Chương 2: Trước năm mới
*
Sáng sớm hôm sau, khi ánh trời còn chưa tỏ, Kính Tuyên mặc áo thường phục, cưỡi ngựa nhẹ đến Bùi phủ thị. Lý do y đưa ra là: “Đêm qua nhận được thư cùng dược thiện do cậu của ta Đậu học sĩ gửi đến, cần giao tận tay cho dì Tiết.”
Y đi rất nhanh, mới vào cổng phủ chưa bao lâu đã gặp Lão Tống đang vội vã trong viện.
“Tống tiên sinh, ông vừa ở ngoài về sao?” Kính Tuyên hết sức ngạc nhiên, nhìn lên nhìn xuống lớp áo ngoài dày sụ trên người ông.
Lão Tống chống gối thở hổn hển: “Lão phu ở ngoài thành, vào chùa nghe giảng thiền ba hôm, vừa tờ mờ sáng mới trở lại. Lục lang đến sớm như vậy, chẳng lẽ là nghe nói đến chuyện kia rồi…”
“Lời dư thừa! Nếu không phải thế, ta dậy sớm làm gì!” Kính Tuyên hạ giọng nói nhỏ. “Đi thôi, chậm chút là ngài ấy phải vào triều rồi.”
Lão Tống bị y nửa kéo nửa lôi, đi thẳng tới Lộc Dã Đường. Cả hai cởi giày bước vào, thấy đám thị nữ đang dọn bàn ăn.
Lư Hội ngồi bên bàn, trên người là bộ quan phục xanh lục, thắt lưng đeo đai bạc viền da nâu sậm, xen với ngọc trắng sáng bóng, càng làm nổi bật dáng eo thon nhỏ, tay chân dài mảnh, nhìn xa chẳng khác nào cọng hành non tươi tốt.
Không biết là vì nửa năm nay dưỡng tốt mà dung mạo đổi khác, hay là cô lại lớn thêm chút, Kính Tuyên chỉ cảm thấy hôm nay “tai họa tinh” ấy môi hồng răng trắng, ánh mắt trong vắt, dung nhan quả có mấy phần đẹp đẽ.
Lư Hội nâng chiếc chén sứ vẽ màu, thong thả uống sữa bò. Hơi nóng bốc lên phả ửng đỏ đôi má, nơi chóp mũi cũng lấm tấm mồ hôi.
Bùi Thứ Chi nghiêng mình tựa trên ghế Hồ, nhẹ giọng dặn dò: “Dạo này triều chính nhiều việc, cô càng phải thận trọng lời nói, nếu thật sự không ổn thì cứ cáo bệnh nghỉ ngơi.”
Cô gái phồng má, gật đầu rồi lại lắc đầu, ý tứ là: “Tôi sẽ cẩn thận, không cần nghỉ.”
Từ khi Kính Tuyên và Lão Tống vừa bước vào phạm vi nửa dặm quanh Bùi phủ, Bùi Thứ Chi đã nghe hạ nhân báo tin. Lúc này thấy hai người tiến vào, chàng khẽ chỉnh lại tấm áo khoác mỏng, chậm rãi ngồi dậy.
Lư Hội phản ứng chậm nửa nhịp, vội vàng đặt chén sứ xuống, bước tới đỡ: “Người ngồi dậy từ từ thôi, gấp sẽ dễ choáng. Tiên sinh và Quận vương đều chẳng phải người ngoài, Thiếu tướng cứ nằm nói chuyện cũng được mà.”
Bùi Thứ Chi nở nụ cười ôn hòa: “Ta không sao. Cô cứ uống đi, chờ ta ra ngoài rồi, cũng phải nhớ mỗi ngày đều uống.”
Lư Hội ngoan ngoãn đáp lời.
Sữa bò mới vắt nếu uống ngay không chỉ dễ đau bụng mà còn tanh, vì thế thường được chế thành phó lạc hoặc bơ.
Kính Tuyên liếc nhìn, thấy trong chén sứ của Lư Hội sữa trắng mịn như ngọc, không chút tạp chất, lại tỏa hương thơm ngọt ngào, nghĩ thầm ắt hẳn đã được xử lý rất khéo.
Sữa bò tuy quý, nhưng bảo quản và vận chuyển khó, cần người am hiểu nhiều công đoạn mới làm được, nên giá trị cực cao. Ngay cả những nhà quyền quý bậc nhất ở Đông Đô cũng chẳng dễ gì được uống hằng ngày; đa phần chỉ dùng làm thuốc hoặc để bồi bổ thân thể.
Thuở nhỏ, trong đám hoàng chất hoàng tôn, chỉ có Lệ Cảnh – người “thân thể yếu ớt, bệnh tật liên miên” là mỗi ngày đều được dùng dược thiện chế từ sữa bò hoặc cháo nấu với sữa. Ấy thế mà giờ đây, có kẻ lại rập khuôn đem thói ấy áp vào người tai họa tinh, mà rõ ràng cô khỏe như trâu, một cú đấm có thể hạ tám Lão Tống!
Kính Tuyên há hốc miệng, chỉ cảm thấy có gì đó hết sức sai trái.
Ánh sớm mùa đông xuyên qua khung cửa pha lê rọi vào phòng, Bùi Thứ Chi bình thản điềm nhiên, nói: “Tiên sinh đi đường vất vả, cứ ngồi nghỉ một lát.”
Rồi chàng lại sai thị nữ: “Dâng hai bát trà nóng, sau đó lui ra cả đi.”
Đám thị nữ tuân lệnh, chẳng bao lâu, trong phòng chỉ còn bốn người họ.
Bùi Thứ Chi nhìn Kính Tuyên, hơi cau mày: “Ngài đã mượn cớ đem thư cùng thuốc cho trưởng bối thì cũng nên đến thăm dì Tiết một chuyến, làm bộ cho ra dáng chứ.”
“…Lúc này dì Tiết còn chưa dậy, lát nữa ta sẽ sang.”
