Chương 1: Em thích anh
*
Tháng 8 năm 2014, Trần Kính Chương 33 tuổi, ly hôn với người vợ kém mình 5 tuổi – Giản Nhu.
Hai người họ người ở Bắc Kinh, người ở Thượng Hải, chịu cảnh vợ chồng đôi ngả. Nhà họ Trần mấy bận đánh tiếng muốn điều chuyển công tác cho Giản Nhu về lại Bắc Kinh, nhưng lần nào cô con dâu cũng khéo léo từ chối bằng đủ mọi lý do. Cho đến tận khi tình cảm đôi trẻ rạn nứt hoàn toàn, người nhà họ Trần mới vỡ lẽ, rồi từ đó chẳng bao giờ gặp lại cô con dâu vốn ngay từ đầu đã không vừa mắt, tính khí lại dở dở ương ương này nữa.
Sau đó, Trần Kính Chương được điều chuyển ngang sang ban tuyên giáo, ở lại đấy vài năm.
Nhờ công việc, Giản Nhu có cơ hội tiếp xúc với một số ngôi sao giải trí, cả ở đại lục lẫn Hồng Kông, Đài Loan. Lại thêm nhờ phúc của anh ấy bạn nối khố Trương Thành Quân, cô coi như đã hóng đủ mọi chuyện thị phi trên đời.
Trương Thành Quân và Giản Nhu lớn lên bên nhau từ nhỏ trong cùng một khu tập thể. Ở cái thị trấn nhỏ ấy, trường học chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhà ai không có cơ cánh thì cứ đúng tuyến gần nhà mà học. Thế nên từ tiểu học cho đến khi tốt nghiệp cấp ba, hai đứa đều học chung trường. Năm lớp 11, Trương Thành Quân đã đi nơi khác học để thi khối nghệ thuật. Nhờ ngoại hình sáng sủa, bảnh bao, lại khéo ăn khéo nói và gặp thời, anh ấy lăn lộn trong giới thời trang nhiều năm, tuy không nổi đình nổi đám nhưng tự nuôi sống bản thân thì dư sức. Ngày thường đối với người trong nghề anh ấy kín miệng như bưng, nhưng cứ hễ vớ được đứa chỉ biết nghe chứ chẳng bao giờ buôn chuyện như Giản Nhu, anh ấy lại thèm được trút hết tâm sự cho bằng sạch.
Quê nhà Đông Bắc, trời đông giá rét. Trong quán nướng Tân Cương mở cửa đến tận ba giờ sáng, Trương Thành Quân nói giọng địa phương Đông Bắc nồng nặc mùi rượu, ngồi tán dóc với Giản Nhu.
“Mấy cái tin tức trong showbiz chả tin được đâu, toàn là tung hỏa mù cả đấy…”
Tửu lượng của Giản Nhu dạo này lên tay, ngồi đưa cay cũng hết bốn, năm chai bia. Trương Thành Quân thì một mình cân cả két, uống đến mức ngà ngà say, đôi lông mày giãn ra, nét phong trần lịch lãm lại tăng thêm vài phần phóng khoáng. Thịt xiên nướng nuốt không trôi nữa, cô bắt đầu giết thời gian bằng việc bóc từng hạt lạc rang hái Tết đặt vào chiếc đĩa sứ. Giờ này rồi mà cô vẫn có thể thản nhiên ngồi nghe Trương Thành Quân nói lời say: Nào là cậu chàng lưu lượng này ngoài đời tính khí thối tha ra sao, nào là quán quân cuộc thi tuyển chọn kia thực chất đã được cơ cấu ký hợp đồng từ sớm thế nào.
“Mà này, cái cô Chu Vi Vi đang hot dạo gần đây, bà biết không đấy?”
Anh ấy dừng lại một chút. Ánh mắt lờ đờ vì say nhìn sang cô gái đối diện – gương mặt cô trong trẻo như tranh sơn thủy, khiến cơn say của anh ấy cũng vơi đi vài phần.
Một nửa số lạc đã bóc được gạt sang đĩa của anh ấy, Giản Nhu đặt chiếc đĩa không về bàn, thuận miệng hỏi đưa đà: “Chu Vi Vi làm sao cơ?”
Trương Thành Quân im lặng vài giây, rồi hạ quyết tâm, đánh liều nói thật: “Cô ta chẳng có bạn trai trong ngành nào đâu. Sếp tôi đoán là Kính Chương bao nuôi đấy, chứ không thì chả đời nào nổi đến mức ấy được.”
