Chương 18: Toàn cảnh vụ đầu độc yến tiệc tại cung Cửu Châu Trì Uyển (8)
*
“Đêm đã khuya rồi, Hội nương vẫn chưa ngủ sao?”
Dưới ánh đèn mờ mờ vàng vọt, Đoan Mộc Tuệ tay xách một chiếc cung đăng mạ vàng hình ao sen, chậm rãi bước tới. Mái tóc đen dài tới đầu gối như tơ lụa buông xõa trên bộ áo ngủ sa mỏng tinh xảo.
Trên án thư, hơn mười quyển sách bày la liệt, có mấy quyển thậm chí còn rơi xuống sàn.
Lư Hội không ngồi sau án thư thắp đèn đọc sách, mà lại dùng một tư thế hết sức kỳ quái, nửa ngồi xổm bên chiếc đôn gấm, dang rộng tay áo, lắc lư sang trái rồi lại sang phải, trông chẳng khác nào một con dơi.
Đoan Mộc Tuệ sững lại một chút: “Cô đang làm gì vậy?”
Lư Hội vội đứng dậy, đi tới: “Đoan Mộc đại nhân sao lại tới đây? Mau ngồi xuống đi, người còn đang mang bệnh mà.”
Đoan Mộc Tuệ lắc đầu: “Nằm suốt mấy ngày liền, xương cốt cũng rã ra cả rồi.”
Bà nhặt một quyển sách dưới đất lên: “Hồ sơ vụ án của Trang đại nhân, cô đọc xong hết rồi sao?”
“Đọc xong rồi, chỉ là…” Lư Hội trông như đang để tâm trí bay đi đâu mất, “Đoan Mộc đại nhân, người đã từng giúp việc trong yến tiệc, rót rượu bưng thức ăn chưa?”
Đoan Mộc Tuệ cúi đầu: “Chưa từng.”
Lư Hội như không nghe thấy, tự nói tiếp: “Tôi thì từng rồi.”
Đoan Mộc Tuệ kinh ngạc ngẩng đầu.
Lư Hội vẫn tự mình nói tiếp: “Nhà dân ở biên thành không có phô trương như các hào tộc Trung Nguyên. Trước năm tám tuổi, tính cả đầu bếp lẫn người làm việc vặt, trong nhà tôi chưa đến mười nô bộc. Mỗi khi cha ở nhà bày tiệc, cả nhà đều phải ra tay, tôi cũng thường giúp bưng rượu đưa món. Có lúc cha còn xé từ trên bàn một miếng thịt nướng ngon cho tôi…”
Thiếu nữ dường như đã chìm vào hồi ức.
Chợt cô sực tỉnh: “Đoan Mộc đại nhân thật sự chưa từng hầu hạ trong yến tiệc sao?”
Nụ cười của Đoan Mộc Tuệ thoáng cô quạnh: “Ta tuy xuất thân tội nô, nhưng chưa bao giờ làm việc tạp dịch, cô có tin không?”
Mắt Lư Hội trợn to.
Đoan Mộc Tuệ khẽ thở dài: “Bệ hạ xưa nay đối đãi nô tỳ rất hậu hĩnh, cung phụng cũng rộng rãi. Một số nữ quan và hoạn quan có học vấn, khi có tuổi liền ở lại một góc trong cung dưỡng lão, ngày thường làm thơ vẽ tranh, nghiên cứu học vấn.”
“Cũng có nô tỳ đến xin theo học, nhưng không phải ai cũng được dạy. Chỉ có ta, bất luận họ đọc sách gì, nhắc điển cố nào, ta nghe qua một lần là nhớ hết.”
Những bậc lão giả đọc nhiều sách vở vì đủ loại duyên cớ mà vào cung làm nô, nhưng vẫn giữ được cốt cách thanh cao, tự phụ của người đọc sách. Còn Đoan Mộc Tuệ khi ấy tuổi còn nhỏ, nghe một hiểu mười, điểm một liền thông, đã có thể nêu ra những câu hỏi sắc sảo, cùng họ bàn luận sâu về nội dung trong sách.
Các lão nhân vui mừng khôn xiết, giữa thâm cung cô quạnh bỗng gặp được một đệ tử như ngọc thô, chẳng khác nào kẻ nghèo chợt được vàng.
Vì thế, những hoạn quan và nữ quan lớn tuổi ấy lần lượt dặn dò các đồ đệ cũ của mình, dành cho Đoan Mộc Tuệ đủ mọi sự che chở và chăm nom. Đến khi bà mười ba tuổi, lại thông qua nhiều con đường khác nhau, khiến Nữ Hoàng (khi ấy vẫn còn là Hoàng hậu) “nghe nói” trong Dịch Đình có một tiểu tài nữ.
Nữ Hoàng quả nhiên triệu kiến, vừa gặp đã hết sức vui mừng, liền miễn trừ thân phận nô tỳ cho Đoan Mộc Tuệ. Vận mệnh từ đó hoàn toàn đổi khác, mà Đoan Mộc Tuệ về sau cũng lấy ân báo ân, ghi nhớ và cảm tạ những người từng giúp đỡ mình.
“Thời gian trôi như bóng câu qua cửa sổ, thoáng chốc ta đã hầu hạ bệ hạ gần ba mươi năm rồi.” Thần sắc Đoan Mộc Tuệ ngẩn ngơ, “Cũng chẳng biết mệnh ta là tốt hay xấu. Tuy từ nhỏ đã mất chỗ nương tựa, nhưng lại tránh được những tranh chấp phiền não sau khi lấy chồng, có thể đứng trên đỉnh núi cao, nhìn thấy những cảnh sắc mà người thường không bao giờ thấy được.”
Lư Hội gãi gãi đầu, không hiểu Đoan Mộc Tuệ nói những điều ấy là có ý gì.
Huống hồ cô cảm thấy đời người có tranh chấp phiền não hay không vốn chẳng liên quan gì đến chuyện gả chồng sinh con. cha từng nói, thị phi giữa hòa thượng ni cô chưa chắc đã ít hơn chốn buôn bán ngoài đời.
Cô chỉ có thể lên tiếng trấn an: “Người cứ yên tâm, bệ hạ xưa nay chưa từng nghi ngờ người, còn nói người quá mức cẩn trọng, chuyện gì cũng dè dặt.”
Đoan Mộc Tuệ cười thê lương: “Ta như bèo trôi trên nước, không rễ không cành, chỗ dựa duy nhất chính là sự tín nhiệm của bệ hạ. Nhưng bệ hạ thì… ôi chao, ta thực lòng mong bệ hạ có thể sống một trăm tuổi, hai trăm tuổi, vạn vạn tuế.”