Đối với “tai họa tinh” – kẻ vai u thịt bắp kia thì chàng nói năng ôn tồn, nhẹ giọng dặn dò phải uống sữa mỗi ngày; còn với huyết thân và đồng minh sáng sớm vượt lạnh tới nơi, lại lạnh nhạt như băng. Kính Tuyên vừa tủi vừa tức, đến cả mục đích ban đầu đến đây cũng quên khuấy.
“Bệnh của người sao vẫn chưa khá? Chẳng lẽ lại là…”
Vì có Lư Hội ở đó, hai chữ “giả bệnh” y nuốt lại không nói.
Bùi Thứ Chi điềm đạm: “Ta vốn mang chứng hư nhược từ nhỏ, chuyện này đến Nữ hoàng còn biết, có gì mà phải giả?”
Câu đáp ấy thật khéo léo.
Con trai độc nhất của Bùi Hoàn – Bùi Thất lang, từ bé đã yếu đuối, nửa thành Đông Đô đều rõ.
Thấy hỏi chẳng được gì, Kính Tuyên bèn đổi hướng: “Còn mắt cô sao sưng thế kia?”
Lư Hội thành thật đáp: “Khóc sưng đấy.”
Kính Tuyên ngờ vực: “Khóc gì cơ?”
Lư Hội nói: “Tôi thấy Thiếu tướng bệnh mãi không khỏi, trong lòng đau xót nên khóc.”
Nghĩ mà xem, một kẻ xưa nay cứng cỏi như cô, giờ đây lời nịnh tán tuôn ra trơn tru, chẳng khác nào tiểu nhân a dua trong miệng Đoan Mộc đại nhân.
“Thật vậy sao?” Kính Tuyên nhíu mày, từng sợi mày đều tỏ ra đầy nghi hoặc. “Chỉ là cơn phong hàn, đáng để khóc sưng cả mắt ư?”
Lư Hội đặt chén sứ xuống, nghiêm giọng nói: “Quận vương sao có thể thốt lời nhẫn tâm như thế? Thiếu tướng nằm bệnh đã lâu, thân hình ngày một gầy yếu. Tôi nghe tiếng người ho mà ruột gan như thắt, chỉ mong thay người mà ho được. Ấy vậy mà Thiếu tướng còn lo việc triều chính, chẳng chịu nghỉ ngơi cho yên.”
Cô nói trơn tru, cảm xúc chân thành đến nỗi chính mình cũng suýt tin là thật.
Kính Tuyên nghe mà ê cả răng, quay đầu nhìn sang Bùi Thứ Chi.
Bùi Thứ Chi khẽ ho một tiếng: “Chỉ là bệnh vặt thôi, chẳng qua Hội Hội lo lắng quá mức, nằng nặc đòi ta hôm nay phải cáo nghỉ.”
Lời nói thì nhàn nhạt, song đôi mắt phượng thanh khiết kia lại khẽ nhướng, ý vui lặng lẽ dâng lên.
Kính Tuyên quay sang: “Lão Tống nghĩ sao?”
Lão Tống nhấp một ngụm trà nóng, gật gù: “Chén trà này pha khéo đấy, vị cay nồng mà hậu vị lại thuần, hẳn là tiêu bỏ không ít.”
Kính Tuyên bó tay, lại hỏi Lư Hội: “Cô sao lại đến Lộc Dã Đường sớm thế?”
Bùi Thứ Chi thay cô đáp: “Bởi giờ cô ấy ở luôn tại đây.”
“Cái gì?!”
Lư Hội ngẩng đầu, nhìn lên xà nhà khắc hoa sơn vàng lộng lẫy —— Đêm qua vừa khổ sở giảng hòa được với Bùi Thứ Chi, thì ngay hôm sau chàng đã bảo cô dọn đến Đông sương của Lộc Dã Đường.
Ngay cả một đêm cũng không đợi được.
Cô chẳng thể khước từ, chỉ biết trơ mắt nhìn bọn nô tỳ ra vào tấp nập, khiêng từng rương hòm, từng món đồ nhỏ của cô sang đây, y nguyên không thiếu thứ gì.
Lộc Dã Đường cơ mật hơn hẳn Mộc Hương Trai, giấy bút đều là việc hệ trọng. Kính Tuyên lấy làm không yên, chau mày nói: “Cần gì thế này, cô ấy ở chỗ của dì Tiết vừa tiện qua lại, vừa danh chính ngôn thuận.”
Thực ra, Lư Hội cũng nghĩ y như vậy. Song Bùi Thứ Chi lại thong thả đáp: “Hội Hội làm việc trong cung, sáng sớm vào chiều muộn ra, dễ quấy nhiễu dì Tiết tĩnh dưỡng. Huống hồ, theo hầu Vương đế bệ giá chẳng như ở nhà, nếu có biến cố, ta cũng tiện nhắc nhở gần bên.”
Kính Tuyên trợn mắt —— những lời dối trá ấy, y chẳng tin lấy nửa chữ. Cảm giác khác lạ trong lòng càng lúc càng rõ.
Bùi Thứ Chi vẫn thản nhiên đối diện, ánh nhìn ung dung không chớp.
Kính Tuyên đành cầu viện: “Lão Tống nghĩ sao?”
Lão Tống lại thong thả hớp trà: “Bồ đề vốn không cây, gương sáng chẳng phải đài —— lão phu không có ý kiến.”
Sau bao năm đồng hành, ông hiểu quá rõ con người Bùi Thứ Chi: ngoài dịu dàng nho nhã, trong lại cứng cỏi quyết đoán, đã định ý thì chẳng ai khuyên nổi. Huống chi, so với lo sợ việc lớn của họ bị lộ, chi bằng lo cho an nguy của Lư Hội còn hơn.
Đã đem cô vào Lộc Dã Đường, lại không tránh điều gì, thì tương lai chỉ có hai lối: hoặc trở thành “người của mình” đáng tin, hoặc một khi dấy nghi tâm phản trắc, ắt sẽ bị chính tay Bùi Thứ Chi diệt trừ.
Cô gái nhỏ thật đáng thương, còn chẳng biết mình đã sa vào trận cờ nào.
Kính Tuyên tức giận nói: “Đó là thành quả ông nghe thiền ba ngày sao?”
