Chương 35: Liên hoàn kế và kỳ khảo bổ túc (1)
*
Ra khỏi Phượng Nghi Các, Bùi Thứ Chi bước đi thong thả, không nhanh không chậm; còn Lư Hội, vừa nghe xong một trận luận tội thì đầu óc đã ong ong.
Trước ngày hôm nay, chuyện triều chính mà cô từng nghĩ tới nhiều nhất chỉ là: “Mong rằng vị Thứ sử mới đến không phải hạng tham quan.”
Trước khi gặp Bùi Thứ Chi, người có phẩm cấp quan chức cao nhất mà cô từng thấy chính là Trang Hoài Trinh, cựu Thứ sử Kim Châu — mà cũng chỉ là nhìn từ xa qua một quả đồi nhỏ.
Giờ khắc này, cô chợt nhận ra, chỉ cần đứng bên cạnh Bùi Thứ Chi, e rằng sau này những kẻ quyền cao chức trọng như Vương gia hay Tể tướng đều sẽ chẳng còn là chuyện hiếm thấy. Huống hồ, về sau cô còn phải theo chàng hầu giá, chẳng khác nào được đến gần trung tâm quyền lực thiên hạ.
Đời người quả thật kỳ diệu.
“Cớ gì cau mày thế kia, vừa rồi bệ hạ nổi giận làm cô sợ hãi ư?” Bùi Thứ Chi nhận ra sắc mặt cô gái bên cạnh có chút khác thường.
Lư Hội lắc đầu: “Làm gì đến mức ấy, tôi nào yếu bóng vía thế. Chỉ là… đang nghĩ ngợi đôi chút.”
Thấy khuôn mặt tròn nhỏ của cô nghiêm nghị khác thường, Bùi Thứ Chi không khỏi buồn cười: “Nghĩ ngợi điều gì?”
Lư Hội khẽ đáp: “Thành không phải là thành, đá cũng chẳng phải là đá, hoàng lăng cũng chẳng phải hoàng lăng…”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Cô nói gì lạ thế.”
Lư Hội nghiêm túc nói: “Trang đại nhân ghét Lương Vương, dù không có thành, không có đá, vẫn sẽ có lý do khác — tuy rằng tội danh của Lương Vương cũng chẳng phải hoàn toàn bịa đặt.”
Bùi Thứ Chi mỉm cười: “Rồi sao nữa?”
Lư Hội đáp: “Trang đại nhân không phải chỉ có một mình, nói đúng hơn, kẻ ghét Lương Vương không chỉ một người, mà là rất nhiều người.”
“Cớ sao cô nghĩ vậy?”
Lư Hội giơ tay đếm từng ngón: “Trang đại nhân mới từ Kim Châu điều về Đông Đô, chẳng thể chỉ trong mấy tháng ngắn ngủi mà đã có quan hệ khắp nơi, thông tỏ mọi đường. Ấy vậy mà ngài ấy tra xét lâu đến thế, Lương Vương lại chẳng hề hay biết — mấy tháng nay ắt hẳn có người khắp nơi che đậy giúp ông ta. Cậu à, có phải người đã sớm nghe qua chuyện này rồi không?”
Bùi Thứ Chi điềm nhiên đáp: “Nghe thì sao?”
“Không sao cả.” Lư Hội trông ngơ ngác, nói, “Chỉ là, Trang đại nhân thương dân như con, xét việc tỉ mỉ, là người tốt. Ngài ấy ghét Lương Vương, vậy thì Lương Vương chẳng phải người tốt. Cậu lại giúp Lương Vương, vậy thì cậu…”
Đôi mắt đen trắng rõ ràng của cô đã viết sẵn câu trả lời.
Sắc mặt Bùi Thứ Chi hơi xanh, tuy chàng vốn chẳng tự nhận mình là người tốt, nhưng bị suy luận thẳng thừng như thế thành “kẻ xấu”, quả thật khiến chàng khó chịu.
Chàng nghiến răng nhịn lại, hỏi: “Ý cô là ta không phải người tốt?”
Thấy ánh mắt chàng hằn lên vẻ hung dữ, Lư Hội liền len lén lùi nửa bước: “Dù sao, Trang đại nhân là người tốt.”
Bùi Thứ Chi nhe răng cười dữ tợn: “Lại đây cho ta…”
Lư Hội bỗng quay đầu sang hướng khác, chỉ tay về phía trước bên trái: “Cậu mau nhìn kìa, Bối đang tìm người đấy.”
“Cái gì mà bối…”
Bùi Thứ Chi còn chưa kịp hiểu, liền theo hướng tay cô nhìn sang, chỉ thấy Chử Thừa Cẩn đang nấp ở góc tường trong ngõ cung, hơn nửa thân mình rụt lại sau bức tường, ra sức vẫy tay ra hiệu cho chàng.
Chử Thừa Cẩn vẫy đến mỏi cả tay, thấy Bùi Thứ Chi vẫn chẳng chịu lại gần, đành chạy nhanh mấy bước: “Nhược Trạm, mời qua đây nói chuyện một lát.”