Lần này Lư Hội đã hiểu ra, đây đã là lần thứ hai trong ngày có người nhắc tới tuổi tác của Nữ Hoàng.
Người ta thường nói càng lớn tuổi càng sợ chết, ngay cả bậc như Nữ Hoàng, vốn xưa nay phóng khoáng vô kỵ, dạo gần đây cũng hay soi gương than thở, thậm chí còn tỏ ra ngưỡng mộ tuổi trẻ và thân thể khỏe mạnh của Lư Hội cùng các cung tỳ.
Cô khuyên nhủ: “Tôi hiểu ý của Đoan Mộc đại nhân, nhưng danh tiếng của người vang khắp thiên hạ, dù rời khỏi cung đình cũng chẳng đến mức không nơi dung thân, thực sự không cần phải lo nghĩ quá nhiều.”
Đoan Mộc Tuệ cười khổ: “Một nữ tử thân cô thế cô không có quyền thế che chở, ở đâu cũng là mảnh đất béo bở vô chủ, thiếu gì sài lang ác đồ dòm ngó.”
Lư Hội lại gãi đầu: “Nếu thật sự không được, Đoan Mộc đại nhân cứ cưỡi một con lừa xanh, men theo quan đạo chậm rãi đi về Sa Châu, vừa hay tiếp quản học thục của thầy cừu. Chỉ bằng học vấn của người thôi, cũng đủ trấn áp đám khỉ kia rồi.”
Đoan Mộc Tuệ cười đến mức lắc đầu liên hồi. Bà không tiếp tục đề tài ấy nữa, trái lại đặt tay lên mu bàn tay Lư Hội, nói: “Đêm đó may nhờ cô ra tay cứu giúp, nếu không ta cũng chẳng biết mình đã bị thiêu thành bộ dạng gì rồi. Ta biết cô không so đo chuyện này, nhưng ân tình ấy ta nhất định phải báo đáp. Đêm đã khuya, nghỉ ngơi thôi.”
Lư Hội miệng đáp vâng vâng, cúi người thu dọn án quyển, rồi do dự nói: “…Đoan Mộc đại nhân, người học thức uyên bác, tôi có một việc muốn thỉnh giáo người.”
Đoan Mộc Tuệ mỉm cười: “Sao cô không đi hỏi Bùi Thiếu tướng?”
Lư Hội tức tối: “Người lúc nào cũng cho rằng mình là người thông minh nhất thiên hạ, hễ mở miệng là cười nhạo tôi!”
Đoan Mộc Tuệ bật cười khe khẽ không ngừng: “Được rồi, cô nói đi.”
Lư Hội ôm chặt án quyển trong lòng, ghé sát lại trước mặt Đoan Mộc Tuệ: “Hôm nay lúc tôi tranh cãi với Quý Thành Nghiệp, hắn ta châm chọc tôi rằng: ‘Không bằng không chứng, vậy mà cứ một mực khẳng định Lương Vương vô tội, chẳng lẽ là để lấy lòng bệ hạ?’”
Vẻ mặt Đoan Mộc Tuệ lộ rõ chán ghét: “Đúng là tên ác quan đáng giết!”
Thần sắc Lư Hội đầy bối rối: “Sau đó tôi cũng tự hỏi lại mình, thực ra tôi và Lương Vương quen biết chưa bao lâu, còn xa mới gọi là hiểu rõ con người y, vậy dựa vào đâu mà tôi dám chắc Lương Vương không phải hung thủ thật sự.”
“Tôi nghĩ rất lâu, rất lâu. Vừa rồi nằm sấp ở đây chợp mắt, bỗng nhiên lại nghĩ tới…” Giọng cô trở nên mờ ảo khác thường, “Tôi khẳng định Lương Vương vô tội, có lẽ là vì tôi biết ai mới là hung thủ thật.”
Đoan Mộc Tuệ chấn động, hạ giọng mắng: “Cô nói bậy gì thế, biết hung thủ thật mà không tâu, đó là tội khi quân!”
Lư Hội vội vàng trấn an: “Đoan Mộc đại nhân đừng vội, ý tôi là, rõ ràng tôi không biết hung thủ là ai, nhưng tôi ‘cảm thấy’ mình biết.”
“Đó là ý gì?” Đoan Mộc Tuệ nghe mà rối cả lên.
Lư Hội mặt mày mờ mịt: “Chính tôi cũng không rõ. Mấy ngày nay tôi luôn nằm mơ, trong mơ có một làn sương mù dày đặc, tôi dường như muốn lấy một món đồ. Tôi biết rất rõ nó ở đâu, vậy mà tìm thế nào cũng không thấy. Đoan Mộc đại nhân, tình hình đêm đó người còn nhớ chứ?”
Thần sắc Đoan Mộc Tuệ trở nên nghiêm trọng: “Sau ba lượt xướng họa thơ, ta thay mặt bệ hạ kính rượu chư vương cùng vương phi, công chúa một vòng. Sau đó lại bị Vĩnh Ninh công chúa kéo đi uống thêm mấy chén. Ta không chịu nổi tửu lực, liền xin cáo lui với bệ hạ, sang điện bên nghỉ ngơi một lát.”
“Đúng, tôi nhớ khi người quay lại thì ca múa đã kết thúc, tạp hí cũng diễn đến màn thứ hai rồi.” Lư Hội gật đầu, “Sau đó nữa chính là Kính Thành hoàng tôn phát độc, trong điện lập tức đại loạn.”
Đoan Mộc Tuệ đi mấy bước trong phòng, bỗng nói: “Hội nương, ta từng đọc qua một đoạn dật văn từ những năm cũ, là chuyện xảy ra vào thời tiên đế.”
“Có một người thợ mộc, từ nhỏ đã không uống được nước giếng, hễ uống là nôn mửa dữ dội, thậm chí sinh bệnh nặng. Cha mẹ bất đắc dĩ, ngày nào cũng phải vất vả ra bờ sông gánh nước về. Nhưng nếu hắn không biết mình uống là nước giếng, uống rồi cũng coi như uống, thân thể lại chẳng hề hấn gì.”
Lư Hội xen vào: “Không biết là nước giếng thì uống không sao, đó là tâm bệnh nhỉ.”
Đoan Mộc Tuệ cười: “Đúng, là tâm bệnh; chỉ có điều không ai biết tâm bệnh ấy từ đâu mà sinh ra.”
“Có một ngày, người thợ mộc ấy ở trấn trên gặp một thương khách, trong lòng bỗng vang lên tiếng sấm, lập tức quay đầu đi báo quan, một mực khẳng định thương khách kia là kẻ giết người cướp của. Sau khi bắt người tới, huyện lệnh hỏi duyên cớ, thợ mộc lại nói rằng mình từng thấy thương khách ấy giết người trong mộng.”