Lão Tống cũng không chịu lép vế, đặt mạnh chén xuống bàn: “Điện hạ chỉ biết đứng mà nói, chẳng biết thắt lưng đau! Từ ngày tự lập phủ, ngày nào chẳng đấu gà nuôi chó, ôm ấp giai nhân, nào hiểu nỗi cực nhọc của Thiếu tướng? Người chẳng phải gỗ đá, mệt thì sinh bệnh, bệnh thì cần tĩnh dưỡng, tĩnh dưỡng thì phải có người hầu hạ… điện hạ sao lại chẳng biết điều thế chứ!”
Những ngày trước u ám nặng nề, khí lạnh tràn đầy gian phòng, ông già này chịu không nổi, mới phải tạm lánh đi. Giờ lại nhìn Bùi Thiếu tướng, mày mắt sáng sủa, thần sắc an hòa, hôm nay cáo bệnh là đúng. Với dáng vẻ này mà đến Chính Sự Đường, vị tể tướng nào còn tin rằng mấy hôm nay chàng thực sự ốm yếu cơ chứ.
Kính Tuyên tức đến ngửa mặt, quay đầu lại thì cảnh trước mắt khiến y suýt rớt khỏi ghế.
Con yêu tinh tai họa kia cuối cùng cũng uống xong chén sữa bò, mồ hôi rịn trên trán, bèn giơ tay áo quạt gió. Khuôn mặt tròn trắng nõn ửng hồng, phảng phất hương ngọt sữa, như chiếc bánh bao hấp mới ra lò, vừa nhìn đã thấy ngon miệng.
Bùi Thứ Chi thấy vậy bật cười, vẫy tay gọi cô lại ngồi bên mép giường, tự tay lấy khăn lụa lau mồ hôi cho cô.
Kính Tuyên suýt ngã khỏi đôn gấm. Giờ phút này, y chỉ ước Bùi vương phi còn sống, để tận mắt nhìn đứa con cưng được nuôi trong vàng ngọc, gấm vóc chăn lông, nay lại đang làm trò gì đây!
Thấy Kính Tuyên đờ người nhìn, Bùi Thứ Chi khẽ nhíu mày: “Hôm nay ngài đến đây rốt cuộc có việc gì?”
“Ta… ta…” Kính Tuyên cuối cùng mới nhớ ra chính sự: “À, ta nghe nói người sẽ đi Lũng Hữu diệt phỉ, thật có chuyện đó ư?”
Bùi Thứ Chi gật đầu: “Không sai. Hôm kia đêm khuya, Bệ hạ đã hạ mật chỉ, dặn chớ tiết lộ, phải đi gấp rồi về gấp.”
Lư Hội ngừng tay áo đang quạt, lộ vẻ ngạc nhiên: “Bệ hạ lại sai Thiếu tướng đi diệt phỉ ư?”
Lão Tống cũng hơi giật mình: “Cả Hội nương cũng biết chuyện này?”
Lư Hội vội xua tay: “Không, không phải. Tôi chỉ nghe nói Lũng Hữu bị giặc cướp hoành hành, quấy phá mấy châu, hại dân lầm than; lại thêm mấy nơi ở Hà Bắc tuyết tai, dân đói chết nhiều, triều đình gấp cần cứu tế. Dăm hôm nay Bệ hạ vẫn bận nghĩ hai việc ấy, nói phải phái trọng thần trong cung lo liệu riêng biệt…”
Cô nghiêng đầu nhìn Bùi Thứ Chi: “Tôi tưởng Thiếu tướng còn đang bệnh, dẫu có phân công cũng nên là đi điều phối lương thực cứu tế, sao lại là đi dẹp giặc?”
Ông cậu giả nho nhã phong lưu kia, vốn quen biết nhiều thế gia hào tộc vùng Hà Bắc, đúng là nhân tuyển lý tưởng cho việc điều phối tiền lương vật tư, sao lại bị sai đi chém giết ngoài biên cương?
Bùi Thứ Chi dường như hiểu rõ điều cô nghĩ, mỉm cười giải thích: “Dẹp giặc chưa chắc phải thân chinh xông trận. Chỉ cần điều binh khiển tướng khéo léo, cũng có thể thắng như chẻ tre.”
Lư Hội vẫn nửa tin nửa ngờ.
Kính Tuyên nhếch môi: “Cô chẳng phải ngày nào cũng hầu bên Bệ hạ ư? Việc quan trọng thế này lại không hay biết, hay là ngủ gật rồi?”
Lư Hội vội biện bạch: “Thiếu tướng nói rồi, là mật chỉ đêm hôm kia, lúc ấy tôi đã ra khỏi cung! Hiện nay quan Đoan Mộc đại nhân chưa giao việc cho tôi, chiếu chỉ và thánh dụ của Bệ hạ tôi nào có thể xem được, biết sao được chứ!”
Kính Tuyên cố tình chọc tiếp: “Có phải Đoan Mộc Tuệ phòng cô, không cho chen tay vào gì hết?”
Lư Hội nóng nảy giậm chân: “Không phải đâu, Đoan Mộc đại nhân đối với tôi rất tốt. Thiếu tướng cũng bảo, bà ấy là vì muốn che chở tôi, không để tôi lỡ lời trước Bệ hạ thôi!”
“Thôi đủ rồi.” Thấy Kính Tuyên còn định trêu chọc, Bùi Thứ Chi lên tiếng ngăn lại.
Chàng liếc Kính Tuyên một cái, rồi quay sang dạy bảo Lư Hội: “Không để kẻ mới vào triều gặp sai lầm quả là một cách bảo hộ. Nhưng cũng có khi mượn cớ ‘mới’ để mãi chẳng giao việc quan trọng, thậm chí không cho tới gần thượng cấp, đó lại là lối bài xích thường thấy. Tuy nhiên, chuyện đó với cô thì không hề gì, chỉ cần đừng quá tin Đoan Mộc Tuệ là được.”
Lư Hội chau mày: “Vì sao lại nói với tôi thì không hề gì?”
