Chương 52: Ngoại truyện 5: Hứa Tinh Nương (Thượng) – Đầu thai làm phận nữ nhi, đúng là xui xẻo như thế, có điều nàng không phục.
*
Hứa Tinh Nương vừa qua sinh nhật mười chín tuổi được hai tháng, liền được Khố Địch phu nhân tiến cử, vào cung bái yết Chử Hoàng Hậu.
Nàng phủ phục quỳ trên gạch vàng phẳng lặng như gương trong điện, lồng ngực đập thình thịch liên hồi.
Nửa năm nay nàng cố ý kết giao với Khố Địch phu nhân, dốc hết sức mình giải vây gỡ rối cho bà, chính là vì mong có một ngày Khố Địch phu nhân có thể nói giúp vài câu trước mặt người quyền quý. Chẳng ngờ, kết quả lại vượt xa dự liệu.
“Ngẩng đầu lên.” Trên đỉnh đầu vang lên giọng nói một người phụ nữ uy nghiêm mà tao nhã.
Hứa Tinh Nương làm theo lời, đập vào mắt là một mỹ nhân khoác cung trang cao ráo đầy đặn, trán rộng cằm đầy, mắt phượng kiêu hãnh, nhan sắc cực kỳ mỹ lệ.
Chử Hoàng Hậu năm đó ba mươi lăm tuổi, lúc này phần bụng nhô cao, thứ đang mang trong bụng chính là Hoàng tam tử Mạo sau này.
Nàng hứng thú dạt dào nhìn người phụ nữ dưới bậc thềm, “Khố Địch thị nhiều lần nhắc tới ngươi với bản cung, bảo ngươi là người phụ nữ thông tuệ nhất bà ấy từng gặp trong đời, tinh minh cường can hiếm thấy trên đời, giúp bà ấy không ít việc.”
Hứa Tinh Nương một lần nữa dập đầu bái lạy, “Thiếp hổ thẹn không dám nhận. Thiếp cũng mang lòng riêng, chỉ cần có thể giành được quyền kinh doanh đặc hứa của triều đình, về sau buôn bán nhất định vốn một lời vạn.”
“Ngươi thật thà đấy, cái gì cũng không giấu giếm.”
Chử Hoàng Hậu cười nói vui vẻ, đang cười, giọng điệu chợt đột ngột đổi thay. “Làm sao ngươi biết đứa con của Lý thị không phải do chồng bà ta thân sinh. Việc này vợ chồng họ cùng nhau giấu giếm, trời biết đất biết, ngay cả người lớn trong nhà họ Triệu cũng chẳng một ai hay biết, những nô tì liên quan năm đó cũng không còn lấy một người, làm thế nào ngươi biết được?”
Hứa Tinh Nương giật mình hoảng sợ, lập tức đáp: “Thiếp đã gài tai mắt bên cạnh Triệu Chi Toàn, biết được kẻ này có tật đoạn tụ, lại thêm thân mang ẩn tật, căn bản không thể sinh con.”
Chử Hoàng Hậu: “Triệu Chi Toàn nổi tiếng làm việc cẩn trọng, vậy mà lại bất cẩn đến thế.”
Hứa Tinh Nương: “Triệu Chi Toàn thích nuôi luyến đồng, tai mắt kia mười tuổi đã chịu sự nhục mạ hành hạ của hắn. Thiếp ban kế cho hắn, hắn mất ba năm rưỡi công phu, cuối cùng mới trở thành tâm phúc của Triệu Chi Toàn, lúc này mới thăm dò được bí mật sâu kín.”
Chử Hoàng Hậu cười mỉm: “Ngươi gả vào nhà họ Trần chưa đầy bốn năm, gài tai mắt bên cạnh đối thủ lại mất tới ba năm rưỡi, thật là mưu tính sâu xa, không thể coi thường.”
Trên trán Hứa Tinh Nương rỉ ra vài giọt mồ hôi, biết rõ người phụ nữ chí tôn này e rằng đã điều tra sạch sẽ gia cảnh lai lịch của mình. Chính gọi là phú quý hiểm trung cầu, lần này diện thánh, nàng phải một đòn trúng đích, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng Chử Hậu.