“Huyện lệnh tức đến nửa chết, thương khách kia cũng kêu oan trời thấu. Nào ngờ thợ mộc lại nói rành rọt chắc nịch, chỉ ra rằng trước ngực thương khách có một nốt ruồi đen có lông, bên cạnh nốt ruồi còn có hai lỗ sẹo nhỏ, đó là trong mộng, khi một người phụ nữ nhào tới giằng co, dùng hai chiếc trâm cài tóc đâm ra; trên chân thương khách còn phải có một vết sẹo hình chữ ‘卅 – tạp’, là trong mộng, hai cha con huynh đệ liều chết chống cự, dùng dao bổ củi chém ra.”
“Huyện lệnh liền lệnh cho thương khách cởi áo kiểm chứng, kết quả quả nhiên đúng như lời thợ mộc nói. Người trong cuộc ai nấy đều kinh hãi. Phải biết rằng thương khách ấy hôm nay mới tới địa phương này, còn thợ mộc cũng chưa từng đi xa khỏi nhà, hai người thậm chí chưa nói với nhau lấy một câu.”
“Huyện lệnh giam giữ thương khách, lại phái người vội vàng đến nguyên quán của hắn, quả nhiên đào được trong nhà hắn rất nhiều trang sức, tiền của hình dạng khác nhau, vừa nhìn đã biết là tang vật cướp đoạt. Cuối cùng tên tặc thương kia bị xử trảm ngang lưng.”
“Thật là hả dạ!” Lư Hội vỗ tay kêu lên, rồi lại hỏi, “Vậy rốt cuộc vì sao người thợ mộc ấy lại không uống được nước giếng?”
Đoan Mộc Tuệ thở dài: “Hai mươi năm trước, tên tặc thương ấy đã hạ độc vào giếng nước vừa mới đào xong. Khi đó người thợ mộc còn nhỏ, trốn trên cây, tận mắt nhìn thấy cha mẹ và các huynh trưởng trúng độc phát tác, liều mạng đánh nhau với tên thương khách kia, cuối cùng sức cùng lực kiệt mà bị giết, gia sản trong nhà cũng bị cướp sạch.”
“Năm ấy quan binh tới nơi, thấy khắp đất máu me be bét, đều cho rằng cả nhà ấy chết vì hung khí. Nếu không phải chính tên thương khách tự khai, thì chẳng ai biết còn có chuyện đầu độc giếng nước; ngay cả cha mẹ nuôi của người thợ mộc cũng càng không hay biết.”
“Xét theo lẽ thường, lúc xảy ra chuyện, thợ mộc mới chỉ hai ba tuổi, vốn chưa thể nhớ việc. Thế nhưng suốt hai mươi năm trời, hắn sống chết không chịu uống nước giếng, lại vô số lần mộng về thảm án năm xưa, ký ức của con người, quả thật khó mà nói cho rõ.”
Lư Hội mở to mắt: “Người cho rằng tôi cũng giống người thợ mộc ấy ư?”
“Đúng vậy.” Đoan Mộc Tuệ nói tiếp, “Đêm yến tiệc trong cung hôm đó, rất nhiều người ra ra vào vào, ngay cả bệ hạ cũng có hai lần rời đi để thay y phục. Chỉ có cô, từ đầu đến cuối chưa từng rời khỏi đó, phải không?”
Lư Hội thừa nhận: “Đúng thế.”
— Ca múa tạp hí khi ấy đặc sắc như vậy, cô xem đến mê mải, ngay cả nước cũng chẳng uống mấy ngụm.
“Cô từ nhỏ đã luyện bắn cung, thị lực vốn hơn người thường.”
“Không dám không dám, thật là xấu hổ…”
“Không được nói lời khiêm tốn bừa bãi!”
“…Vâng.”
Đoan Mộc Tuệ ngồi xuống bên cạnh Lư Hội, khẽ vén mớ tóc dài: “Ta đoán rằng, đêm đó cô hẳn đã nhìn thấy một việc cực kỳ then chốt. Chỉ vì cô không để tâm, nên trong đầu chỉ lưu lại một ý niệm mờ mịt. Cũng giống như người thợ mộc kia, tuy cô tưởng mình đã quên, nhưng sâu trong đáy lòng vẫn ghi nhớ.”
“Cô luôn cảm thấy Lương Vương không phải hung thủ thật sự, bởi vì… cô đã từng nhìn thấy kẻ hung ác chân chính.”
Giọng Đoan Mộc Tuệ khẽ run, trong mắt lộ ra mấy phần sợ hãi, như thể xuyên qua hư không mà trông thấy điều gì đó dị thường.
Rầm!
Ngoài cửa sổ chợt vang lên một tiếng nổ, một tia chớp trắng bệch xé ngang trời, soi gương mặt tròn nhỏ của Lư Hội tái nhợt.
“Xuân lôi đùng đùng.” Đoan Mộc Tuệ bực bội than phiền, đứng dậy đi đóng cửa sổ, “Chỉ có sấm mà chẳng có mưa, dọa người ta cả thôi.”
Lư Hội thở phào một hơi, lau mồ hôi nói: “Sau này Đoan Mộc đại nhân xuất cung rồi có thể đi viết chí quái truyền kỳ được đấy. Người kể chuyện thật quá cao tay, làm tôi tim đập thình thịch, rợn cả người.”
Đoan Mộc Tuệ nhe răng cười, đầy vẻ trẻ con: “Hồi còn trẻ, lúc rảnh rỗi kể chuyện ma, ai cũng bảo chuyện ma của ta là đáng sợ nhất.”
“Phải phải.” Lư Hội vẫn còn kinh hồn, “Cho nên đêm nay tôi ngủ chung phòng với Đoan Mộc đại nhân nhé.”
–
Sáng hôm sau trời vừa tờ mờ sáng, Lư Hội ôm án quyển vội tới Thôi Sự Xử ở Thừa Phúc Môn, lại bất ngờ gặp Trang Hoài Trinh, người hôm qua đã thẳng thắn nói sẽ không tiếp tục tham dự vụ án này nữa.
Hắn đang kịch liệt tranh cãi với Quý Thành Nghiệp: “…Thẩm vấn phải tuần tự từng bước, dùng vạc đỉnh dao cưa thế này, dưới cực hình thì ngươi muốn lời cung nào mà chẳng moi được? Đây rõ ràng là ép cung thành án!”
Giọng Quý Thành Nghiệp vẫn âm u lạnh lẽo: “Trang tướng công là đang dạy tại hạ cách xử án sao? Nếu Trang tướng công đủ bản lĩnh, vậy bệ hạ cần gì phải một lần nữa khởi dụng tại hạ?”