Phía sau gã còn có một công tử áo hoa, mặt mũi trầm tĩnh đi theo.
Bùi Thứ Chi hất tay, gạt bàn tay đang kéo áo mình của lão nam nhân kia ra: “Nói chuyện gì mà phải mời riêng. Lương Vương điện hạ có kim ngư phù do thánh thượng ban, có thể tự do đi lại trong cung, cần gì phải lén lút như thế.”
Ưu điểm của Nữ hoàng là chẳng cần phòng ngừa việc nam nhân ra vào cung mà sợ đội mũ xanh.
Bùi Thứ Chi lại quay sang vị công tử phía sau Lương Vương, chắp tay nói: “Thế tử cũng đến rồi à.”
Rồi quay đầu lại giới thiệu: “Vị này là Thế tử của Lương Vương. Thế tử, đây là cháu gái của vi thần, Lư thị. Hội Hội, hành lễ đi.”
Lư Hội lập tức trổ tài vừa được luyện tập từ sáng, thi lễ một cách chuẩn mực, quy củ.
Chử Khánh Ân miễn cưỡng mỉm cười: “Lâu ngày không gặp, Nhược Trạm vẫn mạnh khỏe chứ? Tiểu nương tử cũng mạnh khỏe chứ?”
Lư Hội liếc mắt nhìn trộm, ngoài sống mũi cao hơi cong như diều hâu thì cha con nhà ấy thật ra chẳng giống nhau là mấy. Có lẽ vị Thế tử này giống mẹ hơn, dáng dấp phong nhã, thân hình cường kiện, chỉ là trong mắt toàn chứa oán khí, hệt như nén mãi mà chẳng thể bật ra.
“Vừa bị cô mẫu quở mắng một trận, cô vương vẫn nên ít ra mặt thì hơn.” Chử Thừa Cẩn mồ hôi đầy đầu.
Bùi Thứ Chi nói: “Nếu bệ hạ muốn truy cứu, thì cho dù điện hạ có chui vào vỏ rùa trong long cung Đông Hải cũng vô dụng thôi.”
Chử Khánh Ân chẳng phải không nghe ra giọng điệu khinh nhờn pha mỉa mai trong lời Bùi Thứ Chi, nhưng khổ nỗi phụ thân y lại vốn ưa cái kiểu ấy.
Lương Vương từ nhỏ theo song thân lưu đày, nhiễm phải thói cợt nhả giang hồ chợ búa mấy chục năm, nếu không cùng nhau uống rượu, khoác vai cười đùa, thì sao được xem là người một phe?
Chử Thừa Cẩn nổi giận đùng đùng: “Cái tên Trang Hoài Trinh khốn kiếp ấy, dám hãm hại cô đến chỗ chết! Đợi qua được cơn sóng gió này, bản vương nhất định khiến hắn sống không bằng chết!”
“Phụ vương!” Chử Khánh Ân sợ nhất là phụ thân ăn nói hồ đồ.
May thay Bùi Thứ Chi chẳng để bụng, chỉ thong thả nói: “Vô cớ vu tội mới gọi là hãm hại. Điện hạ nói xem, là ngài không động đến đá xây tường, hay không động đến đá xây lăng? Chứng cứ trong tay Trang đại nhân rành rành như thế, điện hạ rảnh rỗi mà chửi trời trách đất, chi bằng lần sau làm việc cẩn thận một chút thì hơn.”
“Không có lần sau nữa đâu!” Chử Khánh Ân kiên định nói, “Phụ vương sẽ ghi nhớ bài học này.”
“Phải phải…” Chử Thừa Cẩn thở dài, rồi lại gầm lên, “Không biết là tên khốn nạn nào đã để lộ bí mật của cô, đợi cô tra ra được thì…”
“Đến khi điện hạ tra ra, e vật đã đổi sao dời rồi.” Bùi Thứ Chi ngẩng đầu nhìn sắc trời, “Điện hạ rốt cuộc có việc gì? Vi thần còn bận chuyện khác.”
Chử Thừa Cẩn nặn ra một nụ cười đầy vẻ nịnh nọt: “Cô vương muốn nặng lời cảm tạ Nhược Trạm đã giúp đỡ. Ai da, đúng là lâu ngày mới biết lòng người. Đám lão già kia thấy cô mẫu mãi chẳng lập cô vương làm Thái tử, nên lại bắt đầu nuôi mưu tính khác. Chỉ có Nhược Trạm ngươi… tấm thâm tình này, cô vương xin ghi nhớ…”
Lão già nói đến đoạn cảm động thì ánh lệ lấp lánh nơi mắt, khiến Bùi Thứ Chi chỉ thấy ghê tởm vô cùng.
“Vi thần chỉ thay bệ hạ chia ưu, điện hạ không cần đa lễ. Hội Hội, chúng ta đi.”
“Khoan khoan, cô còn có chuyện…” Chử Thừa Cẩn vội đuổi theo, luống cuống suýt ngã sấp mặt.
Chử Khánh Ân đứng cách mấy bước, nghe thế cũng bước lên chặn đường, tay vừa vặn nắm phải dải lụa bay sau váy Lư Hội.