Trương Thành Quân trước nay vẫn luôn dành cho Trần Kính Chương vài phần kính trọng, đến mức dù anh và Giản Nhu đã đường ai nấy đi, đầu óc anh ấy có mê muội vì rượu thì theo phản xạ tự nhiên vẫn không đổi cách xưng hô.
Giản Nhu lục tìm ký ức về ngôi sao này. Cô nhớ Chu Vi Vi là bông hồng lai Trung-Anh, đường nét gương mặt sâu và sắc sảo, nhưng lại sở hữu đôi mắt hạnh mang đậm nét cổ điển, khí chất khép kín trầm lặng, giọng nói thì dịu dàng, nũng nịu dễ nghe.
Cô không có phản ứng gì đặc biệt, cúi đầu tiếp tục bóc lạc, bình thản đáp lời: “Anh ấy vốn thích kiểu người như vậy mà.”
Trương Thành Quân thực ra cũng chẳng gặp Trần Kính Chương mấy lần, anh ấy khá ngạc nhiên trước gu của anh, liền vô tư chỉ ra: “Bà đâu có giống kiểu đấy.”
“Thế nên mới ly hôn đây.” Giọng cô đều đều, rõ ràng là không muốn bàn sâu thêm.
Đêm muộn, Trương Thành Quân đi bộ tiễn Giản Nhu về nhà. Những năm ấy công tác dọn tuyết chưa được tốt lắm, tiếng bước chân hai người giẫm lên nền tuyết kêu răng rắc. Tiếng mở cửa làm mẹ cô thức giấc, bà nằm trên ghế sofa khẽ trách con gái một câu rồi mới vào phòng mình ngủ tiếp. Trong nhà lò sưởi đốt rất ấm, không gian tĩnh mịch đến độ khiến lòng người bình yên. Giản Nhu rửa mặt mũi xong xuôi mà vẫn tỉnh táo, vừa leo lên giường lại đặt chân xuống, cử chỉ khẽ khàng không một tiếng động. Cô cúi người dưới gầm chiếc bàn học từ thời cấp ba ngày ngày vùi đầu sách vở, mở ra một chiếc thùng chứa đồ đan bằng nan nhựa sắc màu. Bên trong xếp đầy các loại điện thoại, máy nghe nhạc và Ipad đời cũ.
Chồng cũ của cô hồi những năm hai mươi tuổi rất mê đồ điện tử. Vào cái thời đại các thiết bị di động bùng nổ, anh có niềm đam mê mãnh liệt với việc lên đời điện thoại, mấy dòng máy chủ lực nâng cấp của Nokia anh đều từng dùng qua.
Về sau đổi sang dùng Iphone, công việc bận rộn lên, anh bắt đầu thấy việc chuyển đổi dữ liệu thật phiền phức. Thời đó, mỗi lần cập nhật là một lần nâng cấp thực sự, anh lại có nhu cầu sử dụng cao, nên thường vứt cả hai chiếc điện thoại cũ và mới cho Giản Nhu, bảo cô mày mò hộ.
Giản Nhu ngắm nhìn những chiếc máy cũ, nhiều chiếc trông ngoại hình vẫn còn mới toanh. Chẳng hạn như chiếc Nokia thế hệ cuối cùng anh dùng, Giản Nhu nhớ giá bán khi ấy gần mười nghìn tệ, một con số trên trời đối với người bình thường. Cô từng bị thu hút bởi thiết kế trượt hai chiều của nó, thỉnh thoảng lại lôi ra nghịch ngợm bên cạnh anh, chẳng bấm phím gì cả, chỉ trượt lên trượt xuống chơi vậy thôi. Trần Kính Chương thấy thế liền hỏi: “Mua cho em một cái là được chứ gì?”
Giản Nhu là người có tính cách rất dịu dàng, người như tên, lúc nào cũng ôn tồn từ chối anh: “Em chỉ thấy hay hay thôi, chứ điện thoại thì chức năng cũng na ná nhau mà.”
Trần Kính Chương không ép, có lẽ vì nuông chiều cô, anh nhẹ nhàng lảng sang chuyện khác, cứ như thể không nhận ra sự cự tuyệt của cô, thuận theo ý cô mà đi tiếp.