Trang Hoài Trinh mặt căng lại: “Ta tuy bản lĩnh không đủ, nhưng cũng không thể nhắm mắt nhìn ngươi lạm dụng cực hình!”
“Trang đại nhân!” Lư Hội vui mừng kêu lên.
Trang Hoài Trinh quay người lại, hướng về phía cô khẽ gật đầu: “Lư tư trực nói rất phải. Nhiệt huyết chưa nguội, thế nào cũng phải tranh đấu một phen vì kẻ vô tội.”
Thật ra dung mạo của Trang Hoài Trinh rất là không tệ. Tuy đã ba mươi sáu tuổi, nhưng da mặt trắng trẻo không tì vết, râu dài thanh tú, toát lên phong thái cổ quân tử, nếu không thì cũng chẳng bị đồn đại dính tới lời ong tiếng ve với Nữ Hoàng.
Hắn trút bỏ uy nghiêm thường ngày, cúi mình thi lễ đầy hòa nhã, càng khiến người ta cảm thấy tiêu sái chính trực, đối lập hẳn với vẻ âm trầm tàn khốc của tên ác quan đứng bên cạnh.
Quý Thành Nghiệp càng nhìn càng tức, lúc quay đầu ánh mắt như tẩm độc: “Hôm nay Lư tư trực còn muốn tiếp tục xem tại hạ hành hình sao? Sẽ không lại giống hôm qua, hoảng hốt bỏ chạy đấy chứ.”
Lư Hội không tức giận, trái lại cung kính hành lễ: “Tham kiến Quý đại nhân.”
Cô nghiêm túc nói: “Hạ quan từng nghe trong dân gian lưu truyền chuyện ‘Bát Liêu’. Thế nhưng sau khi vào cung hầu hạ bệ hạ, lại nghe nói tới ‘Thất Liêu’. Hạ quan thực sự không hiểu, còn tưởng là dân gian truyền sai, mãi đến hôm qua mới được người ta giải hoặc.”
“Hóa ra Quý đại nhân mới là vị nghiêm lại đầu tiên được bệ hạ trọng dụng, còn Nghiêm Tuấn Huy cùng bảy người kia là về sau mới luồn lách mà lên. Bách tính không cầu hiểu rõ, liền gọi chung là ‘Bát Liêu’; nhưng chư vị đại thần trong triều thì đều rõ Quý đại nhân và Nghiêm Tuấn Huy đám người kia không giống nhau, vì thế chỉ xưng là ‘Thất Liêu’.”
Sắc mặt Quý Thành Nghiệp méo mó: “Hừ hừ, chỉ khác có một chữ, tại hạ cũng chẳng để tâm.”
“Nếu Quý đại nhân thật sự không để tâm, thì đã chẳng tự xin rời đi vào lúc ‘Thất Liêu’ khí thế hưng thịnh nhất.” Lư Hội lập tức tiếp lời, “Quý đại nhân là không muốn đồng lưu hợp ô với đám Nghiêm Tuấn Huy kia, cho nên mới biết tiến biết lui, gấp rút thoái lui, phải không?”
Quý Thành Nghiệp khẽ “hê hê” cười một tiếng, quay lưng đi.
Lư Hội nhẹ giọng nói: “Thật ra hạ quan cho rằng trong lòng bệ hạ đã có tính toán, nếu không đã chẳng để Quý đại nhân nhàn tản qua ngày. Đây chẳng phải sao, lúc này lại cần Quý đại nhân trổ hết tài năng.”
Quý Thành Nghiệp quay người lại: “Không cần tâng bốc nữa, cô muốn làm gì, cứ nói thẳng.”
Trong lòng Lư Hội khẽ thở phào.
Trang Hoài Trinh vuốt chòm râu, hiếm khi im lặng không nói lời nào.
“Vụ án này, hạ quan đã có chút manh mối.” Lư Hội mở tấm đồ họa nhìn từ trên cao của yến tiệc ban đêm ra, “Nếu Lương Vương không phải hung thủ thật sự, vậy chén rượu độc thấm trên tay áo của ngài ta từ đâu mà ra?”
Thấy Trang Hoài Trinh định phản bác, cô vội nói: “Biết rồi biết rồi, không thể dễ dàng gạt bỏ hiềm nghi của Lương Vương. Ý hạ quan là giả sử, giả sử Lương Vương không phải hung thủ, thì tay áo của ngài ta đâu thể tự dưng thấm đẫm rượu độc.”
“Hạ quan tối qua lật đi lật lại án quyển, phát hiện một việc. Sau khi Ngọc Thanh nương tử hát xong khúc cuối, trước khi Tiên Vu nương tử múa điệu Lục Yêu, có một quãng trống ở giữa. Trong khoảng ấy, Lương Vương từng sang đối diện quấn lấy Lăng Dương Vương để kính rượu. Nếu khi đó tay áo ngài ta đã ướt đẫm, đi lại lẹp nhẹp như thế, không thể nào không phát giác.”
Trang Hoài Trinh hiểu ra, chỉ vào đồ họa: “Trước điệu Lục Yêu, tay áo Lương Vương chưa ướt; sau điệu Lục Yêu, Lương Vương mới phát hiện tay áo đã thấm ướt. Vậy thì tay áo ấy nhất định bị ướt trong lúc múa, trừ phi ngài ta có đi sang chỗ khác.”
Quý Thành Nghiệp trầm ngâm hồi tưởng: “E là không có. Hôm qua ta có thẩm vấn đoạn này, các nô tỳ đều nói, khi Tiên Vu thị múa Lục Yêu, toàn bộ quý nhân đều ngồi nguyên tại chỗ, không ai đi lại.”
Trong mắt Lư Hội hiện lên ý cười: “Quả đúng là không có quý nhân nào đi lại lúc múa Lục Yêu. Quý đại nhân đặc biệt thẩm vấn đoạn này, xem ra cũng rất để tâm tới bí ẩn tay áo của Lương Vương.”
Khi múa trống, Chử Duy Cẩn say khướt đi tới sờ chân vũ kỹ, Nữ Hoàng không vui, sai người kéo Chử Duy Cẩn ra; khi múa Hồ Toàn, mấy vị tông vương lần lượt xuống sân, Lương Vương xoay được hai vòng thì ngã, còn Quận Vương lại cứng rắn kéo Lăng Dương Vương cùng múa; chỉ riêng điệu Lục Yêu đầu tiên, mọi người đều chăm chú xem, không ai động đậy.
Trang Hoài Trinh cúi đầu nhìn đồ họa: “Vậy thì tay áo của Lương Vương là bị làm ướt ngay khi ông ta ngồi tại chỗ xem Lục Yêu. Là ai? Ai có thể giữa thanh thiên bạch nhật mà làm được chuyện ấy?”