Nàng nghiến răng, ngẩng đầu đáp: “Ngành đoàn trà Giang Nam, vốn dĩ do bốn nhà Trần, Triệu, Ngô, Tôn đứng đầu. Hơn mười năm qua, bốn nhà cùng nhau định giá, bàn bạc hành quy, mọi người hòa khí sinh tài, sóng êm biển lặng. Thế nhưng sáu bảy năm trước, nhà họ Triệu đầu nhập vào tộc nhân của Phế hậu Vương thị, nhà họ Ngô nương tựa dưới trướng huynh trưởng Thôi Quý phi, liên tục chèn ép bài xích hai nhà Trần Tôn. Ba năm trước, nhà họ Tôn bất đắc dĩ phải rút khỏi ngành đoàn trà, dời toàn bộ gia quyến đi nơi khác. Phu quân thiếp trăm phương ngàn kế xoay xở, nhà họ Trần cũng chỉ vừa đủ duy trì.”
Chử Hoàng Hậu nhẹ nhàng vuốt ve bụng, cười nói: “Ngươi quá khiêm tốn rồi, mấy năm nay nhà họ Trần tuy rằng trong ngành đoàn trà ngày một suy thoái, nhưng các mối buôn bán khác ngươi lại làm đến mức thuận buồm xuôi gió đấy.”
Hứa Tinh Nương thản nhiên nói: “Hoàng hậu điện hạ minh giám, thiếp thân mang ơn lớn của phu quân, từ khi gả vào nhà họ Trần đã trù tính làm sao để chấn hưng gia nghiệp. Không chỉ có nhà họ Triệu, mà cả nhà họ Ngô lẫn nhà họ Tôn, thiếp thân cũng sớm gài tai mắt, nghĩ rằng tổng có một ngày dùng tới. Năm ngoái, tin tức phế truất hai vị hậu phi Vương Thôi từ Trường An truyền tới, thiếp liền biết thời cơ đã đến.”
Chử Hoàng Hậu cười: “Cũng là vận may của ngươi, nếu Vương phế hậu và Thôi Quý phi mãi không sụp đổ, ngươi gài có nhiều tai mắt hơn nữa cũng bằng thừa, mối buôn bán đoàn trà cuối cùng vẫn phải dâng hai tay nhường người.”
“Phế hậu cùng Thôi Quý phi nhất định sẽ thất thế.” Hứa Tinh Nương ngẩng đầu nhìn về phía ngai vàng chí tôn, “Bọn họ nhất định sẽ sụp đổ.”
Chử Hoàng Hậu không cười nữa, ánh mắt sắc bén tựa kiếm ra khỏi vỏ. Nàng nhô người về phía trước: “Nói tiếp đi.”
Hứa Tinh Nương nhả chữ rõ ràng: “Chỉ có triều đình xé lẻ xưng hùng một phương, mới nói ra câu ‘Vương cùng Mã chia nhau thiên hạ’ như thế. Bất luận là triều đại nào, hễ thiên hạ nhất thống, hoàng quyền vững chắc, chẳng có vị quân chủ nào dung túng thế tộc tiếp tục ngông nghênh ngang ngược. Văn Đức Hoàng Đế xưng định thiên hạ, văn trị võ công đã hơn ba mươi năm. Nay trong cõi yên bình, bách tính an khang, có một số quy củ cũng đã đến lúc phải thay đổi rồi.”
“Cái gọi là thế gia ngàn năm, triều đình trăm năm, trong lòng không ít người, thế tộc tôn quý còn hơn cả hoàng gia. Vương Hoàng Hậu và Thôi Quý phi đều xuất thân năm họ bảy họ lớn, bọn họ không sụp đổ, triều đình làm sao trói buộc được thế lực thế gia kéo dài mấy trăm năm lan tràn khắp nơi?”
“Thiếp thân duy chỉ có một mối lo ngại, ấy là nghe đồn Bệ hạ thể chất yếu ớt, sợ không kham nổi triều chính bộn bề.” Nàng cúi đầu, giơ tay bái lạy lần nữa, “May có Điện hạ phò tá Thánh nhân, đối với chúng thiếp là con em hàn môn mà nói, Nương nương không khác nào cha mẹ sinh ra lần thứ hai.”