Bùi Thứ Chi ngả người ra sau, thân hình trẻ trung tuấn tú khẽ giãn: “Giờ cô đã vào được tẩm điện của Bệ hạ, mục đích ban đầu đã đạt rồi. Từ nay cứ đúng giờ điểm danh trực lệ, hết giờ thì ra cung về nhà, bớt lo, bớt vướng, thế là đủ.”
“Vì sao… lại như vậy…”
Lư Hội ngây người, cảm thấy lời của ông cậu giả này còn khó nghe hơn cả mấy câu trêu chọc của Vương gia méo miệng kia.
Cô tủi thân nói: “Thiếu tướng làm cận thần bên cạnh Nữ hoàng thì không sao, đến lượt tôi lại bảo ‘bớt lo bớt vướng’, chẳng phải trong mắt Thiếu tướng thấy tôi không đủ khôn khéo, lanh lợi hay sao.”
Bùi Thứ Chi lấy làm kinh ngạc: “Chẳng lẽ cô tự cho rằng mình khôn khéo lanh lợi lắm à?”
Lư Hội: “…”
Kính Tuyên nghiêng đầu, cố nén cười.
Lão Tống vốn định mở miệng, nhưng rồi lại khép môi lại. Hội nương đúng là có nhiều ưu điểm thật, chỉ có điều “khôn khéo lanh lợi” tuyệt chẳng nằm trong số đó.
Bùi Thứ Chi ngồi thẳng dậy, nghiêm mặt dạy bảo: “Hội Hội, hãy nhớ kỹ, từ xưa tới nay, ở gần bậc quân vương chẳng khác nào ở bên cọp. Quá thân cận với Nữ hoàng chưa chắc đã là chuyện tốt. Đã nhận cô một tiếng cháu gái, ta dĩ nhiên phải trông nom tiền đồ của cô. Một hai năm tới, ngoan ngoãn nghe lời, chờ đến khi thời cơ đến, ta sẽ tìm cho cô một mối hôn sự thật tốt, bảo đảm cả nhà cô được yên ổn, vô ưu…”
Lời nói tuy là vì quan tâm, tấm lòng cũng là thật, nhưng Lư Hội trong lòng vốn đang khó chịu, chẳng hứng thú gì, bèn nhạt giọng nói: “Tôi thấy Mạt Tử nói đúng, con gái lấy chồng chẳng có gì hay, phiền phức lại chịu khổ. Một thân một mình chẳng phải tự tại hơn sao. Thiếu tướng đừng nhọc lòng, tôi không muốn lấy chồng đâu, sau này cứ ở bên Thiếu tướng báo hiếu là được.”
Nói đến nửa câu cuối, giọng cô lộ rõ ý mỉa mai.
Khi trước nói chuyện “làm cậu giả” chỉ là kế tạm thời, ai ngờ dạo gần đây Bùi Thứ Chi càng ngày càng quá quắt, mở miệng ra là tự coi mình bề trên.
Bùi Thứ Chi lạnh giọng cười khẩy: “Không lấy chồng, muốn ở bên ta? Trước đây người cô hứa gả cũng chẳng ít. Hay lắm, lời vừa nói ra, nếu là thật tâm, thì lập độc thệ đi. Sau này cô mà đổi ý lấy chồng, ta ắt không tha!”
Lư Hội thấy chàng ánh mắt lộ sát khí, tưởng như chàng thật sự muốn làm thật, liền chùn bước.
Không lấy chồng gì đó, cô chỉ buột miệng nói thôi. Hai vợ chồng Lư Trí Nam và Trương Tuấn đều ân ái hòa thuận, cô nào có ghét bỏ chuyện hôn phối, huống hồ lại phải suốt đời ở cạnh Bùi Thứ Chi để “báo hiếu” gì đó, nghĩ thôi cũng rợn cả người.
Cô vội vàng chữa lại: “Thật ra tôi thấy Xảo Nương nói cũng đúng, người trong lòng ấy mà, tốt nhất vẫn nên tự mình chọn. Dù sao cũng là người sẽ kề vai suốt đời…”
Bùi Thứ Chi cười lạnh liên hồi, trong lòng chẳng rõ là thất vọng hay chỉ đơn thuần cảm thấy “đã biết trước như vậy”.
“Hừ, cô nghĩ tự mình tìm được người tốt sao? Là Lý Hiếu Trung chưa dứt chuyện cũ, hay là Độc Cô Tử Tuân đầy nợ nần bê bết? Hay lại là tên người Hồ suýt khiến cả nhà cô bị liên lụy vào tội mưu phản kia?”
Lư Hội bị chàng nói cho mặt lúc xanh lúc đỏ, muốn cãi mà chẳng biết từ đâu bắt đầu.
Nhắc đến ba vụ rối ren trước kia, Bùi Thứ Chi chợt nhớ ra một chuyện, liền nghiêm giọng quát: “Cô lại gặp ai rồi?! Không đúng, cô hằng ngày ở trong cung… Là ở Đông quán Thư các phải không? Cô gặp Vương Khám rồi chứ gì? Hai người đã nói những gì?”
Lư Hội thấy chàng sắc mặt nghiêm khắc, vội xua tay: “Không có, không có, Vương học sĩ đã xin phép về quê, sang năm mới quay lại, tôi chưa gặp qua đâu. Dù có gặp thì cũng chẳng có gì đáng nói, Thiếu tướng sao lại hung dữ thế.”
Bùi Thứ Chi hừ lạnh: “Ta sợ một khi không trông chừng, cô lại tìm đâu ra một gốc cây nghiêng để thề non hẹn biển.”
Lư Hội cũng gấp: “Đó không phải là thề non hẹn biển, khi ấy có thần linh chứng giám! Hơn nữa cây đó cũng chẳng phải cây nghiêng!”
Cây tử dương kia rõ ràng là thẳng tắp mà!
Bùi Thứ Chi hừ khẽ: “Ba mối hôn sự đều dang dở, đủ thấy thần linh cũng cho rằng mắt nhìn người của cô quá tệ, chọn toàn kẻ chẳng ra gì.”
Lư Hội tức đến lắp bắp: “Đó… đó là do số phận trêu ngươi thôi! Ba người họ đều là người tốt, mắt nhìn của tôi có gì mà tệ!”
