôi Huyền hỏi: “Chuyện này Thất lang nghĩ sao?”
Bùi Thứ Chi cười đáp: “Cháu nghĩ gì được. Thừa mệnh vua, trung thành với việc vua giao thôi.”
Thôi Huyền nhìn chàng một lúc, rồi phá lên cười: “Kín kẽ như giọt nước không lọt! Tốt, rất tốt, ha ha ha…”
Lư Hội bưng hai chén rượu trái cây trở lại, ngoan ngoãn đưa cho hai người Thôi, Bùi.
Thôi Huyền thầm nghĩ, tiểu nương tử này nhìn thì vụng về, nhưng không ngờ lại trầm ổn. Chén sứ trắng Việt diêu trong suốt đầy rượu trái cây, cô bưng đến đặt trước mặt ông không đổ một giọt, mặt chén phẳng lặng không gợn sóng.
Chẳng trách Bùi Thứ Chi dám dẫn cô vào phủ, quả nhiên người có mưu tính không làm việc không tính toán.
Lão già đột nhiên thở dài: “Nhược Trạm, Tề nhi lớn hơn cháu nhiều tuổi, tài năng thua xa cháu đã đành, còn hành xử bất cẩn, suốt ngày gây chuyện cho ta. Gần đây, nó lại để ý một người đàn bà.”
Thôi Tề là con út của Thôi Huyền do vợ kế sinh, lớn hơn Bùi Thứ Chi mười tuổi. Học hành không xong, võ nghệ chẳng ra gì, chỉ có cái miệng ngọt ngào khiến lão phụ thân vui lòng. Ngoài ra, hắn còn có một sở thích không thể công khai – thích đàn bà đã có chồng.
Thôi Huyền quản gia tương đối nghiêm khắc, Thôi Tề không dám ỷ thế hiếp người, đành tự mình nỗ lực, khổ luyện một thân bản lĩnh tán tỉnh; nhờ vào sự hào phóng và vẻ ngoài phong lưu, hắn dụ dỗ được hết người này đến người kia.
Bùi Thứ Chi nhíu mày: “Tề thúc phụ cũng nên tu thân dưỡng tính, chuyện này dù tính là hòa gian, theo luật cũng phải chịu phạt roi, ít thì năm mươi, nhiều thì một trăm, còn bị tù hai năm. Đây là lần thứ bao nhiêu rồi?”
May mà nhà họ Thôi có tiền, mỗi lần bị chồng người ta phát hiện, liền vội vàng bỏ tiền mua chuộc, thuyết phục đối phương hóa to thành nhỏ, vừa giữ được danh tiếng cho con trai, vừa có tiền để người ta cưới vợ mới.
Cứ thế, dân không tố, quan không truy cứu, chỉ cần dàn xếp với người chồng, rồi nhận người phụ nữ bị hưu làm thiếp, mọi chuyện sẽ êm thấm.
Mấy năm nay, hậu viện của Thôi Tề đã tích lũy năm sáu người thiếp có xuất thân như vậy.
Ngày thường, Bùi Thứ Chi không thích quan tâm mấy chuyện bừa bộn này, nhưng lần này chàng động lòng, nhiệt tình hỏi: “Tề thúc phụ lần này để ý đàn bà nhà ai? Không biết có khó khăn gì?”
Thôi Huyền mặt mày khổ não: “Ôi, cháu không biết đâu, lần này…”
Lời chưa dứt, đến lượt Thôi lão phu nhân ngắt lời huynh trưởng:
“Không đúng.” Bà chỉ vào chồng sách trên bàn dài, nhíu mày lật xem: “Thất lang với cô ta cách một bối phận, sao gọi là huynh muội được?”
“Cái gì?” Bùi Thứ Chi sững người, vô thức đứng dậy: “Bá tổ mẫu có nhìn nhầm không?”
Thôi lão phu nhân hơi bực: “Không tin thì tự xem đi!”
Thực ra Bùi Thứ Chi không rành về phả hệ, thường không nắm rõ mối quan hệ phức tạp giữa các gia tộc thông gia qua nhiều đời, việc nhận Lư Hội làm biểu muội cũng chỉ là kết quả chàng tùy tiện lật vài trang gia phả.
Lư Hội vốn sắp ngủ gật, giờ đột nhiên tỉnh táo: “Hả? Cách một bối phận?”
“Đừng vội, đừng vội.” Thôi Huyền giữ Bùi Thứ Chi và Lư Hội lại: “Để ta xem.”
Hai huynh muội nhà họ Thôi chỉ trỏ vào chồng sách trên bàn. Thôi lão phu nhân chỉ một chỗ: “Huynh xem, tính từ đây, tổ phụ của Bùi thị phòng Đông cưới huyền tổ mẫu của nhánh Hội nương, vậy tính ra, Thất lang cao hơn Lư tiểu nương tử một bối phận, phải gọi là… ừ, cậu? Đúng, cậu.”
Lư Hội há hốc miệng: “Cậu?”
Cô lập tức hạ giọng phản đối: “Ban đầu nói là biểu huynh biểu muội, sao tự dưng lại cao hơn một bối phận!”
Bùi Thứ Chi bị hỏi đến chột dạ, nhưng chàng vẫn trấn tĩnh: “Bá tổ mẫu xem lại đi, sao lại thành cậu được?”
“Quả thật không đúng.” Thôi Huyền cũng thấy vấn đề: “Muội xem, tính từ nhánh này, thê tử của hiển tổ phụ Lư tiểu nương tử cưới một vị từ Bùi thị phòng Trung, vậy thì cách hai bối phận. Thế nên Lư nương tử không nên gọi Thất lang là cậu, mà là ông cậu.”
Lư Hội vừa thở phào lại lập tức căng thẳng, suýt nữa hoảng đến sinh ảo giác.
“Cữu, cữu tổ phụ?!” – Sao càng ngày càng tệ hơn thế này?
Thôi lão phu nhân không đồng ý, tranh cãi với huynh trưởng: “Tính thân sơ thì phải lấy phụ tộc làm chính, sao lại ưu tiên mẫu tộc được chứ?”
Thôi Huyền phản bác: “Thất lang xuất thân từ trưởng chi phòng Trung, thân hơn mà.”
Bùi Thứ Chi định thần, biết mình không thể tranh luận phả hệ với hai lão nhân Thôi thị Bác Lăng bèn ngồi xuống, chàng hạ giọng nói với Lư Hội: “Hoặc cậu, hoặc ông cậu, cô chọn đi.”
Lư Hội há miệng, trong lòng giằng xé một hồi: “Thế thì cậu vậy.”
Dù sao cũng là giả.
Tác giả có lời muốn nói:
PS: Hoắc Hiển là thê tử của quyền thần Hoắc Quang thời Tây Hán, Tôn Thọ là thê tử của quyền thần Lương Ký thời Đông Hán, đều là… cả hai đều là những người phụ nữ cổ đại rất giỏi bày trò, từng một thời quyền khuynh thiên hạ.