Chử Hoàng Hậu không cất lời, mà bước vòng quanh Hứa Tinh Nương chậm rãi đi một vòng.
“Nhiều kẻ đọc sách nửa đời người còn chẳng nhìn thấu bằng ngươi.” Nàng u uất thở dài, “Trên người ngươi còn mang một luồng sát khí, cực kỳ hiếm thấy loại sát phạt quyết đoán này ở trên thân nữ tử, bản cung vô cùng ưa thích. Bản cung không thiếu người để sai bảo, thứ thiếu là một thanh đoản đao sắc bén, ngươi có cái bản lĩnh này không?”
Hứa Tinh Nương hít sâu một hơi, ngẩng đầu đáp: “Xin Điện hạ giáng ân dùng thử, thiếp thân tuyệt đối không làm Người thất vọng!”
Chỉ mất ba năm, Hứa Tinh Nương đã khiến Chử Hậu khen nàng không tiếc lời.
Những bí mật Chử Hậu muốn biết, những kẻ muốn giết, những lý do muốn thêu dệt, chẳng có cái nào Hứa Tinh Nương không nghĩ ra được. Một khi nàng có đủ quyền bính, nhân thủ cùng tiền tài, thậm chí có thể vượt qua cả thân vệ của Hoàng hậu, trực tiếp giải quyết êm đẹp mọi chuyện.
Quyền thần số một trong triều Vũ Văn Đông Các, vừa là cậu ruột của Hoàng đế, vừa là đại thần thác cô của Văn Đức Hoàng Đế, mấy mươi năm qua đức cao vọng trọng, gốc rễ sâu dày, không phải một ngày là có thể lay động. Hứa Tinh Nương hiểu rõ tâm ý Chử Hậu, Chử Hậu định bụng trước tiên chặt đứt từng vây cánh của Vũ Văn Đông Các, rồi mới ra tay với chính bản thân ông ta.
Nhưng chuyện này nói thì dễ làm mới khó, những lão thần thuộc phe cánh Vũ Văn kẻ nào kẻ nấy đều từng trải mưa gió, lão mưu thâm toán, không những cùng là tá mệnh đại thần, mà còn là công thần nguyên huân cùng Văn Đức Hoàng Đế dẹp yên bốn biển.
Thế là Hứa Tinh Nương đề xuất, không xung đột trực diện với phe Vũ Văn, mà giải quyết vấn đề vị trí Trữ quân trước.
Nàng nói: “Kẻ hiển quý trọng thần với người buôn bán gánh gồng chẳng có gì khác biệt, đều như nhau ở chỗ thấy lợi thì tiến, thấy hại thì lui. Nay phe cánh Vũ Văn đều trông chờ đăm đăm vào Thái tử Củng, một khi ngôi Trữ quân thay đổi, tất cả mọi người sẽ biết Vũ Văn thị đại thế đã mất, tới lúc đó có khối báng nhược điểm tự dâng đến trước mặt Nương nương.”
Chử Hoàng Hậu đại hỷ: “Kế này hay lắm, rất hợp ý ta.”
Hứa Tinh Nương nhân cơ hội nói tiếp: “Còn hai vị Hoàng tử do Thôi Quý phi sinh ra, nay cũng đã mười mấy tuổi, sắp sửa trưởng thành, đều là văn võ song toàn, thể phách cường kiện.” Nàng nhấn mạnh cực nặng vào tám chữ cuối cùng.
Chử Hoàng Hậu liếc mắt nhìn nàng, trong bốn con mắt đều mang thâm ý thầm hiểu với nhau.
Một lúc sau, nàng ha ha cười lớn: “Tinh Nương đúng là một kẻ diệu kỳ!”
Mấy tháng sau, Hoàng đế phế Thái tử Củng, đổi lập con trai trưởng Tông do Chử Hậu sinh ra làm Trữ quân, đồng thời đem Phế thái tử cùng hai vị Hoàng tử do Thôi Quý phi sinh ra, cả ba người cùng lúc bị đày đi thật xa nhận chức vụ hờ ở địa phương.
‘Sắp sửa trưởng thành, văn võ song toàn, thể phách cường kiện’. Vị Hoàng đế thân thể yếu ớt nhất định không chịu nổi mấy chữ này, Hứa Tinh Nương cảm thấy, bóng ma Huyền Vũ Môn e rằng sẽ đi theo vương triều này tới tận ngày tàn.