Bùi Thứ Chi cười nhạt: “Lý Hiếu Trung thì do dự nhu nhược, Độc Cô Tử Tuân hèn yếu vô năng, còn tên người Hồ kia thì thô bạo cứng đầu. Nếu không gặp ta, sớm đã gây họa lớn rồi, mắt cô chẳng phải tệ, mà là hoàn toàn không có.”
Khuôn mặt tròn trịa của Lư Hội đỏ bừng vì giận: “Chuyện cũ đã qua rồi, Thiếu tướng sao cứ thích moi lại!”
Bùi Thứ Chi lập tức phản kích: “Cô tưởng ta muốn ư? Là để cô khỏi giẫm lên vết xe đổ đó!”
Hai người lời qua tiếng lại, cãi nhau kịch liệt.
“…” Kính Tuyên lặng lẽ lùi lại, ghé tai Lão Tống khẽ nói: “Sao dạo này tính khí ngài ấy nóng nảy thế, nói năng lại chua cay nữa.”
Cái gọi là “ba tuổi nhìn thấy già”, rõ ràng hồi nhỏ chàng là đứa trẻ dịu dàng chu đáo, dù sau khi mẫu thân qua đời tính tình có thay đổi, cũng chẳng đến mức sắc bén cay nghiệt như giờ.
Lão Tống vội đáp nhỏ: “Đừng xen vào, tuyệt đối đừng khuyên can, bằng không cơn giận sẽ trút sang ngài đấy.”
— Ấy, cuối cùng cũng có người hiểu mấy ngày qua ta khổ sở thế nào rồi.
Đấu khẩu với hạng mãnh tướng triều đình như Bùi Thứ Chi, đúng là tự chuốc nhục vào thân.
Lư Hội phẫn nộ bật dậy: “Thực ra tôi thấy lời của Hòa Vi mới là đúng nhất, cái gọi là ‘nghe nhiều ắt sáng’, chi bằng cứ hỏi nhiều, tìm nhiều. Vậy thì xin Thiếu tướng thay tôi tìm thêm vài mối hôn sự, ắt sẽ có người khiến Thiếu tướng hài lòng, đến lúc đó tôi gả bừa là xong!”
Bùi Thứ Chi trong lòng bốc lên ngọn lửa vô danh, “bộp” một tiếng đập mạnh lên chiếc bàn nhỏ bên giường: “Vô phép! Cô đang nói với ai đấy hả!”
— Một chiếc chén ngọc men rơi xuống đất, vỡ thành mấy mảnh.
“Với giọng nghe lời Thiếu tướng đấy!” Lư Hội quay ngoắt người, sải bước bỏ đi.
“Cô đi đâu!”
“Vào cung hầu giá!”
Lư Hội không ngoảnh lại, bước đi dứt khoát.
Bùi Thứ Chi trừng mắt nhìn tấm bình phong cánh ve bị cô hất văng, ngực phập phồng dữ dội. Chàng biết mấy lời đôi co này chẳng qua trẻ con, song chẳng hiểu sao càng nói càng bực.
Trong sảnh lặng ngắt, chỉ còn những mảnh sứ vỡ dưới đất vẫn khẽ đung đưa.
Kính Tuyên khẽ nói: “Rõ ràng chính ngài ấy là người muốn làm mối cho tai họa tinh kia, sao lại nổi giận như thể bị ai xúc phạm thế?”
Lão Tống cũng đáp nhỏ: “Nếu ta biết được, thì đã chẳng phải trốn ra ngoài nghe thiền rồi.”
–
Mang theo tâm trạng u uất chán chường, Lư Hội vào cung.
Đoan Mộc Tuệ thấy cô ủ rũ liền hỏi: “Làm sao thế?”
Lư Hội cúi đầu, buồn bã đáp: “Cậu tôi cho rằng tôi không lanh lợi.”
Đoan Mộc Tuệ ban đầu bật cười, sau lại tức giận: “So với người cậu kia của cô thì trong thiên hạ mấy ai mới được xem là lanh lợi chứ! Mặc kệ hắn đi, từ xưa tới nay, đàn ông đều thích coi thường đàn bà cả!”
Lư Hội hất cằm, tự hào nói: “Cha tôi chưa bao giờ coi thường mẹ tôi cả.”
“Không được khoe khoang!” Đoan Mộc Tuệ giơ tay vỗ mạnh lên vai cô một cái, “Trước mặt một kẻ cô độc như ta mà nhắc chuyện song thân, nếu ở chốn quan trường thì câu đó của cô đủ để đắc tội với người ta rồi đấy!”
Lư Hội giật mình, mặt mày tái mét: “Thế… tôi đã đắc tội với đại nhân Đoan Mộc rồi ư?”
Trời ạ, ông cậu giả nói quả không sai, quả nhiên cô chẳng lanh lợi chút nào!
Đoan Mộc Tuệ cười tủm tỉm: “Lần sau chỉ cần mang cho ta thêm ít lê hấp phô mai như lần trước, thì tội liền được xóa.”
“Tôi mang đến rồi đây.” Lư Hội tươi cười, từ trong phòng ôm ra một hộp ủ ấm, vì cãi nhau với ông cậu giả mà cô ra khỏi phủ sớm, tiện thể vòng ra phố đi một vòng.
Cô cung kính đặt hộp trước mặt Đoan Mộc Tuệ, sau đó mở ra, hơi nóng tỏa ra ngào ngạt. Thịt lê trắng muốt, bên trên phủ lớp phô mai sữa béo ngậy và đường trắng tinh, vừa vào miệng liền tan, hương ngọt lan khắp khoang miệng.
Thấy Đoan Mộc Tuệ ăn ngon lành, Lư Hội không khỏi cảm thán: “Lê hấp của nhà này vẫn chưa phải ngon nhất đâu. Tôi từng ăn món lê hấp tuyệt hảo nhất ở một huyện nhỏ trên đường đến Đông Đô. Nơi ấy dùng đường không được tinh như ở đây, nhưng phô mai thì thơm ngậy vô cùng, hương sữa dậy lên tận năm tạng sáu phủ, nếu có ngày đại nhân được đến đó nếm thử thì hay biết mấy.”