Anh là người vô tư, đồ điện tử cứ vứt lung tung trong nhà, còn cô lại là người hoài cổ, gom góp hết lại, sở hữu chúng thật lâu dài. Giờ đây, cả cái thùng này bán đi chắc cũng chẳng nổi vài nghìn tệ.
Giản Nhu ngồi xổm ngắm nhìn một lát, không chạm vào đồ vật nào, lại đậy chiếc nắp sặc sỡ lại như cũ. Cô đứng dậy, rút một sợi cáp từ hộp dây điện ra, cắm sạc cho chiếc Ipad đời đầu của mình.
Cô cũng từng có khoảng thời gian phù phiếm, và chiếc Ipad này chính là cái giá phải trả cho sự phù phiếm đó. Hồi ấy cô đã gom góp tiền sinh hoạt phí rất lâu, khoảnh khắc bóc hộp, ghé mũi ngửi thấy mùi hương đặc trưng tỏa ra từ bên trong. Đến tận bây giờ cô vẫn thích mùi hương từ các sản phẩm của hãng này.
Sau khi trở về Thượng Hải, cô phải đi công tác Tây Ban Nha ba tuần, chính vì thế mới nhớ ra mà lôi nó ra để mang theo. Biểu tượng quả táo khuyết màu bạc hiện lên, sau đó màn hình hiển thị hồ Vị Danh tĩnh lặng – bức ảnh do chính tay cô chụp năm xưa. Giản Nhu nhìn chằm chằm vào hình nền ấy vài giây, ngón tay nhấn vào biểu tượng iMessage, mấy dòng tin nhắn đầu tiên là những lời nhắn tin qua lại thời hai người còn mập mờ.
Giản: Tên anh nghe hay thế.
Trần: Thế à? Mẹ anh họ Chương.
Giản: A, ý nghĩa tuyệt thật đấy.
Hôm đó họ làm những gì, Giản Nhu đã không còn nhớ rõ, nhưng cô nhớ rất kỹ buổi hẹn hò ngày hôm sau khi kết thúc, anh lái xe tiễn cô xuống dưới lầu. Cô cũng chẳng biết lòng dũng cảm từ đâu ra, đột nhiên rất muốn đường đường chính chính bày tỏ lòng mình. Ai chủ động tiếp cận trước, ai theo đuổi ai, sự dè dặt hay rụt rè gì đó, hết thảy đều không còn quan trọng nữa.
Thế nhưng khi thực sự thốt ra, giọng nói vẫn run rẩy như cũ.
“Em…” Cô mới nói được một từ thì mặt đã đỏ bừng lên, rồi tắc nghẹn ở đó.
Trần Kính Chương quay sang nhìn cô.
“Trần Kính Chương.”
Cô thích gọi tên anh, lấy đó làm điểm bắt đầu để lấy lại dũng khí cho mình.
Anh như thể không nỡ nhìn cô phải khổ sở đấu tranh, đón lấy sự ngượng ngùng của cô, hơi cúi người xuống và nói: “Em thích anh.”
Giọng điệu dịu dàng đến thắt lòng. Sự trân trọng và kiên định trong mắt anh, chẳng hề kém cạnh cô.
Tim Giản Nhu đập liên hồi như trống trận, thời gian như ngừng trôi.
Giờ đây nhắm mắt lại, cô vẫn có thể nhìn thấy dáng vẻ họ từng yêu nhau toàn tâm toàn ý, không chút tạp niệm.
Một năm trước khi ly hôn, họ gần như chẳng gặp mặt nhau.
Trần Kính Chương làm việc ở Bắc Kinh, Giản Nhu chuyển qua vài cơ quan, cuối cùng dừng chân tại một tòa soạn báo ở Thượng Hải. Năm 2013, kinh tế Internet chưa phát triển mạnh mẽ đến thế, báo giấy vẫn chiếm một vị thế hoàng kim, nhưng người trong ngành đã ngầm dự đoán được sự thoái trào.
Cô không có nhiều cơ hội đi công tác xa hoa, Trần Kính Chương thì làm việc giờ hành chính, cuối tuần thường xuyên có tiệc tùng tiếp khách. Cũng chẳng phải là thật sự không bòn rút nổi chút thời gian, chỉ là mỗi khi mở danh bạ nhìn thấy hai chữ ấy, lòng lại dâng lên cảm giác “gần nhà lòng càng thêm sợ”.