Chử Hoàng Hậu không phải người khắt khe hà tiện, cùng lúc với sự hài lòng mang tới chính là khoản thưởng lớn.
Quyền kinh doanh đặc hứa của quan phủ từng xa tầm tay nay đã dễ như trở bàn tay, năm xưa lúc cô lập không ai giúp đỡ, Tinh Nương còn có thể đưa mối buôn bán làm đến mức vô cùng khởi sắc, nay có con đường thông tận trời xanh, còn việc gì không thể làm.
Tinh Nương không còn thỏa mãn với việc chỉ làm một người vợ thương nhân, ngoài việc làm vài chuyện dơ bẩn không thể đem ra ánh sáng cho Hoàng hậu, nàng muốn tham gia vào lĩnh vực rộng lớn tráng lệ hơn, dọc ngang tung hoành, hô phong hoán vũ.
Mà lúc này, Trần lão gia cũng đã đến lúc dầu hao đèn tắt.
“Lang quân mang ơn cứu mạng lớn đối với thiếp thân, Ngài còn dặn dò gì nữa, Tinh Nương nhất định làm theo.” Tinh Nương nhìn người già tóc râu bạc phơ trên giường bệnh, thành tâm hứa hẹn.
Trần lão gia lắc đầu: “Giữa cô và tôi, đừng nói chuyện ơn huệ gì nữa. Năm xưa lão phu kéo cô một tay, cô đã sớm báo đáp gấp bội cho nhà họ Trần rồi. Nay đoàn trà Giang Nam, Trần thị một mình làm trùm, chỉ cần Đại lang không hồ đồ, phần phú quý này đủ cho nó mấy đời ăn mặc không lo. Còn về các mối buôn bán khác, đó là vất vả cô làm ra, không liên quan tới nhà họ Trần. Ngày mai tôi sẽ triệu tập tộc nhân, chia tách sản nghiệp cho rõ ràng. Sau khi tôi trút hơi thở cuối cùng, cô đi hay ở tùy nghi tự do, nhà họ Trần không thể lấy danh nghĩa thủ tiết mà trói buộc cô.”
“Đa tạ lang quân độ lượng.” Hứa Tinh Nương rũ mí mắt xuống, nàng thích người thông minh, “Lang quân yên tâm, thiếp thân nhất định sẽ chăm sóc các con của lang quân.”
Trần lão gia liên tục thở dài, “Đại lang hẹp hòi tham tàn, vô tài vô đức. Trong số các con của lão phu, duy chỉ có Đông Nương linh lợi thông minh, tiếc rằng lấy nhầm người, đều là lỗi của lão phu. Tinh Nương nếu có thời gian rảnh rỗi, hãy nâng đỡ săn sóc mẹ con Đông Nương nhiều một chút.”
Hứa Tinh Nương nhếch khóe môi, nghĩ thầm ông cũng biết cơ đấy.
Nhìn xa trông rộng trí tuệ như Trần lão gia mà còn không thể thoát khỏi định kiến trọng nam khinh nữ, thế đạo này còn có gì để trông cậy nữa chứ. Ngoại trừ Chử Hoàng Hậu, trên đời này e rằng chẳng còn ai giao trọng trách cho nữ tử nữa đâu.
Ngày đưa tang Trần lão gia, Hứa Tinh Nương đứng giữa làn tiền giấy ngợp trời, đột nhiên sinh ra vài phần hoảng hốt, chuyện cũ hiện ra mồn một trước mắt.
Huynh trưởng Tinh Nương từ trong bụng mẹ đã mang tật bẩm sinh, yếu ớt đến mức đứng lên cũng khó khăn. Cha Hứa từng liên tiếp nạp thiếp, tiếc rằng mãi không thể có thêm con nối dỗi, sau khi hi vọng sụp đổ chỉ đành tiêu tốn hết gia tài, dốc sức nối mạng cho con trai trưởng.