Lư Hội mỉm cười: “Thật ra việc này không khó. Chỉ là người thường không nghĩ ra, chỉ có kẻ từng hầu rượu bưng món trong yến tiệc mới nghĩ tới.”
Thấy ánh mắt Trang, Quý đều sáng quắc, cô chỉ vào chiếc bàn dài dùng tạm làm án thư bên cạnh, bắt đầu giải thích: “Hai vị đại nhân xin nhìn, bàn án này cao gần bằng chỗ ngồi trong yến tiệc đêm đó. Trang đại nhân, phiền ngài qua đây ngồi.”
Trang Hoài Trinh theo lời ngồi xuống phía sau bàn dài.
Lư Hội nói: “Hôm đó Lương Vương mặc long bào kim long bốn móng, vải dày nặng, tay áo rộng. Lại thêm ngài ta người cao tay dài, động tác thường phóng khoáng, mỗi khi ngồi xuống…”
Trang Hoài Trinh tiếp lời: “Mỗi khi ngồi, tay áo của ngài ta đều vắt sang hai bên mép bàn.”
Hắn bắt chước dáng ngồi của Chử Thừa Cẩn, đặt hai cánh tay lên hai bên bàn dài, tay áo theo đó trải ra, rủ xuống hai phía.
“Đêm ấy, chỗ ngồi của Lương Vương ở phía dưới bên phải Nữ Hoàng, bàn đầu tiên. Mà nô tỳ thêm rượu bưng món đều từ phía trái đi lên.”
Lư Hội kéo một chiếc ghế tựa cao đặt cách Trang Hoài Trinh bên trái chừng bảy tám bước: “Long ỷ của bệ hạ ở vị trí này, còn xa hơn, lại cao hơn nữa.”
Quý Thành Nghiệp đã nghe ra ý tứ: “Tức là nô tỳ thêm rượu bưng món cho Lương Vương đều quay lưng về phía long ỷ. Chỉ cần không cố ý lưu tâm, thì cung tỳ, thị vệ bên cạnh bệ hạ, kể cả Lư tư trực, đều không thấy được động tác của nô tỳ này.”
Lư Hội gật đầu: “Đúng vậy. Tôi thỉnh thoảng liếc xuống vài lần, nô tỳ ở dãy bàn bên trái khi lên món thì mặt hướng về tôi; còn nô tỳ ở dãy bàn bên phải khi lên món, tôi chỉ thấy được lưng của họ.”
Trang Hoài Trinh vuốt râu: “Khi múa Lục Yêu, có lên món không?”
“Có.” Lư Hội rút một quyển trong án quyển ra, mở cho hai người xem, “Theo ghi chép, giữa tiết mục ca múa của Ngọc Thanh nương tử và Tiên Vu nương tử, bên ngoài vừa kịp đưa vào hai món nóng, thịt hươu hầm và canh cá trắng. Để khỏi nguội mất vị, cả hai món đều được đặt trong ổ giữ ấm rồi mang vào đại điện, mỗi bàn một ổ.”
Ở góc phòng hình phạt chất đống hơn chục bình vò bát đĩa dùng cho ác quan tra tấn. Lư Hội sang đó chọn mấy chiếc đĩa gốm thô bỏ vào một cái giỏ rách, lại nhặt một ấm rượu đất đỏ, đổ nửa ấm nước muối dùng ngâm roi da vào.
Cô tiếp tục: “Điệu Lục Yêu danh chấn thiên hạ, người thường cả đời khó gặp một lần. Khi Tiên Vu nương tử ra múa, ngoài nô tỳ thêm rượu bưng món, tất cả mọi người đều dán mắt nhìn về giữa đại điện…”
Cô chỉ vào khoảng không phía trước: “Lúc này, có một nô tỳ lặng lẽ tiến lại gần Lương Vương.”
Lư Hội bắt chước dáng nô tỳ trong cung, nửa ngồi xổm bên trái bàn của Trang Hoài Trinh.
Cô đặt cái giỏ đóng vai ổ giữ ấm xuống đất, trước tiên cẩn thận dời nghiên mực, giấy chặn trên bàn dài sang chỗ khác, dọn ra một khoảng trống, rồi từ trong giỏ bưng đĩa gốm ra, nhẹ nhàng đặt lên bàn.
Dọn bàn, bày đĩa, tất cả đều dùng tay trái; tay phải chỉ xách chiếc ấm rượu đất đỏ.
Để khỏi vướng y phục, tay phải của cô còn tách hai ngón kéo tay áo trái, chiếc ấm rượu đất đỏ liền bị che khuất dưới tay áo trái ấy.
Trang và Quý nín thở chăm chú nhìn, chỉ thấy trong lúc Lư Hội liên tục dùng tay trái bưng món, cô đã không lộ chút dấu vết nào xoay cổ tay phải, dưới sự che chắn của tay áo trái, nước muối trong ấm rượu đất đỏ từ từ đổ lên tay áo trái của Trang Hoài Trinh.
Bởi Trang Hoài Trinh hôm nay mặc vải thường, nước muối thấm qua tay áo có một phần nhỏ nhỏ giọt xuống đất. Nếu đổi thành lễ bào đêm ấy Chử Thừa Cẩn mặc, e rằng lớp vải dày nặng đã hút trọn rượu độc.
Trang và Quý đều căng thẳng đến cực độ, trước mắt như hiện lên một bóng người u hồn, không mặt mũi, lặng lẽ không tiếng động.
Không ai để ý vì sao nô tỳ ấy lại cầm thêm một ấm rượu, cũng không ai phát hiện y đã đổ rượu độc lên tay áo của Chử Thừa Cẩn.
Lư Hội thu giỏ lại, như một nô tỳ cung kính, khẽ khàng đứng dậy rời đi.
“Hai vị đại nhân, xin xem.” Cô chỉ vào tay áo đã ướt sũng, “Thật ra chẳng có gì lạ.”
Trang Hoài Trinh nhìn tay áo ướt đẫm của mình, vẻ mặt kinh ngạc: “Lương Vương lại hoàn toàn không hay biết…”
Nói được nửa câu, chính hắn đã lắc đầu: “Lương Vương ngồi bàn đầu tiên bên phải, lúc múa Lục Yêu y nhìn về phía trước bên phải, đúng là ‘đèn dưới chân đèn’.”
— Cho nên đối với chuyện xảy ra ngay trước mắt mình lại làm ngơ không thấy.
Mặt Quý Thành Nghiệp trầm xuống: “Cho dù mọi người đều xem múa, chẳng lẽ các nô tỳ khác bưng món rót rượu lại không có lấy một kẻ trông thấy?”
Lư Hội đi sang bên phải bàn dài mấy bước: “Gần chỗ ngồi của Lương Vương nhất là Quận Vương, nhưng nô tỳ hầu Quận vương cũng quay lưng về phía bàn của Lương Vương.”