Lư Hội sợ tấm dải bị giật đứt, không khỏi chậm lại mấy bước, miệng lắp bắp: “Ê ê ê…”
Thực ra chỉ cần cô hơi hé lộ “thực lực” của mình, vị Thế tử Lương Vương kia ắt đã nằm dài dưới đất từ lâu rồi. Chỉ tiếc, trước khi ra khỏi cửa, cô đã hứa với ông cậu giả rằng hôm nay phải đoan trang, nhu thuận, dịu dàng, mềm mỏng.
Bùi Thứ Chi mặt trầm xuống. Tay phải chàng kéo Lư Hội, tay trái giật lại dải lụa, quấn hai vòng quanh lòng bàn tay rồi bất ngờ đẩy mạnh lên vai Chử Khánh Ân, lạnh giọng quát: “Thế tử có ý gì đây?”
“Ta… à…” Chử Khánh Ân không kịp phòng bị, loạng choạng ngã xuống.
Chử Thừa Cẩn vội chạy tới: “Hiểu lầm, hiểu lầm thôi!”
“Phải đó, phải đó.” Lư Hội không muốn chuyện to thêm, nhân lúc Bùi Thứ Chi và Chử Thừa Cẩn đang tranh cãi, liền lén bước qua định đỡ Thế tử dậy.
Bùi Thứ Chi lạnh giọng: “Thế tử Lương Vương khí thế thật lớn! Mới gặp đã kéo váy nữ quyến, chẳng hay đó là phép tắc nhà ai dạy?”
Chử Thừa Cẩn toát mồ hôi: “Nhược Trạm, ngươi không tin nhân phẩm của Đại Lang sao? Nó đâu phải kẻ phóng đãng, nó…”
“Xoẹt!” Tiếng vải rách vang lên.
Chử Khánh Ân giơ cánh tay, nhìn nửa ống tay áo đã bị xé mất, nửa còn lại vẫn nằm trong tay Lư Hội.
Hai người đồng loạt sững sờ.
Kẻ khác có thể không biết, nhưng Chử Khánh Ân thì rõ, chiếc áo choàng này được dệt bằng gấm Thục pha kim tuyến, dày dặn cực kỳ; đừng nói xé, ngay cả khi cắt vải, kéo thường cũng chẳng thể cắt nổi.
Con gái nhà ai mà sức lực kinh hồn như vậy…
Bùi Thứ Chi: “…”
Chử Thừa Cẩn: “…”
“Hiểu lầm, chuyện này cũng là hiểu lầm thôi.”
Lư Hội cười gượng, đưa lại ống tay áo.
Chử Thừa Cẩn cũng phụ họa: “Phải phải, bản vương tin Lư tiểu nương tử cũng chẳng phải hạng lẳng lơ, tóm lại đều là hiểu lầm cả!”
Bùi Thứ Chi mặt sạm lại, kéo cô gái về phía sau, thuận tay lườm cô một cái thật dữ.
Chử Thừa Cẩn đỡ con trai đứng lên, còn Lư Hội thì rụt người trốn sau lưng Bùi Thứ Chi.
Bùi Thứ Chi cố kìm cơn giận: “Điện hạ nói mau đi, rốt cuộc còn chuyện gì?”
Chử Thừa Cẩn khẽ đảo mắt, bất an nói: “Nhược Trạm này, ngươi xem… hôm nay cô mẫu nổi trận lôi đình, cô vương nên nghĩ cách gì để khiến người nguôi giận, đổi giận làm vui đây?”
Bùi Thứ Chi ngạc nhiên: “Điện hạ lại muốn bày trò tường thuật điềm lành nữa sao? Nào là đá tâm hồng, rùa trắng, kỳ lân lông xanh, thỏ sáu tai, năm nào điện hạ cũng nghĩ ra trò mới, vậy năm nay lại là gì thế?”
Chử Thừa Cẩn đỏ bừng mặt: “Không phải… chẳng qua muốn nhờ ngươi góp chút ý thôi mà.”
Bùi Thứ Chi đáp nhạt nhẽo: “Bệ hạ vui hay giận đều có chừng mực, vi thần đâu dám tự suy thánh ý. Có điều…”
Chử Thừa Cẩn lập tức tinh thần phấn chấn: “Nhược Trạm nói đi!”
Bùi Thứ Chi khẽ thở dài: “Điện hạ nghe lời vi thần một câu, cứ ngoan ngoãn ở trong phủ tĩnh tâm suy xét, đợi ba tháng trôi qua, bệ hạ nguôi giận, khi ấy hẵng nghĩ một trò gì mới, khiến bệ hạ vui lòng cũng chưa muộn.”
Chử Thừa Cẩn nghi hoặc: “Chỉ ngồi không ba tháng thôi sao? Nhỡ tên họ Trang kia lại đi cáo tội bản vương thì biết làm thế nào?”
Bùi Thứ Chi cười: “Có Nhạc đại nhân ở đó, chỉ cần có chút động tĩnh, điện hạ ắt sẽ được báo sớm.”