Năm đó, huynh trưởng nàng mắt thấy chống đỡ không nổi, cha mẹ Hứa không biết nghe từ đâu ra một phương thuốc dân gian, bảo rằng phải có linh chi trăm năm làm thuốc dẫn mới cứu được mạng, trong huyện nhỏ hẹp này, chỉ có duy nhất một nhà sở hữu linh chi trăm năm.
Đó là một lão lại già có tiền bị mất chức, hủ bại mà tàn bạo, là một tên xưng hùng xưng bá chốn thôn quê.
Nửa năm trước, lão buông lời cợt nhả thiếu nữ từng bị Tinh Nương mắng mỏ công khai, từ đó ghi hận trong lòng.
Ngày hôm đó, lão đem linh chi trăm năm đặt trước mặt cha mẹ Hứa, bảo muốn nạp Tinh Nương làm thiếp.
Đúng vậy, nạp thiếp, mà còn phải viết văn thư bán thân.
Nhìn đôi mắt đục ngầu tàn nhẫn của lão lại già kia, Tinh Nương biết nếu mình gả sang đó sẽ có kết cục thế nào.
Thiếp tì trước đó chọc giận lão lại già, bị đánh đến mình mẩy đầy vết thương rồi văng cho một đám ác gia đinh dâm ô hành hạ, mới mấy ngày đã trút hơi thở cuối cùng.
Tinh Nương đem những sự thật này nói cho cha mẹ, khổ sở van xin đừng đẩy nàng vào hố lửa, đổi lại chỉ là một trận chửi mắng của cha Hứa, còn mẹ Hứa thì nước mắt đầm đìa, còn bảo nàng hãy thể tấy cha mẹ, vì hương hỏa Hứa gia mà hy sinh bản thân đi.
Cha mẹ biết nàng đi đợt này chắc chắn chết không nghi ngờ, biết nàng sẽ chịu sự hành hạ khó mà tưởng tượng nổi, nhưng bọn họ vẫn muốn đẩy nàng vào hố lửa.
Trái tim Tinh Nương từ đó lạnh băng.
Ngày hôm sau, nàng quỳ trước mặt phú thương Trần lão gia, khẩn cầu ông cứu nàng một mạng.
Cái gọi là linh chi trăm năm, chẳng phải vật gì hiếm có vô giá, chỉ cần có bạc là mua được.
“Lang quân cưới tôi đi, tôi sẽ rất có ích đấy! Xin lang quân hãy tin tôi!”
Hứa Tinh Nương mười lăm tuổi dồn vào đường cùng, quỳ trên mặt đất liên tục dập đầu. Trời đất mênh mông, vốn liếng duy nhất của nàng chỉ có chính bản thân mình.
Cùng sống chung một huyện, Trần lão gia đã tán thưởng tài năng của Tinh Nương từ lâu. Ông biết Tinh Nương tuổi còn nhỏ đã tám mặt khéo léo, quán xuyến gia đình có phương pháp, tầm mắt cùng thủ đoạn càng không phải người thường có thể sánh bằng. Suy nghĩ hai ngày, ông tự mình đi sang huyện bên mua một cây ‘linh chi trăm năm’, cộng thêm một khoản lễ vật ăn hỏi hậu hình, cưới Tinh Nương làm vợ kế.
Nói bằng lương tâm, Trần lão gia đối với nàng không tệ, không những cứu nàng khỏi cảnh nước sôi lửa bỏng, mà còn cho nàng quyền hạn tự do hành sự. Dù vậy, nhớ lại đêm tân hôn Trần lão gia nằm đè trên người nàng thở hổn hển, nàng vẫn buồn nôn đến mức muốn mửa.
Nhưng Trần lão gia đã là lựa chọn tốt nhất của nàng vào lúc đó rồi.
Sinh ra làm phận nữ nhi, đúng là xui xẻo như thế.
Về sau tên lại già tàn bạo kia nghe tin Tinh Nương nhận được sự lọt vào mắt xanh của Chử Hậu, sợ đến mức run rẩy cầm cập, tưởng như toàn bộ mỡ thừa trên người đều rung bắn ra.
Tinh Nương không định trả thù riêng, mà gom đủ bằng chứng, trực tiếp tố cáo quan phủ với tội danh ‘tàn hại mấy mạng nô tì’. Quan phủ địa phương vì muốn nịnh bợ nàng, đặc biệt xử nặng, đổi án thắt cổ thành lăng trì, róc đủ mấy trăm dao trên người tên lại già đó mới xong.