Cô lại chỉ về phía trước: “Nô tỳ ở đối diện thì lại cách khá xa.”
Trang Hoài Trinh lẩm bẩm: “Thật không thể tin nổi, quá sức tưởng tượng.”
Lư Hội phản bác: “Tuy khó tin, nhưng quả thực có khả năng.”
Quý Thành Nghiệp cười lạnh: “Theo sự sắp xếp của Cù Tùng Phong, trong yến tiệc, nô tỳ nào hầu bàn nào đều có quy củ; ở đại điện, nô tỳ nào dám đi loạn khắp nơi. Trừ phi người này sớm biết trước mình sẽ vừa hay hầu Lương Vương, nếu không thì làm sao thực hiện được kế hoạch?”
Lư Hội có chút chột dạ: “Hạ quan cho rằng, việc giá họa Lương Vương không phải kế hoạch từ trước, mà là nảy sinh nhất thời. Người này thấy tư thế ngồi của Lương Vương, lại gặp thời cơ thích hợp, liền quyết đoán ra tay.”
Quý Thành Nghiệp khịt mũi khinh thường: “Trang tướng công suốt ngày nói tại hạ ép cung thành án, xem ra Lư tư trực cũng chẳng kém là bao, lại muốn dựa vào suy đoán để kết án. Nói xem, theo Lư tư trực, kẻ hãm hại Lương Vương là ai?”
Lư Hội gắng sức biện bạch: “Không phải suy đoán. Đêm qua hạ quan đã đặc biệt tìm người thử qua rồi, quả thật làm được.”
Người bị thử nghiệm chính là Đoan Mộc Tuệ, không hề được nhắc nhở, bà mải sai tiểu cung nữ mang đồ ăn khuya, hoàn toàn không phát hiện tay áo mình đã bị Lư Hội hắt ướt.
Lư Hội kéo tới một quyển hồ sơ vụ án: “Ở đây chép rõ, đêm yến tiệc trong cung, kẻ hầu rượu thức ăn cho Lương Vương tổng cộng năm người, mà khi vũ khúc Lục yêu nổi lên, dâng món cho Lương Vương chính là người này ——”
Trang – Quý hai người ghé lại xem, chỉ thấy ngón tay thiếu nữ điểm vào một cái tên: La Tam Lai.
Quý Thành Nghiệp nói: “Xem mặt mũi Lư tư trực, tại hạ không ngại trước tiên xét hỏi tên họ La này…”
Trang Hoài Trinh vội quát ngăn: “Không thể khinh suất! Ngươi đánh người nửa chết, đến lúc ấy còn hỏi được gì!”
Quý Thành Nghiệp giận dữ: “Dựa vào Trang tướng công dịu giọng hỏi han, lẽ nào có thể tra ra?”
Lư Hội: “Hai vị đại nhân chớ tranh cãi, hạ quan có một kế, chẳng cần động hình, cũng chẳng phải hỏi han, tôi sẽ giả trá hắn một phen.”
La Tam Lai là thái giám gầy nhỏ, chừng mười lăm mười sáu tuổi, dung mạo trắng trẻo ngoan ngoãn.
Hôm qua Quý Thành Nghiệp dùng hình, theo thứ tự từ lớn đến nhỏ, từ cao xuống thấp, trước tiên đều là những kẻ có phẩm cấp tư cách; La Tam Lai tuổi nhỏ địa vị thấp, chỉ ăn vài roi, chưa tới lượt trọng hình.
Thấy Quý Thành Nghiệp ngồi trên thượng thủ, sát khí lẫm liệt, La Tam Lai chân mềm nhũn chẳng bước nổi, hai ngục lại phải kéo hắn lên, quẳng xuống đất.
Hắn bò trên đất run rẩy: “Đại nhân hỏi gì tiểu nhân đều nói, tuyệt chẳng dám giấu, xin đại nhân tha mạng!”
Quý Thành Nghiệp cười lạnh: “Đừng giả vờ nữa, cũng là bản quan sơ suất, hôm qua chưa nhìn ra ngươi. Nói đi, ai sai khiến ngươi hắt rượu độc vào tay áo Lương Vương?”
La Tam Lai mặt mày hoảng hốt: “Đại nhân nói gì, cái… cái gì hắt rượu độc, nô tài nghe chẳng hiểu.”
Quý Thành Nghiệp khẩy cười, bảo thuộc hạ: “Áp người lên đây.”
Một nhạc công mình đầy máu bị lôi tới, vừa gặp đã khóc lóc: “Tiểu nhân đã khai hết, xin đại nhân tha mạng!”
Quý Thành Nghiệp: “Lặp lại lời vừa rồi.”
Nhạc công ngẩng đầu, chỉ thẳng La Tam Lai lớn tiếng: “Chính hắn, tiểu nhân thấy rõ, chính hắn giấu vò rượu dưới tay áo, lén rót lên người Lương Vương! Chính hắn!”
La Tam Lai gào: “Ngươi nói càn! Ngươi chịu không nổi trọng hình, bừa bãi vu cáo, coi chừng trời đánh! Đêm yến ta hầu ở hai bàn đầu, các ngươi nhạc công ngồi tận cuối, sao thấy được hành động của ta!”
“Chính hắn không sai!”
Nhạc công càng gào lớn: “Tiểu nhân từ nhỏ mắc viễn thị, gần chẳng rõ, xa lại thấy rõ rành rành! Bình thường tấu nhạc cho quý nhân, tiểu nhân cúi đầu giả như nhìn đàn, thực ra gảy dây đều nhờ quen tay. Khi Tiên Vu nương tử múa, tiểu nhân cả gan ngẩng đầu, muốn xem bậc tôn quý nhất thiên hạ là thế nào, lại bất ngờ thấy hành động của hắn!”
“Tiểu nhân chẳng hiểu sự tình, sợ phạm điều cấm trong cung, nghĩ thêm một chuyện chẳng bằng bớt một chuyện, nên mãi không nói ra. Mãi đến, mãi đến…”
Hắn sợ hãi liếc nhìn phía trước, chẳng dám nói tiếp.
“Mãi đến khi bản quan cho hắn nếm hình cụ.”
Quý Thành Nghiệp nhe răng cười: “Phải nói vẫn là pháp của chúng ta hay, dưới trọng hình tất có kẻ chịu không nổi mà mở miệng. Trang tướng công cùng các ngươi dây dưa bảy tám ngày, chẳng được gì, vừa lên hình, liền khai hết, ha ha ha…”
Sau bình phong, Trang Hoài Trinh nhìn Lư Hội, ánh mắt trách cứ.
Lư Hội cười gượng.