Tất nhiên họ không phải lúc nào cũng sống xa nhau như vậy, công việc đầu tiên của Giản Nhu sau khi tốt nghiệp là ở Bắc Kinh, một công việc biên chế nhà nước ổn định, phải chọi với cả nghìn người mới thi đỗ.
Năm đó cô tốt nghiệp, rời khỏi ghế nhà trường, hăm hở đuổi theo hoài bão, bén rễ ở thành phố lung linh những ước mơ. Cô có một công việc thể diện và một người yêu tuyệt vời nhất, cứ ngỡ đi hết ngút ngàn đồng nội sẽ gặp được núi xuân.
Giản Nhu từng nghĩ, việc nhà Trần Kính Chương nới lỏng cái gật đầu cho đám cưới của họ, một phần nguyên nhân là vì công việc của cô đã ổn định ở Bắc Kinh. Nhưng cô cũng thừa hiểu, nguyên nhân chủ yếu vẫn là sự kiên trì của Trần Kính Chương.
Mẹ của Trần Kính Chương là một nhà dịch thuật có tiếng, tên là Chương Uyển Chi. Bố anh là Trần Tương, đường quan lộ trong quân đội lên như diều gặp gió, nhưng nếu xét về gia thế, đối với mẹ anh thì vẫn tính là trèo cao.
Bà Chương có tư tưởng cực kỳ cởi mở.
Thế nên khi Trần Kính Chương đã nhắm trúng mục tiêu, anh đem hết mọi lời lẽ ngon ngọt ra nói với mẹ mình. Nửa tháng trước khi đăng ký kết hôn, Chương Uyển Chi im lặng rất lâu trong phòng sách, rồi gọi Trần Kính Chương về nhà. Thời gian đó, bà cứ nhìn thấy anh là lại thở dài.
Bà làm công việc dịch thuật, có thể chuyển đổi linh hoạt giữa phát âm tiếng Anh chuẩn Anh và chuẩn Mỹ, tiếng Phổ thông cũng luyện đến mức cực kỳ chuẩn mực. Bà nghiêm túc nói với con trai bằng giọng đầy tâm huyết:
“Mẹ không phải vì chuyện môn đăng hộ đối mà không đồng ý cho hai đứa kết hôn, mẹ chẳng cổ hủ, cứng nhắc như bố con đâu.”
Bà Chương sở hữu phong thái phóng khoáng, cao sang của một bậc tri thức xuất thân từ danh gia vọng tộc ở Bắc Kinh, không giận mà uy. Con trai bà đứng khép nép một bên nghe dạy bảo.
Bà học vấn cao, nhưng không thích lên mặt dạy đời, bà cân nhắc từng câu chữ để gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh cho đứa con duy nhất của mình:
“Mẹ không hoàn toàn hiểu rõ Giản Nhu, nhưng con bé và con có tính cách không hợp nhau.” Trần Kính Chương định mở miệng nói gì đó, bà Chương khẽ xua tay, tiếp tục nói.
“Giản Nhu là một đứa trẻ ngoan, bố mẹ cũng nghe con kể nhiều ưu điểm của con bé rồi. Nhưng nếu con cảm thấy con bé cái gì cũng tốt, thì chỉ chứng minh một điều là con chẳng hiểu gì về nó cả.”
Bà mang trong mình sự hào sảng của người Bắc Kinh, thời trẻ làm gì cũng thành công, làm học thuật thì xứng đáng là giáo sư trẻ tuổi nhất học viện, bước chân vào kinh doanh liền có thể giàu có một vùng. Hiếm khi bà bày tỏ tình cảm chân thành một cách tha thiết đến vậy: “Hôn nhân thất bại tổn hao tâm sức lắm con ạ. Từ lúc sinh ra con đã chẳng phải chịu khổ bao giờ, mẹ chỉ mong con cả đời này không phải chịu khổ.”
Trần Kính Chương chưa bao giờ thấy mẹ mình nghiêm túc đến thế.
Anh vốn là người rất nghe lời người lớn, những lời này anh đều lọt tai. Im lặng hồi lâu, anh nói với mẹ: “Con chấp nhận thua được.”
Số phận là thứ không thể cản bước.
Công việc dịch thuật kỳ cựu thực chất chính là cuộc dò dẫm vào sâu trong nhân tính. Trần Kính Chương sau này mới nhận ra, mẹ anh đã đúng.

Bà đào truyện nào cũng hợp gu tui hết 🥹
Uầy t thấy bà bắt nhịp nhanh lắm nhá :>