Chử Khánh Ân chau mày: “Đó là chủ ý gì vậy? Thiếu tướng ba lần thoái thác, chẳng lẽ muốn giữ mình ngoài cuộc?”
Lư Hội nhịn không được xen vào: “Thế tử nói vậy sai rồi. Việc hôm nay, trước đó chẳng ai báo cho cậu tôi biết, sau lại chẳng ai nói rõ, cậu tôi hoàn toàn không hay, vậy mà vẫn đoán được điện hạ có chuyện chỉ bằng sắc mặt bệ hạ, còn phải chống chọi với cơn giận của người để xoay chuyển tình thế, suýt nữa bị quở trách.”
“Nếu không nhờ cậu tôi, khi Lương Vương điện hạ vào điện, sắc mặt bệ hạ e rằng còn khó coi hơn! Không tin thì cứ đi hỏi Tổng quản Cừu đại nhân!”
Chử Thừa Cẩn cảm động ra mặt: “Cô vương tin, tin chứ! Thật ra trước khi cô vương vào điện, Cừu Tùng Phong cũng đã lén nhắc, nói ‘đừng hoảng, có Thiếu tướng ở đó rồi’.…”
Lư Hội thầm thở dài: Cừu tổng quản thật xui xẻo, người ta chỉ định nịnh cho ông vài câu, ông lại đem ra bán sạch.
Bùi Thứ Chi mất kiên nhẫn: “Vi thần nói đến thế rồi, điện hạ nghe thì nghe, không nghe thì thôi…”
“Nghe, ta nghe!” Chử Thừa Cẩn như hạ quyết tâm: “Nhược Trạm nói có lý. Lão Nhạc kia ngoài chuyện khác ra thì tai mắt linh thông, nếu chẳng phải hai tháng nay phụng chỉ sang Cố Đô làm việc, cô vương cũng đâu đến nỗi mù mờ hết thảy, hôm nay bị đánh cho trở tay không kịp. May thay lão ấy sắp trở về rồi.”
Trong Chính sự đường, người có danh vọng và thâm niên cao nhất hiển nhiên là Trung Thư lệnh Lưu Ngữ và Thẩm Khâm — hai vị nguyên lão ba triều, từng trải phong ba. Nhưng tuổi cao sức yếu, công việc thực tế đều do Trung Thư thị lang kiêm Đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương sự Bùi Thứ Chi đảm nhiệm.
Bộ Thượng thư nắm sáu bộ hai mươi bốn ty, đứng đầu là Tả Phó Xạ Đổng Phụng Thường, song mấy năm gần đây Nữ hoàng không còn ưa ông ta, nên phần lớn việc trong bộ đều do Hữu Phó Xạ Đường Nghĩa Phương cùng Hình bộ Thượng thư Yến Côn xử lý.
Nhạc Chấn là Thị trung của Môn Hạ tỉnh, còn Trang Hoài Trinh làm Thị lang Môn Hạ — tức là cấp dưới của ông ta. Nếu hai tháng nay Nhạc Chấn ở Cố Đô, mọi hành động của Trang Hoài Trinh ắt không thể qua mắt được.
Trải qua mười mấy năm tranh đấu gió tanh mưa máu, cục diện Đông Đô nay đã vào thế cân bằng, các phe phái đều âm thầm phục kích, chỉ chờ thời cơ. Hiện tại, điều duy nhất Chử Thừa Cẩn phải cảnh giác chính là Trang Hoài Trinh — kẻ cứng rắn, nghiêm nghị và thật sự không sợ chết.
“Được rồi, cứ gắng chịu qua ba tháng đã.”
Chử Thừa Cẩn hạ quyết tâm, cảm tạ Bùi Thứ Chi rối rít, rồi kéo con trai rời đi.
Đợi hai cha con khuất bóng, Bùi Thứ Chi cúi mắt liếc sang: “Không phải cô từng nói Trang Hoài Trinh là người tốt, còn ta là kẻ xấu sao? Vậy cớ gì lại nói giúp ta?”
Lư Hội tươi cười khoác lấy tay chàng: “Bởi vì giờ tôi và Thiếu tướng là cùng một phe.”
Bùi Thứ Chi nhịn cười: “Chẳng phải cô luôn bênh lý mà không bênh người thân à?”
“Giờ tôi thích bênh người thân hơn.”
Bùi Thứ Chi khẽ giãn mày, ánh nhìn chan chứa ý cười, tươi như hoa nghênh xuân.
Lư Hội chợt nhớ ra điều gì, mỉm cười nói: “Thiếu tướng bảo tôi bênh lý không bênh thân, hóa ra trong lòng người đã xem tôi là người thân rồi à?”
Sắc xuân nhuộm hồng, e lệ mà rạng rỡ, Bùi Thứ Chi cả đời hiếm khi thấy ngượng ngập đến thế.
“Câm miệng!”
“Chuyện này đến đây thôi, không được nhắc lại nữa.”
–
Đông Quán nằm bên hồ Hạnh, phía đông hành cung. Mười năm trước, Nữ hoàng phỏng theo Hồng Văn Quán của Cố Đô mà lập ra Đông Quán Thư Các, để chứa các loại kinh sách cùng tác phẩm đương triều.