La Tam Lai nghe vậy mặt như tro tàn, ngã mềm xuống đất.
Quý Thành Nghiệp thấy thế, trong lòng mừng thầm, mặt càng dữ tợn: “Ta chẳng phải hạng đọc sách như Trang tướng công, ta khuyên ngươi hiểu cho rõ, đừng để đến khi xương cốt bị nghiền nát từng khúc mới chịu nhận!”
La Tam Lai run như cầy sấy: “Tiểu nhân, tiểu nhân…”
Quý Thành Nghiệp mất kiên nhẫn, đang định sai người kéo hắn lên tra hình ——
Ngay lúc ấy, La Tam Lai bất ngờ vùng dậy lao thẳng về phía Quý Thành Nghiệp.
“Bảo vệ đại nhân!” Hai ngục lại chẳng nghĩ gì, lập tức chắn trước bàn, lại có bốn ngục lại xông tới bắt La Tam Lai.
Nào ngờ La Tam Lai lại cực kỳ nhanh nhẹn, giữa đường lăn một vòng, bốn ngục lại bắt hụt, chỉ thấy hắn lăn tới bên lò than, chộp lấy đôi đũa đồng đặt trong than.
“Chớ lại gần!” La Tam Lai cầm ngược đũa đồng, chĩa thẳng vào yết hầu mình.
Quý Thành Nghiệp quát lớn: “Tất cả dừng tay, đừng để hắn chết!”
La Tam Lai thần sắc phẫn hận, oán độc như lệ quỷ: “Rõ ràng là Lương Vương hạ độc hại người, các ngươi lũ quan chó nịnh bợ quyền thế, cứ khăng khăng nói chẳng phải lão ta! Nô tài ta vốn chẳng làm gì, đều là các ngươi, các ngươi trăm phương nghìn kế tra tấn, ép chúng ta phải vu cáo lẫn nhau!”
Hắn đưa mạnh song thủ, đôi đũa đồng thô to xuyên thấu yết hầu, máu tươi phun tung tóe khắp đất.
Trang Hoài Trinh cùng Lư Hội kinh hãi, vội vượt qua bình phong lao ra.
La Tam Lai ngã xuống đất, cổ họng phát ra vài tiếng khục khục, máu đặc từ vết thương tuôn trào, chẳng bao lâu đã tắt thở.
Lư Hội vừa kinh hoảng vừa đau xót: “Ta… ta có phải đã lầm, khiến người này chịu oan mà tự tận?”
Trang Hoài Trinh trầm trọng nói: “Trái lại, Lư tư trực đã tìm đúng người rồi.”
Quý Thành Nghiệp mặt mày xanh xám: “Kẻ này tay chân linh hoạt, chẳng trách có thể ngay trước mắt mọi người mà vu hãm Lương Vương, lại không ai phát giác. Há chẳng phải tử sĩ của nhà nào?”
Trang Hoài Trinh lắc đầu: “Không phải, ta thấy hắn oán hận sâu nặng, chẳng giống giả trá, xem ra hắn cùng Lương Vương có thù.”
Lư Hội thở phào: “Quả thật là hắn! Vậy kế tiếp phải làm sao?”
Quý Thành Nghiệp nghiến giọng: “Lục soát phòng ở của hắn, thẩm vấn tất cả kẻ quen biết hắn, ắt có manh mối!”
Chính Sự Đường.
Bùi Thứ Chi hai tay chắp sau lưng, ánh mắt lạnh nhạt nhìn đồng hồ đồng rỏ giọt. Thân hình chàng cao lớn ngay ngắn, quan bào tím khoác trên người càng thêm vẻ đoan trang diễm lệ. Mặt trời đã lên cao, trong đường các quan bắt đầu giải tán, từng nhóm chào nhau cáo lui.
Thẩm Khâm chậm rãi đứng dậy: “Hôm nay không có chuyện gì, nghe nói Đông Lưu cư sĩ tại Phương Hoa Các mở tiệc xuân mai, Nhược Trạm có muốn cùng lão phu đi chăng?”
Bùi Thứ Chi khổ cười: “Đa tạ tướng công hậu tình, song vãn bối còn phải tới Cửu Châu Trì Uyển một chuyến, chẳng thể dự yến.”
“Cửu Châu Trì Uyển vừa xảy chuyện lớn, Nhược Trạm tới đó làm gì?” Thẩm Khâm cau mày.
Thị trung Thôi Thăng đặt bút ngọc xuống, nhạt giọng: “Hai canh giờ trước, Quý Thành Nghiệp dẫn thủ hạ tới Cửu Châu Trì Uyển, nói là muốn lục soát. Cấp Sơn cùng Lư tiểu nương tử cũng ở đó, ồn ào nửa ngày, chẳng rõ đã xong chưa.”
Một hiệu thư lang xen lời: “Vừa rồi hạ quan đi ngang hướng ấy, xa xa thấy Trang tướng công đang tranh cãi với Quý Thành Nghiệp, nghĩ là chưa xong.”
Thôi Thăng: “Họ tranh cãi gì?”
Hiệu thư lang: “Hình như Quý Thành Nghiệp muốn đem toàn bộ nô tỳ trì viện về thẩm vấn, Trang đại nhân không chịu.”
Thẩm Khâm cau mày: “Quý Thành Nghiệp, tuy hơn ‘Thất Liêu’ đôi phần chừng mực, rốt cuộc vẫn là kẻ thô bạo, ra tay tàn nhẫn. Lư tư trực chỉ là thiếu nữ trẻ, thật chẳng nên dự phần.”
Bùi Thứ Chi lòng bực bội: “Vãn bối vẫn khuyên cô ấy từ bỏ việc nghe xét, bệ hạ khoan hậu, sẽ chẳng trách phạt, song cô ấy nhất định không chịu.”
Thẩm Khâm bật cười: “Hiếm thấy Nhược Trạm như vậy, ha ha.”
Thôi Thăng cũng hiếm khi lộ chút tiếu ý, khẽ lắc đầu.
Bùi Thứ Chi thoáng ngẩn, rồi cười: “Vãn bối lời có hơi gấp, mong Thôi tướng công chớ trách.”
Thẩm Khâm cười hiền hậu: “Có gì mà trách, cũng là tình thường của người thôi.”
Hiệu thư lang cúi đầu, khẽ cười sắp xếp văn quyển.
Bùi Thứ Chi sắc bén vô cùng, nhận ra ba người cười có điều khác lạ, vừa định dò thêm, Thẩm – Thôi đã khoác tay nhau rời đi.
Trước khi ra cửa, Thôi Thăng còn để lại một câu: “Năm nay cống thí nếu có kẻ tài mạo song toàn, lão phu sẽ lưu ý cho Nhược Trạm.”