Đó là lần đầu tiên trong đời Tinh Nương nếm trải mùi vị thơm ngon của quyền lực.
Nghe thấy tên lại già làm nhiều việc ác phát ra từng tiếng gào khóc thảm thiết, trong lòng nàng vô cùng sảng khoái, hệt như uống cạn chén rượu ngon, lại giống như từng gáo nước mát lành dội vào vết thương nóng rát căm hờn.
Nàng muốn có nhiều quyền lực hơn nữa, chỉ âm thầm làm vài chuyện dơ bẩn cho Chử Hoàng Hậu thì xa xa mới đủ.
Mấy tháng sau, Hứa Tinh Nương tận tay dâng một bản mật báo lên Chử Hoàng Hậu, “Hàn Quốc phu nhân nói thầm với vú nuôi tâm phúc rằng, Bệ hạ đã hứa hẹn cho bà ấy vào cung làm phi.”
Chử Hoàng Hậu thần thái tự nhiên, tùy ý nhìn cuộn giấy, “Ai cho phép ngươi giám sát tỷ tỷ của bản cung?”
Hứa Tinh Nương không trả lời, ngược lại nói: “Bệ hạ mấy ngày trước đột nhiên triệu Nội Thị Tỉnh Hồng Đại giám, hỏi nom việc sách phong ngoại mệnh phụ làm phi, xem ra Bệ hạ quả thực đã động tâm tư này.”
Chử Hoàng Hậu quẳng cuộn giấy sang một bên, “Ai cho phép ngươi lén lút rình mò Bệ hạ?”
Hứa Tinh Nương tiếp tục nói: “Hôm qua, thiếp đích thân tới phủ Hàn Quốc phu nhân một chuyến, khuyên lơn Hàn Quốc phu nhân từ bỏ ý định này.”
Khóe môi Chử Hoàng Hậu hiện lên một nụ cười lạnh lẽo, “Ai bảo bản cung không đồng ý việc này chứ?”
Hứa Tinh Nương: “Thiếp thân khuyên lơn Hàn Quốc phu nhân ‘An phận làm một ngoại mệnh phụ, bà muốn vinh hoa phú quý gì Hoàng hậu đều có thể ban cho bà. Châu báu nhà cao, đình đài lầu gác, nuôi thêm mấy tên diện thủ đẹp đẽ, tự do tự tại, chẳng phải tốt hơn vào cung làm phi bội phần sao’.”
“Đáng tiếc, Hàn Quốc phu nhân mở miệng ra là bảo khó lòng quên được ân tình của Bệ hạ, lại còn vặn vẹo với vi thần mấy điển cố. Nào là mẹ Hán Vũ Đế Vương Trĩ tiến cử em gái vào cung, nào là chị em Phi Yến Hợp Đức cùng vào cung cấm, đều là những giai thoại… Vi thần chịu không nổi tính nết đó, liền nói thẳng với Hàn Quốc phu nhân, trước kia quả thực có rất nhiều ‘giai thoại’ hai chị em cùng hầu hạ quân vương, sau này cũng vẫn sẽ có vô số ‘giai thoại’ như thế.”
“Nhưng Hoàng hậu điện hạ hoàn toàn không giống bọn họ, Hoàng hậu không cần cái giai thoại chó má gì hết, Hoàng hậu cần là quyền bính vững chắc, vạn phần không hỏng. Chỉ có thứ Hoàng hậu ban thưởng xuống, phu nhân mới được cầm lấy, thứ Hoàng hậu không cho, phu nhân không thể tự ý tranh giành.”
Chử Hoàng Hậu thu lại nụ cười thong dong, đăm đăm nhìn Tinh Nương hồi lâu.
Lâu sau, nàng thở dài khẽ khàng, “Chỉ có Tinh Nương hiểu bản cung, đến cả những trọng thần do bản cung tự tay cất nhắc như Vương Muội, đều cảm thấy việc này không có gì không được, chiều theo ý Bệ hạ thì đã sao, dẫu sao cũng là chị em ruột thịt, lợi hại gắn liền.”