Đoan Mộc Tuệ nghe mà lòng cũng xao xuyến.
Một lúc lâu sau, bà khẽ lắc đầu: “Trên đời còn đâu nơi nào phồn hoa hơn hoàng cung. Cung đình rất tốt, ta chẳng muốn ra ngoài.”
Bà đẩy chén lê ra, trên khuôn mặt đoan trang thoáng nét kiêu ngạo: “Thực ra chỉ cần Nữ hoàng ban một đạo chỉ, dù là quán ăn tận chân trời góc bể cũng có thể được triệu vào cung, làm ra món lê hấp y hệt kia thôi, chỉ là Nữ hoàng không thích đồ ngọt mà thôi.”
“Thôi được rồi, chúng ta nên đi hầu hạ Nữ hoàng thôi.”
Lư Hội đứng yên tại chỗ, thở dài khe khẽ.
Bọn họ đều như nhau cả, vui buồn thất thường, khó mà hầu hạ.
Thôi, không biết ông cậu giả hôm nay lại đang bày trò gì nữa.
–
“Giờ nói chính sự đi.”
Mảnh sứ vỡ dưới đất đã được dọn sạch. Bùi Thứ Chi chân trần bước tới bên cửa sổ, chống khung pha lê lên một nửa. Gió đông lạnh buốt tràn vào Lộc Dã Đường, như những lưỡi dao sắc lạnh lột sạch hơi ấm ngọt ngào trong phòng.
Thật khiến người ta tỉnh táo hẳn ra.
“Ta biết ngay là người giả bệnh mà!” Kính Tuyên chửi một câu, vội kéo chặt áo choàng, “Người với con yêu tinh kia cãi nhau đến đỏ mặt tía tai, đừng lôi bọn ta ra mà xả giận! Người đâu, mau đóng cửa sổ lại!”
Lão Tống chịu không nổi, run lẩy bẩy đi đóng cửa: “Thiếu tướng không phải giả bệnh đâu, lúc đầu thật sự ngã bệnh rồi. Nữ hoàng sai tới mấy nhóm ngự y, thuốc quý ban xuống cũng chẳng khác nào nước chảy dòng dòng.”
“Thế sau đó thì sao? Sau đó chẳng phải là giả bệnh sao?” Kính Tuyên gặng hỏi.
Lão Tống á khẩu, không nói gì.
Bùi Thứ Chi lúc này ngồi ngay ngắn, phong độ ung dung nhã nhặn, thần sắc điềm tĩnh hệt như hai người khác hẳn với lúc trước.
“Các người đều nghe được tin Nữ hoàng lệnh cho ta đi diệt phỉ nên mới vội tới đây phải không?”
Kính Tuyên thầm mắng trong bụng: Người cứ việc diễn trò đi!
Lão Tống đáp: “Đúng vậy. Tuy cô nương kia có phần trẻ con, nhưng lời nói cũng chẳng sai. Mấy hôm trước lão phu nghe tin về nạn phỉ và tuyết tai, vốn tưởng Nữ hoàng sẽ phái ngài đi cứu tế.”
Kính Tuyên phụ họa: “Phải đấy, ta nghe tin tối qua mà còn giật mình. Người định điều quân từ đâu?”
Bùi Thứ Chi đáp: “Nữ hoàng ban cho ta hai doanh Hổ Bí, lại cấp một đạo thủ lệnh, cho phép ta điều binh tại chỗ hoặc chiêu mộ thêm quân.”
Lão Tống than: “Chiêu binh liệu có ích gì.”
Bùi Thứ Chi kéo tấm bình phong bằng gấm Thục dày cộp, lật mặt sau ra, hóa ra là một tấm bản đồ. Chàng chỉ lên một chỗ: “Ở Vị Châu có hai doanh phòng thủ, tướng lĩnh trấn thủ đều là thuộc hạ cũ của bác ta, Bùi Hủ Chi. Việc điều binh chẳng khó. Ở Lâm Châu, Biệt giá và Đô úy đều là bạn cũ của gia phụ, cũng có thể mượn quân. Như vậy, tạm thời đủ dùng.”
Giống nhiều đại tộc khác, nhà họ Bùi cũng nuôi quân riêng trong bóng tối, chỉ là không thể dùng công khai.
Kính Tuyên do dự: “…Chẳng lẽ Thái hoàng thái hậu vì thế mới lệnh cho người ‘mang bệnh’ đi diệt phỉ?”
Bùi Thứ Chi đáp: “Lũ phỉ kia chẳng qua là một đám ô hợp. Đường Nghĩa Phương vốn tinh minh can đảm, nếu Nữ hoàng chịu giao quyền, ông ta bỏ công sức chiêu binh cũng đủ dẹp yên giặc cướp.”
Kính Tuyên càng nghe càng hồ đồ: “Thế thì vì sao Thái hoàng thái hậu lại muốn người mang danh ‘bệnh’ mà đi?”
Bùi Thứ Chi dùng tay chỉ trên bản đồ: “Ngài xem kỹ mấy nơi thuộc Lũng Hữu đạo này đi, có phát hiện điều gì lạ không?”
Kính Tuyên dần hiểu ra: “…Đây là những con đường mà hoàng bá phụ cùng gia quyến phải đi qua khi trở lại Đông Đô.”
Y trầm ngâm, rồi nói: “Ý người là Nữ hoàng muốn người mượn danh nghĩa diệt phỉ để hộ tống họ bình an hồi kinh?”
Bùi Thứ Chi khẽ gật đầu.
Kính Tuyên ngồi lặng hồi lâu, rồi bật cười chua chát: “Xem ra Thái hoàng thái hậu quả thực có ý lập hoàng bá phụ làm thái tử rồi, chu đáo đến thế kia mà. Thương thay phụ vương ta, bị giam trong cung mười mấy năm, nay chẳng còn ai nhớ đến.”