Kẻ sĩ trong thiên hạ nghe danh mà đến, ai có tác phẩm được lưu trữ trong ấy đều lấy làm vinh dự.
Lư Hội theo Bùi Thứ Chi đi qua ba lớp cửa, từ xa đã thấy một hồ nhỏ trong xanh tĩnh lặng.
Bùi Thứ Chi bước đi vừa nhanh vừa gấp.
Lư Hội, vốn là người từng có tới ba vị hôn phu chưa cưới, cảm thấy ông cậu giả này quả thật dễ nổi nóng quá mức. May mà chàng xuất thân hiển quý, quyền thế hiển hách, nếu chỉ là một thiếu niên tầm thường vùng Tây Bắc, phải dựa vào sức lực, dũng mãnh hay tính khí hào sảng để chiếm được thiện cảm của các cô nương, e rằng cả đời này chàng cũng khó mà cưới được vợ.
Phía trước chính là Đông Quán Thư Các, Bùi Thứ Chi dừng bước, quay người lại, hạ giọng nói: “Chốc nữa gặp Đoan Mộc Xá Nhân, không được tùy tiện mở miệng, không được động tay động chân, mọi việc cứ nhìn ánh mắt ta mà hành động.”
Lư Hội hiểu rõ chàng đang châm chọc mình vì lần trước hấp tấp kéo tay thế tử của Lương Vương, còn làm rách nửa ống tay áo người ta, liền lẩm bẩm: “… Thì cũng đâu đến mức gọi là ‘động tay động chân’ chứ.”
“Thiếu tướng tới rồi.”
Một nữ quan vận quan phục, dáng người mảnh mai, đang đứng trên bậc ngọc trắng cao cao, khẽ mỉm cười về phía họ.
“Đoan Mộc Xá Nhân.” Bùi Thứ Chi nho nhã chắp tay hành lễ.
Lư Hội vội vàng khom gối hành lễ vạn phúc.
Đoan Mộc Tuệ dung mạo không thể gọi là tuyệt sắc, cổ tay thon dài, gò má hơi gầy, trong làn gió nhẹ, tà áo lay động, toát ra một vẻ thanh cao lạnh nhã. Lư Hội biết bà cùng tuổi với Phàn quán chủ, nhưng tướng mạo và khí chất lại hoàn toàn khác biệt.
Phàn quán chủ dù học vấn uyên bác, bụng chứa đầy thi thư, song quanh người luôn phảng phất khói lửa nhân gian; bà quan tâm đến việc lưu truyền sách vở, lo cho tiền đồ đệ tử, bận lòng vì sự hưng suy của học quán, lại thường cảm khái nỗi khổ của dân chúng và xã tắc.
Còn Đoan Mộc Tuệ thì tựa như một đóa mẫu đơn trắng quý hiếm được chăm chút kỹ lưỡng trong lồng pha lê. Bà không cần ánh dương hay mưa sương của thế gian, chỉ cần phụng sự một chủ nhân duy nhất trong thâm cung, liền có thể hấp thu dưỡng khí tốt đẹp nhất thiên hạ. Vì thế mà trán bà mịn màng, khuôn mặt mượt mà, khi cười lên lại phảng phất vài phần ngây thơ thiếu nữ.
— Theo chân Bùi Thứ Chi, đúng là đủ loại người đều có thể gặp được.
Đoan Mộc Tuệ mỉm cười nói: “Sớm đã nghe tin Thiếu tướng vào cung, nào ngờ chờ mãi không thấy, khiến ta đợi khổ cả buổi.”
Khóe môi Bùi Thứ Chi mang nụ cười, song trong mắt lại chẳng hề có ý cười: “Đoan Mộc Xá Nhân thật biết chọn chỗ tĩnh lặng. Hôm nay trong Phượng Nghi Các rối loạn một phen, vậy mà chẳng hề dính dáng chút nào đến Xá Nhân.”
Đoan Mộc Tuệ ra vẻ chân thành: “Lời của Thiếu tướng, ta thật chẳng hiểu. Hôm qua bệ hạ nói nhớ phong cảnh Tịnh Châu, nên sáng nay ta đã đến Thư các sớm, muốn tìm vài bức sơn thủy tương tự để nguôi nỗi hoài hương của người.”
Bùi Thứ Chi có vẻ cảm động: “Chả trách Đoan Mộc Xá Nhân được bệ hạ sủng tín đến vậy. Chỉ riêng tấm lòng này thôi cũng khiến người khác khâm phục muôn phần. Tấm trung tâm son sắt của Xá Nhân với bệ hạ, bọn thần ở ngoài triều khó mà sánh kịp.”
Lư Hội khẽ xoa má mình, cảm thấy răng ê ẩm. Cô vốn biết ông cậu giả của mình có phần giả tạo, nhưng hôm nay quả thực đã đạt đến cảnh giới mới — giả một cách hùng tráng, giả đến mức tam hoa tụ đỉnh.