Hứa Tinh Nương ngẩng đầu: “Lời này hoang đường! Cái gọi là lòng người khó đoán, nay Nương nương cùng Bệ hạ vợ chồng đồng lòng, không chút rào cản. Một khi Hàn Quốc phu nhân nhảy vào cuộc, lúc Nương nương thức khuya dậy sớm lao tâm chuyện quốc gia đại sự, Hàn Quốc phu nhân ngày đêm bên cạnh Bệ hạ, bên này tăng bên kia giảm, cục diện về sau làm sao giữ được như cũ?”
“Dẫu cho Hàn Quốc phu nhân coi nhẹ danh lợi, vậy con cái bà ấy thì sao, môn khách nô tì của bà ấy thì sao? Đợi tới khi con cái Hàn Quốc phu nhân khôn lớn, mỗi đứa lập gia đình, đều có phe phái và thế lực riêng, liệu có còn nghe theo sự sắp đặt của Nương nương như trước kia?”
“Nếu Hàn Quốc phu nhân sinh hạ Hoàng tử, các thế lực các bên khó tránh khỏi nảy sinh tâm tư khác. Theo thần thấy, trong chốn hoàng cung này, tất cả Hoàng tử Công chúa chỉ được phép chui ra từ bụng Hoàng hậu, bất kỳ ai khác cũng không được, dù cho đó là chị em ruột thịt của Nương nương!”
Khi nói những lời này, giọng điệu Hứa Tinh Nương nồng nhiệt, ánh mắt chân thành, cuồn cuộn khí phách một lòng trung thành vì chủ.
Đây là ván cược liều cả tính mạng của nàng.
Hàn Quốc phu nhân chắc chắn phải chết, chỉ xem Chử Hoàng Hậu sai ai đi làm vụ này.
Nếu như sai nàng đi làm, chứng tỏ trong lòng Chử Hoàng Hậu, Hứa Tinh Nương nàng cùng mấy kẻ làm việc dơ bẩn trong bóng tối kia chẳng có gì khác biệt, có thể vứt bỏ bất cứ lúc nào; còn nếu Chử Hoàng Hậu bảo nàng né tránh việc này, mới chứng minh nàng có điểm khác biệt so với người ngoài.
Trong mắt Chử Hoàng Hậu lóe lên tia sáng, “Đáng tiếc rồi, lời khuyên của Tinh Nương, tỷ tỷ đã không lọt tai.”
Mấy ngày sau, Hàn Quốc phu nhân vì bệnh qua đời đột ngột.
Hoàng đế khóc đến mức choáng váng đầu óc, gục đầu vào lòng Chử Hoàng Hậu, sụt xịt khóc lóc không ngừng.
Băng qua lớp lớp rèm châu, ánh mắt Hứa Tinh Nương chạm phải Chử Hoàng Hậu, hai bên đều tỏ tường trong lòng.
Hứa Tinh Nương phủ phục bái lạy, trán chạm xuống nền nhà bóng loáng như sơn, đây là biểu thị sự trung thành tuyệt đối, cũng là cảm kích Chử Hoàng Hậu đã không để tay nàng dính máu của Hàn Quốc phu nhân.
Hoàng đế nhìn nàng như thế, cứ tưởng nàng đang lo sợ vì nỗi đau đớn của quân vương. Ngài gạt đi giọt nước mắt, khá là cảm khái: “Bên cạnh Hoàng hậu có vô số người thế này, duy chỉ có Tinh Nương là cung kính thật thà, không chút dáng vẻ cậy sủng mà kiêu ngạo hoành hành.”
Chử Hoàng Hậu cười mỉm, hơi muốn đảo mắt khinh bỉ.
Lại ba năm nữa trôi qua, Vũ Văn Đông Các bỏ mạng diệt tộc. Mặc dù ít nhất trên bề nổi, trong triều không còn chính địch của Chử Hậu.
Chử Hoàng Hậu càng lúc càng tin tưởng Tinh Nương, không những giao quyền chỉ huy ám vệ cho nàng, mà còn cho phép nàng tự lập kim khố, nuôi dưỡng tử sĩ.
“Tinh Nương những năm này vì bản cung vào sinh ra tử, vốn nên như vậy.” Chử Hoàng Hậu tươi cười vẫy tay, “Lại đây, tiến gần chút nữa, bản cung hỏi ngươi, kẻ tên Chu Tư Thanh kia là gì của ngươi, bám lấy ngươi gần hai năm rồi nhỉ.”