Bùi Thứ Chi đứng ngoài cửa nhìn bóng lưng hai người, lòng đầy nghi hoặc. Hiệu thư lang là kẻ cuối cùng rời đi, vừa bước qua hành lang đã bị Bùi Thứ Chi chộp lấy.
“Ngươi vừa rồi cười gì?” Bùi Thứ Chi lạnh mặt hỏi.
Hiệu thư lang tim run rẩy: “Hạ… hạ quan nào có cười.”
“Thẩm tướng công cùng Thôi tướng công lại cười gì?”
“Cái… cái này hạ quan sao biết được.”
Bùi Thứ Chi cười lạnh: “Ngươi không thành thật, tưởng bản tướng không làm gì được ngươi sao?”
Hiệu thư lang biết rõ sự lợi hại của người trước mắt, đắc tội với chàng, hậu họa khôn lường.
Hắn vội vàng nói: “Thiếu tướng đừng trách, nụ cười của Thẩm tướng và Thôi tướng tuyệt không có ác ý, mà là… mà là… Thiếu tướng cũng không cần giấu nữa, chuyện của Lư tiểu nương tử, Trang tướng công đã sớm suy đoán ra rồi.”
Chuông cảnh báo trong lòng Bùi Thứ Chi vang dội, “Trang Hoài Trinh đã suy đoán cái gì? Việc này thì liên quan gì đến Hội… đến Lư nương tử?”
Viên Hiệu thư lang muốn cười mà không dám, chỉ biết thở dài liên hồi: “Thiếu tướng nói Lư tư trực là bà con xa của Bùi thị, nhưng ngày thường thiếu tướng quan tâm Lư tư trực từng li từng tí, chuyện gì cũng để trong lòng, chúng tôi đều nhìn thấy cả; vì thế Trang tướng công khẳng định, trong này nhất định có ẩn tình.”
Trong lòng Bùi Thứ Chi lại cuộn trào như sóng dữ, hận không thể mở miệng chửi to, chẳng lẽ chuyện chàng và Lư Hội tư tình riêng đã bị phát giác rồi sao?
Chàng thản nhiên nói: “Ẩn tình gì chứ. Lư nương tử hầu hạ một vị dì yếu bệnh của bản tướng, tận tâm tận lực, bản tướng tự nhiên phải có qua có lại.”
Hiệu thư lang nhịn cười: “Nếu chỉ vậy, ban thưởng thêm tài vật, thậm chí nâng đỡ phụ huynh huynh trưởng nhà họ Lư là được rồi, thiếu tướng hà tất phải tốn bao tâm lực đưa Lư tiểu nương tử đến bên bệ hạ, còn nói muốn tìm cho Lư tư trực một mối hôn sự thật tốt.”
— Thì ra câu nói cuối cùng trước khi rời đi của Thôi Thăng là có ý này.
Bùi Thứ Chi suy nghĩ rất nhanh, mơ hồ cảm thấy không phải chuyện tình cảm của hai người đã bị phát hiện.
Chàng hỏi: “Rốt cuộc Trang Hoài Trinh đã suy đoán ra cái gì?”
Hiệu thư lang cười lấy lòng: “Trang… Trang tướng công nói, thiếu tướng vốn không phải người nhiệt tình, nếu Lư tư trực thật sự chỉ là họ hàng xa của phủ Bùi, thiếu tướng tuyệt đối sẽ không quan tâm đến mức ấy, trừ phi, trừ phi…”
“Nói mau!” Bùi Thứ Chi lạnh giọng quát.
Ánh mắt Hiệu thư lang lảng tránh: “Trừ phi Lư tư trực là người thân ruột thịt của thiếu tướng, là con gái mà Bùi công, phụ thân của thiếu tướng, lén sinh bên ngoài.”
“Cái gì?!” Bùi Thứ Chi sững sờ, gần như nghi ngờ tai mình nghe nhầm.
Hiệu thư lang một hơi nói hết: “Bùi công xưa nay nổi tiếng sợ vợ, vì e ngại Liễu phu nhân mẫu thân thiếu tướng trách tội, nên chỉ đành đem đứa con gái sinh ngoài ý muốn gửi nuôi bên ngoài, không dám nhận. Lại vì lo Lư tư trực thân phận con nhà buôn bán, khó gả vào cao môn, Bùi công đành dặn dò thiếu tướng, tùy tiện kiếm một danh nghĩa nào đó, đem em gái ruột mang theo bên mình, tự tay chăm sóc.”
“Như vậy thì mọi chuyện đều thông suốt rồi. Thiếu tướng trước đưa Lư tiểu nương tử vào Tiểu Sơn Học Quán, để được danh sĩ chỉ dạy, sau đó lại đưa đến trước mặt bệ hạ, được ban thưởng, có quan chức, tất cả đều là để nâng cao thân phận của Lư tư trực cả!”
“……”
Bùi Thứ Chi thật lâu không nói gì, đời này chàng chưa từng chịu cú sốc nào lớn đến vậy.
Chàng nghiến răng hỏi: “Những lời này đều là do Trang Hoài Trinh nói sao?”
Năm xưa khi bày cục vụ cướp bóc Kim Châu, chàng đã nhìn ra trí tưởng tượng của họ Trang quá mức phong phú, quả thực là viên ngọc sót của giới thoại bản, trụ cột trung kiên của phái dã sử.
“Đúng vậy, Trang tướng công lâu năm xử án hình luật, kiến thức rộng rãi.” Hiệu thư lang vẻ mặt kính phục, “Nghe những lời thì thầm bên dưới, ngài ấy rất nhanh đã đoán ra chân tướng. Thiếu tướng, thật sự là như vậy sao?”
Trong lòng Bùi Thứ Chi tức giận không thôi, vừa muốn treo ngược Trang Hoài Trinh lên tát trái phải mấy trăm cái, lại vừa rõ ràng hiểu rằng những lời bịa đặt của Trang Hoài Trinh đối với mình lại vô cùng có lợi.
Vẻ mặt muốn nói lại thôi, ánh mắt vừa lúng túng vừa tức giận, rơi vào mắt Hiệu thư lang, chẳng khác nào đã bị nói trúng tim đen.
Gương mặt như ngọc của Bùi Thứ Chi lúc xanh lúc đỏ, một mặt cảm thấy “tương kế tựu kế” cũng không tệ, một mặt lại thấy có lỗi với cậu ruột Bùi Hoàn và mợ Liễu thị phu nhân vô cớ có thêm một đứa con gái riêng.
Cuối cùng, chàng chỉ có thể sa sầm mặt, phẫn nộ rời đi: “Toàn là nói bừa!”
Tác giả có lời muốn nói:
Hiệu thư lang là một chức quan, không phải là người chuyên làm công việc hiệu đính văn bản.