“Gió ngoài này lớn, mời Thiếu tướng cùng Lư tiểu nương theo ta vào Thư các.”
Đoan Mộc Tuệ hơi nghiêng người, ra hiệu mời, rồi đi trước dẫn đường.
Lư Hội bước nhanh theo sau Bùi Thứ Chi, khẽ kéo tay áo chàng, thấp giọng nói: “Liệu có thể qua cửa thuận lợi không? Tôi thấy Đoan Mộc đại nhân không dễ bị lừa đâu.”
Bùi Thứ Chi đáp dứt khoát: “Bệ hạ đã mở lời, lại thêm mặt mũi của ta, Đoan Mộc Tuệ thông tuệ như thế, tự nhiên biết phải làm thế nào. Chỉ là qua loa lấy lệ thôi.”
Lư Hội nghe vậy mới yên tâm, bắt đầu rảnh rỗi ngắm quanh.
Sàn gỗ sơn đỏ hắt ánh hồng nhạt, được lau đến sáng bóng, người vào đều phải bỏ giày, chỉ đi tất. Từ mặt đất kéo cao đến tận xà nhà, từng dãy giá sách khổng lồ nối tiếp nhau, tầng tầng lớp lớp như tấm lưới trời giăng khắp, trong những ô vuông san sát là vô số cuộn sách có đính thẻ đồng tinh xảo.
Khác với những nơi cấm trong cung, trong Thư các qua lại chủ yếu là các nữ quan có tuổi và văn sĩ nam nhân. Người thì chép kinh, người thì đóng sách, người thì tu bổ cổ tịch, người thì ghi chép đăng lục, thậm chí còn có vài người xắn tay áo mài các loại sắc tố vẽ tranh. Ai nấy đều làm việc của mình, khắp Thư các to lớn lại yên ắng đến mức có thể nghe thấy tiếng kim rơi.
Đoan Mộc Tuệ tùy ý chọn một gian phòng nơi góc khuất, bước vào. Bùi Thứ Chi và Lư Hội theo sau.
Đoan Mộc Tuệ đứng trước án thư, nét mặt ôn hòa: “Thiếu tướng biết quy củ của ta rồi chứ?”
Bùi Thứ Chi khẽ cười: “Xá Nhân chọn người tài chẳng kém gì khoa cử của triều đình, cho nên đề khảo cũng theo lối ấy mà ra.”
Đoan Mộc Tuệ lắc đầu: “Ta quan vị thấp hèn, đâu dám làm rình rang thế. Chỉ là vẽ hổ theo mèo, đơn giản thôi.” Bà nhìn sang Lư Hội, “Bài khảo của ta, nói dễ cũng dễ: sách luận, thiếp kinh, tạp văn, chọn một trong ba, qua được là xong.”
Bàn chân Lư Hội bắt đầu rịn mồ hôi lạnh.
Đoan Mộc Tuệ nói tiếp: “Sách luận là khảo ngươi nhìn nhận về chính sự triều đình cùng việc phê bình thời thế. Lao dịch, thuế khóa, muối sắt, biên cảnh, lại trị, bất luận chọn đề nào cũng được, nếu có kiến giải độc đáo lại càng hay.”
Thân thể Lư Hội cứng đờ, cô nào biết gì về phương lược triều chính, trong đầu chỉ loáng thoáng nghĩ ‘thạch bích’ thì phải trơn phẳng chứ sao lại ‘lép’ được?
Đoan Mộc Tuệ nói: “Thiếp kinh thì khảo về sự tinh thông kinh văn. Khoa cử của triều đình chia kinh văn thành chín bộ chính kinh và mấy bộ tạp kinh. Chính kinh chín bộ lại phân làm ba hạng đại, trung, tiểu. Trong đó ‘Lễ ký’, ‘Tả thị Xuân thu’ thuộc đại kinh; ‘Mao thi’, ‘Chu lễ’, ‘Nghi lễ’ là trung kinh; còn ‘Chu dịch’, ‘Thượng thư’, ‘Công dương Xuân thu’, ‘Cốc lương Xuân thu’ là tiểu kinh. Ngoài ra, trong tạp kinh, ba bộ ‘Hiếu kinh’, ‘Luận ngữ’, ‘Lão tử’ mỗi kỳ thi đều bắt buộc phải khảo. Ở đây của ta không phiền phức như vậy, chỉ cần chọn một bộ ở mỗi hạng đại, trung, tiểu, rồi thêm một bộ trong ba tạp kinh ấy, tổng cộng bốn bộ, đọc thuộc và giải nghĩa là được.”
Lư Hội nghe mà hoa cả mắt, những danh mục kinh điển phức tạp này, đừng nói là thuộc lòng, đến cả tên cô cũng mới chỉ nghe qua vài quyển mà thôi.
Cô cảm thấy lưng mình khi nóng ran khi lạnh buốt, như thể đang mắc phải chứng rét run.
Đoan Mộc Tuệ nói: “Còn về tạp văn thì càng đơn giản hơn nữa, thơ từ ca phú, không giới hạn thể loại, Lư tiểu nương chỉ cần tùy ý làm vài bài là được.”