Bùi Thứ Chi đặt tay lên vai y, trầm giọng nói: “Phúc họa luôn song hành. Nếu Lăng Dương Vương trở về tranh ngôi, Chử Thừa Cẩn ắt không buông tha ông ấy. Lão dòm ngôi báu đã mười mấy năm, ai dám tranh với lão, lão tất giết không tha. Còn ngôi báu kia, cuối cùng rơi vào tay ai, vẫn chưa thể biết được. Sắp tới Đông Đô ắt chìm trong máu tanh mưa gió, phụ vương ngài e rằng không chống đỡ nổi đâu.”
“…Người yên tâm, ta nghĩ thoáng rồi.” Kính Tuyên hít sâu một hơi, rồi cười sang sảng: “Dù sao hoàng bá phụ trở lại ngai vị cũng tốt hơn để tên ngốc họ Chử kia đăng cơ. Đến lúc ấy phụ vương ta cũng có thể ra khỏi cung, dưỡng bệnh an lành.”
“Hẳn giờ này dì Tiết đã dậy, ta nên qua thăm người một lát.”
Nhìn theo dáng y tập tễnh rời đi, Lão Tống thấp giọng nói: “Không biết Quận vương có thực sự buông được không. Dù sao, Lạc Xuyên Vương khi xưa cũng chỉ cách ngôi hoàng đế một bước mà thôi.”
Bùi Thứ Chi nhạt giọng đáp: “Từ xưa tới nay, có biết bao kẻ cách ngai vàng chỉ một bước, song vẫn xa tựa chân trời. Cuối cùng, người ngồi lên được chỗ đó, chưa bao giờ là họ cả. Tiên sinh, ta phải ra ngoài một chuyến.”
Lão Tống giật nảy mình: “Thiếu tướng hôm nay ‘xin nghỉ vì bệnh’, nếu ra ngoài thế này thì khó mà giấu được Ngụy Quốc phu nhân đấy.”
Bùi Thứ Chi khẽ mỉm cười: “Không cần giấu nữa. Nữ hoàng đã đem ta đặt lên giàn lửa rồi, còn gì phải tránh né nữa đâu.”
Lão Tống hỏi: “Thiếu tướng định đi gặp ai?”
“Việc lớn sắp đến nơi, tất nhiên phải đến gặp ân sư trước đã.”
–
Lưu phủ.
Từ khi vào đông, Lưu Ngữ càng thêm già nua yếu ớt, rút người trong tấm chăn lông dày, trông chẳng khác nào một chiếc vạc sắt han gỉ, cử động một chút cũng nghe tiếng kẽo kẹt.
“…Có người ra tay với Lăng Dương Vương rồi à?”
Ông khẽ nheo đôi mắt đục, như vừa tỉnh vừa mê.
Bùi Thứ Chi đáp: “Cả nhà Lăng Dương Vương kể từ khi khởi hành đã bị tập kích hai lần trên đường. Nghe nói mẹ con vương phi đều bị thương nhẹ.”
“Lũ đầu hươu mặt chuột, thật to gan vô đạo!” Ông cụ hừ mạnh một tiếng, “Con thấy có phải do Lương Vương làm không?”
“Dẫu không phải ông ta đích thân hạ lệnh, thì cũng chẳng sai bao xa.” Bùi Thứ Chi khơi đống than trong lò đồng đỏ, ánh lửa hắt lên khuôn mặt trắng như ngọc của chàng, tựa hồ bạch ngọc thấm ánh vàng.
Giọng chàng bình thản: “Lương Vương dù ngu ngốc vô năng, rốt cuộc vẫn cầm quyền hơn mười năm, chẳng biết bao kẻ nương nhờ dưới tay. Một khi Lăng Dương Vương trở lại ngôi vị, phe cánh Lương Vương tất khó toàn thân. Bọn văn võ đại thần ấy, há cam lòng chịu chết sao? Giờ thì… bọn họ sốt ruột rồi.”
Lưu Ngữ liên tục gật đầu: “Thảo nào. Nếu sai Đường Nghĩa Phương hay Trang Hoài Trinh, hai kẻ tính tình thẳng thắn đi, rồi truy xét đến cùng, lôi Lương Vương ra thì chẳng hay ho gì. Nữ hoàng vừa muốn bảo vệ Lăng Dương Vương, lại không muốn để Lương Vương bị liên lụy. Vụ trấn áp thổ phỉ lần này, quả thực chỉ có thể giao cho con thôi.”
Ông lại cười: “Cũng là vì muốn tốt cho con đấy. Người Đông Đô đều nói con thân thiết với Lương Vương, sau này nếu Lăng Dương Vương phục vị, e rằng con khó mà yên thân. Nay Nữ hoàng ban cho con cơ hội tốt thế này, con chỉ cần hết lòng hộ tống cả nhà họ Vương trở về kinh, bọn họ tất sẽ mang ơn con.”
“Vậy sao? Ân sư thật muốn đồ nhi ‘hết lòng hộ tống’ cả nhà Lăng Dương Vương ư?” Bùi Thứ Chi chợt nói, giọng lạnh nhạt.
Lưu Ngữ bật cười khà khà: “Ý của con là sao?”
Bùi Thứ Chi ngẩng đầu, sống mũi cao che nửa ánh mắt sâu thẳm, khiến người ta khó đoán được tâm tư.
“Trong năm vị công thần năm xưa ép Lăng Dương Vương thoái vị, ân sư đứng hàng thứ hai. Bốn người còn lại đều đã mồ xanh cỏ biếc cả rồi. Ngày Lăng Dương Vương trở lại, ân sư chẳng sợ người ta tính sổ cũ hay sao?”
Lưu Ngữ chợt mở to mắt, hai luồng sáng sắc bén bắn ra, Bùi Thứ Chi bình thản nhìn lại, chẳng né tránh.
Ông cụ chậm rãi khép mắt: “Thời thế khác rồi. Khi ấy bọn ta giúp Nữ hoàng đăng cơ là thuận theo ý trời, mà Lăng Dương Vương quả thật khi ấy chưa đủ trầm ổn. Nay… vận mệnh của hắn đã đến.”
Bùi Thứ Chi ngắm ông hồi lâu, rồi mỉm cười: “Ân sư nói phải. Trải qua mười lăm năm khổ luyện, chắc hẳn Lăng Dương Vương đã thấu hiểu nỗi khổ của nhân gian, lột xác đổi thay, xứng đáng được giao trọng trách.”