Nỗi sợ hãi từng trải qua trong buổi khảo thí nhập học ở Học quán Tiểu Sơn lại trào dâng trong lòng cô. Lư Hội hoang mang nhìn về phía ông cậu giả của mình.
Bùi Thứ Chi khẽ mỉm cười: “Hội Hội nhát gan, xin Đoan Mộc Xá nhân đừng dọa cô ấy.”
Chàng rút từ trong tay áo ra một phong thư bằng lụa tinh xảo, niêm phong bằng bùn tím, hai tay dâng lên trước mặt Đoan Mộc Tuệ: “Bài sách luận này, kính xin Xá nhân chỉ giáo.”
Lư Hội âm thầm thở phào, toàn thân rã rời, lưng áo ướt đẫm mồ hôi.
Đoan Mộc Tuệ bóc niêm phong, mắt lướt nhanh mấy dòng, rồi khóe môi khẽ cong, nụ cười mang ý trào phúng: “Bài sách luận này của Thiếu tướng quả thật văn từ hoa mỹ, chữ nào chữ nấy đều như châu ngọc, quả không hổ là người đứng đầu khoa cử năm ấy.”
Bùi Thứ Chi nghiêm mặt phản bác: “Xá Nhân đừng trêu chọc, bài này là do Hội Hội nhà ta viết.”
“Vậy sao.” Đoan Mộc Tuệ cầm thư, chậm rãi bước đến bên cạnh Lư Hội.
Toàn thân cô gái nhỏ dựng hết lông tơ, như con thú nhỏ bị thiên địch khóa chặt ánh nhìn.
“Đã là cô viết…” Ánh mắt Đoan Mộc Tuệ sắc bén, “Vậy câu ‘Nguy nhi bất trì, điên nhi bất phù, tắc tương yên dụng bỉ tướng hĩ’ (*) có nghĩa là gì?”
Lư Hội há miệng mà không nói được lời nào, hoảng hốt quay sang nhìn Bùi Thứ Chi.
“Đó là lời Khổng phu tử mà cô trích trong sách luận, cô lại chẳng biết sao?” Đoan Mộc Tuệ cười mỉa, “Thôi được, ta đổi câu khác. ‘Cổ giả quý dĩ đức nhi tiện dĩ lực (**)’, vậy sự hưng thịnh của Thang, Vũ nằm ở đâu, còn sự bạo ngược của Kiệt, Trụ là vì cớ gì?”
Hơi thở của Lư Hội dồn dập, cô cảm giác mình như đang chìm dần xuống nước, không biết làm sao để thoát khỏi.
Bùi Thứ Chi nhíu mày: “Đoan Mộc đại nhân, ý của người là gì đây?”
Đoan Mộc Tuệ thản nhiên đáp: “Ta đang khảo xét Lư tiểu nương tử, chẳng lẽ Thiếu tướng không hiểu sao?”
Ánh mắt Bùi Thứ Chi trở nên lạnh lẽo, chàng nhìn thẳng Đoan Mộc Tuệ, còn Đoan Mộc Tuệ cũng không chút né tránh mà nhìn lại.
“Chẳng lẽ tại hạ đã đắc tội với Đoan Mộc đại nhân từ khi nào?” Giọng chàng lạnh băng.
“Không dám.” Đoan Mộc Tuệ không lùi một bước, “Thiếu tướng tưởng ta giống như Phàn Mậu Nương, để mặc cho người tùy tiện điều khiển, tùy ý lừa dối sao? Ngài lầm rồi!”
Bùi Thứ Chi nghiến chặt quai hàm: “Giữa ta và Phàn quán chủ là đôi bên cùng có lợi, sao lại thành ‘điều khiển, lừa dối’? Giúp người là giúp mình, câu này Đoan Mộc Xá Nhân chưa từng nghe qua sao?”
Đoan Mộc Tuệ bật cười lạnh: “Thiếu tướng quên mất ta là kẻ có tội thân nô hay sao? Cha mẹ song vong, cả nhà đều chết sạch, ta từ nhỏ lớn lên trong thâm cung, chỉ biết một người là Nữ hoàng, ngoài ra chẳng biết ai khác. Thiếu tướng cho rằng có thể lấy gì để uy hiếp được ta?”
Bùi Thứ Chi hừ lạnh: “Rốt cuộc người muốn thế nào?”
Đoan Mộc Tuệ: “Không muốn gì cả. Quyền thế của Thiếu tướng có lớn hơn trời, nhưng trong tiểu thư các này, vẫn là ta làm chủ. Giờ cách tiết Đông Chí còn nửa tháng, đến khi ấy ta sẽ dâng danh sách lên bệ hạ, xin Thiếu tướng cứ theo lệ mà làm.”
Bà lạnh lùng nhìn Lư Hội: “Hy vọng cô hiểu rõ, giả trá gian dối, mượn mẹo nhỏ để làm vui lòng thánh thượng, cuối cùng cũng sẽ bị lộ chân tướng!”