Làn da nhăn nheo trên mặt Lưu Ngữ chợt giãn ra, ông lẩm bẩm như trong mộng: “Phải, phải… chịu khổ đến thế, hẳn sẽ làm minh quân thôi. Chỉ cần ngai vàng được khôi phục thì trên sử xanh, bọn ta… sẽ chẳng còn là nghịch thần phản tặc nữa, phải không…”
–
Thôi phủ.
“Ta đã nói rồi mà, rõ ràng Nữ hoàng ban ngươi mật chỉ, thế mà chỉ một ngày một đêm sau, khắp nơi đều hay biết cả. Nữ hoàng đây là muốn răn đe họ Thôi, bảo bọn chúng chớ có vọng động nữa chứ gì!”
Trong dược thất, Thôi Huyền đi đi lại lại, còn Bùi Thứ Chi lại ngồi xếp bằng trên bồ đoàn, thong thả uống trà.
Chàng nói khẽ: “Từ lúc Nữ hoàng hạ chỉ cho cả nhà Lăng Dương Vương hồi kinh, ta đã biết sẽ có chuyện. Ban đầu chỉ muốn lấy cớ bệnh mà tránh đi đôi chút, đáng tiếc… vẫn không tránh được.”
Thôi Huyền hừ lạnh: “Nữ hoàng tâm ngoan thủ lạt lắm, hễ đã cần dùng ngươi thì dù chỉ còn thoi thóp một hơi cũng phải bò dậy làm việc cho bà ta!”
Bùi Thứ Chi cười: “Cũng may, ta vẫn còn hơn một hơi thở.”
Thôi Huyền vẫn sải bước vòng quanh: “Thật phiền, Lăng Dương Vương còn chưa về đến nơi đâu. Một khi hắn thật sự trở lại, Đông Đô e là chẳng yên nổi một ngày.”
Bùi Thứ Chi hơi nghiêng người về trước: “Còn về cục diện sau này, cô tổ phụ thấy sao?”
Thôi Huyền dừng bước, vuốt râu nói: “Nữ hoàng đăng vị vốn không chính danh, huynh đệ Thôi thị cũng chẳng mang tướng đế vương, kẻ trong triều ngoài cục mong nhớ cố triều chẳng ít đâu.”
“Thế sao, nhớ đến đâu? Nếu chỉ trà dư tửu hậu than dăm ba câu, e chẳng ích gì.” Bùi Thứ Chi thản nhiên đáp.
Thôi Huyền trừng mắt nhìn con hồ ly nhỏ trước mặt: “Được rồi, không nói chuyện lòng người nữa, chỉ luận lợi hại mà thôi. Từ xưa đến nay, công lớn nhất chính là phò rồng. Trong triều này, kẻ muốn giành công ấy không thiếu. Nhưng vấn đề là, nên chọn theo rồng nào?”
Câu này thật hợp tai, Bùi Thứ Chi gật đầu khẽ.
Thôi Huyền cười tiếp: “Huynh đệ Chử thị thế lực quá lớn, thêm hoa trên gấm chẳng có ý nghĩa gì. Còn nếu có thể đỡ cho hoàng tử họ Lệ đang sa vào vực sâu mà lên ngôi, ấy mới là đại công vô song. Lựa chọn ổn thỏa nhất, vẫn là Lăng Dương Vương.”
Bùi Thứ Chi gật đầu: “Lý thì đúng, chỉ sợ ai ai cũng đều nghĩ như thế.”
Sắc mặt Thôi Huyền đổi hẳn: “Ý ngươi là sao?”
Bùi Thứ Chi đứng dậy, khẽ cười: “Ân sư ta đã quyết một lòng phò tá Lăng Dương Vương phục vị. Ân sư đức cao vọng trọng, hô một tiếng là trăm người hưởng ứng. Có ông chống lưng, ít nhất nửa triều đình sẽ ngả về phía Lăng Dương Vương. Nói đâu xa, ông ấy chẳng những không ở nơi vực sâu, mà chính là một bếp lửa đỏ rực mà ai cũng tranh nhau đến hơ tay.”
Nghe vậy, Thôi Huyền tức xanh mặt. Một hòa thượng trọc đầu dám giành sư thái với đạo sĩ nghèo như ông ta sao!
Ông ta nghẹn một lúc lâu rồi mỉa mai: “Cái lão Lưu Ngữ ấy, năm xưa vô liêm sỉ đem mình ra rao bán là lão, giờ lại làm bộ thanh cao trong sạch cũng là lão, thật chẳng biết xấu hổ!”
Bùi Thứ Chi thản nhiên: “Ân sư bảo, tất cả đều là ý trời. À, còn là thiên mệnh nữa.”
“Thiên mệnh cái khỉ gì!” Thôi Huyền nheo mắt, giọng hằn học: “Không tranh, không đấu, thì mấy trăm năm thế gia vọng tộc sụp đổ lúc nào chẳng hay, chỉ biết bám váy Nữ hoàng mà cúi đầu cầu xin. Khi nào ngôi Thái tử còn chưa định, sóng gió còn chưa yên đâu! Còn cái dòng họ Chử thị kia nữa, đợi đấy, ba mươi năm hà đông…”
Bùi Thứ Chi chẳng còn hứng nghe lão Thôi lải nhải, bèn nhặt cây phất trần bằng bích ngọc bên cạnh bồ đoàn, cầm lên xoay nhẹ trong tay.
Có hai thế lực – một là lão Lưu, hai là lão Thôi, âm thầm đỡ phía sau, Lăng Dương Vương ít nhất cũng đã vững đến bảy phần.
Những ngày tốt đẹp của Chử Thừa Cẩn chẳng còn bao nhiêu nữa. Chỉ cần tìm thêm cách, dùng lão khơi dậy lửa giận trong lòng Nữ hoàng…
Còn Hội Hội, ngày đầu năm mới sắp đến rồi, không thể để cô mãi trong cung được. Những ngày chàng vắng mặt nơi Đông Đô, cứ để cô được đoàn viên cùng người nhà đi.