Từ nhỏ đến giờ Lư Hội chưa từng bị ai mắng mỏ nghiêm khắc như vậy, mặt cô đỏ bừng đến mức gần như muốn nhỏ máu, xấu hổ đến độ chỉ muốn chui trở lại trong bụng mẹ.
Cảm giác hổ thẹn lần này không giống những lần trước, lần trước là vì ngượng ngập, vì mất mặt, còn lần này, cô biết rõ từng lời của Đoan Mộc Tuệ đều đúng.
“Thiếp biết sai rồi, thiếp cáo lui.”
Nói xong, cô nâng hai tay hành lễ cung kính, rồi vội vàng xoay người bỏ đi.
Bùi Thứ Chi vốn còn muốn nói đôi câu, nhưng thấy tình cảnh ấy đành cất bước đuổi theo.
Đoan Mộc Tuệ hơi sững người, dường như bà cũng không ngờ tới.
–
Bùi Thứ Chi đuổi kịp Lư Hội dưới tán một cây mai cổ thụ.
Thấy gương mặt cô gái rũ rượi, chàng dịu giọng an ủi: “Hội Hội đừng lo, chuyện này vẫn còn cách xoay chuyển. Đoan Mộc Tuệ chỉ đang ra giá cao mà thôi. Nếu bà ta thật sự thanh cao cứng cỏi, không nhiễm bụi trần thì đã chẳng thể an ổn ở bên Nữ hoàng mấy chục năm như thế.”
Lư Hội lắc đầu: “Dù Đoan Mộc Xá Nhân là người thế nào đi nữa, lời bà nói cũng không sai. Lần này, tôi không muốn Thiếu tướng lại giúp tôi gian dối nữa, tôi muốn tự mình vào cung.”
Bùi Thứ Chi chau mày, giọng đầy phiền muộn: “Tự mình? Cô định tự mình bằng cách nào?”
Lư Hội nói dứt khoát: “Tôi không biết viết sách luận, cũng chẳng biết làm thơ hay phú, những thứ đó không thể trong một sớm một chiều mà luyện thành. Nhưng tôi nguyện ngày đêm chăm học khổ luyện, nửa tháng sau, tôi sẽ dự khảo hạch kinh văn!”
“…” Bùi Thứ Chi khẽ gầm lên, “Cô muốn thi kinh văn?”
Lư Hội gật đầu.
Bùi Thứ Chi thấp giọng quát: “Giờ cô ngay cả nửa quyển Luận Ngữ còn chưa đọc hết, trong nửa tháng lại muốn thuộc làu thông hiểu bốn bộ kinh? Cô đang nằm mơ à?!”
Chàng thấy trên hàng mi của thiếu nữ đọng lại một giọt nước trong suốt, không biết là mồ hôi hay nước mắt, trong phút chốc, trái tim chàng mềm nhũn.
Chàng nắm lấy vai cô, từng chữ từng chữ mà hứa: “Đừng lo, Đoan Mộc Tuệ bên đó ta sẽ có cách. Nếu cô thật sự không muốn gặp bà ta, ta và cô không cần vào cung nữa, quay lại Tiểu Sơn Học Quán cũng được…”
Lư Hội dùng hết sức đẩy mạnh chàng ra, vừa khóc vừa hét lên: “Tôi biết người muốn tôi làm gì, nhưng giờ ngay cả bản thân tôi còn chẳng thích nổi mình, thì làm sao đi lấy lòng người khác được?!”
Nói dứt lời, cô liền xoay người bỏ chạy.
Bùi Thứ Chi đứng lại giữa sân, trong lòng bỗng dâng lên một nỗi hoang mang buồn cười, chưa bao giờ chàng thấy mình bất lực đến thế.
Tác giả có lời muốn nói:
Tôi biết dịp Nguyên Đán nhất định đông khách, nên tranh thủ trước đó đi Thượng Hải thăm bạn, tiện thể cuối tuần xem một buổi diễn.
—
Xếp hàng mua sinh tố dâu thì gặp một nhà người Hàn; xếp hàng đi vệ sinh thì gặp vài người Thái; đến lúc chờ vào rạp, quanh trước sau đều là mấy người Tây cao lớn, nói thứ tiếng mà tôi chắc chắn không phải Anh, Pháp, Đức hay Nga. Khi đèn sáng lên, đứng dậy vỗ tay, mới sững sờ phát hiện mình đã lọt thỏm trong biển người ngoại quốc, đồng bào tôi mới là thiểu số trong khán phòng. Ai nấy nói ngôn ngữ riêng của mình, đều vui vẻ cả.
—
Nhờ chính sách miễn thị thực, rốt cuộc tôi cũng đã được nếm trải cảm giác ấy.
Chú thích:
(*)Nguy nhi bất trì, điên nhi bất phù, tắc tương yên dụng bỉ tướng hĩ: Khi nước lâm nguy mà không giữ, khi xã tắc sắp đổ mà không đỡ, thì còn dùng vị tướng ấy để làm gì?
(**) Cổ giả quý dĩ đức nhi tiện dĩ lực:
Xưa người trọng đức khinh cường,
Lấy nhân làm gốc, lấy thương làm nền.