Sự bình tĩnh mà Hứa Tinh Nương vốn tự hào lập tức bay biến tới chín tầng mây.
Chử Hoàng Hậu cười nói: “Bản cung biết tính nết của ngươi, nếu như gã họ Chu đó cố tình quấy rầy không lý do, ngươi đã sớm lấy mạng hắn rồi. Nói xem nào, rốt cuộc là có chuyện gì?”
Trong lòng Hứa Tinh Nương xẹt qua một đoạn ký ức xưa cũ hoài niệm.
Nàng là con gái gia đình nhà giàu thuộc tầng lớp hàn môn, tổ tiên từng làm quan vài đời, truyền tới thế hệ cha Tinh Nương, vẫn còn chút tiền của dư dả; Chu Tư Thanh là con em nhánh phụ của Chu thị Giang Nam, miễn cưỡng coi như dòng dõi cày đọc sách nối đời.
Hai nhà sống sát vách nhau, đôi trẻ thơ từ nhỏ đã quen biết, Chu Tư Thanh lớn hơn Tinh Nương hai tuổi. Nếu không có biến cố ngoài ý muốn, nhiều năm sau hai nhà hẳn sẽ kết làm thông gia.
Chu Tư Thanh ngày một lớn lên, ngày càng tuấn tú nho nhã, tài danh vang xa, lại chẳng biết học từ đâu ra tay nghề vẽ tranh vi diệu tới tột cùng. Tộc trưởng nhà họ Chu vô cùng tán thưởng đứa cháu xa này, không những thường xuyên tài trợ tiền bạc, mà còn dốc hết sức đưa Chu Tư Thanh vào thư viện nổi tiếng thiên hạ học tập. Về sau con trai duy nhất của ông ta chết yểu, lại càng nảy ra ý định nhận Chu Tư Thanh làm con nuôi kế tự.
Thái độ của cha mẹ họ Chu bắt đầu thay đổi, chỉ dựa vào tướng mạo tài hoa này của con trai, dẫu cho không cho làm con nuôi tộc trưởng, chờ tương lai đỗ đạt công danh, thừa sức cưới một tiểu thư khuê các gia thế cao sang, rạng danh tổ tông chứ sao.
Đợi tới năm Hứa Tinh Nương mười ba tuổi, cha mẹ nhà họ Chu sinh thêm được một con trai, cuối cùng mới đồng ý cho con trai trưởng sang làm con nuôi tộc trưởng.
Chu Tư Thanh ghé trên bờ tường, vui vẻ hớn hở nói với Tinh Nương, “Tộc trưởng bá phụ không hề giống cha mẹ nhà muội với nhà huynh, ông ấy tính tình khoáng đạt, coi nhẹ danh lợi. Ông ấy bảo rồi, chuyện hôn sự của huynh sẽ do tự huynh làm chủ!”
“Tinh Nương, huynh nhất định sẽ chăm chỉ đọc sách, đợi khi huynh đỗ đạt công danh, sẽ đến cưới muội!”
Chẳng mấy chốc, Chu Tư Thanh lên núi đọc sách, nửa năm sau được sơn trưởng dẫn đi du học, một năm rưỡi sau lên kinh ứng thí. Ba năm sau, hắn quả nhiên đỗ tiến sĩ khoa Minh Kinh, tuy nhiên đợi khi hắn trở về quê nhà, Tinh Nương đã gả cho một người thương nhân già làm vợ kế.
Chu Tư Thanh loạng choạng bước đi.
Bấy nhiêu năm hắn vẫn chưa lập gia đình, hai năm trước nghe tin Trần lão gia đã mất, liền lại tới tìm Tinh Nương, một lần nữa đề nghị cưới nàng làm vợ.
“Đúng là một lang quân si tình.” Chử Hoàng Hậu hiếm khi động lòng, “Hắn có công danh trên người, thế thì dễ làm rồi, bản cung phong ngươi làm Quốc phu nhân, tới lúc đó tổ chức một hôn lễ nở mặt nở mày. Ơ, ngươi cứ liên tục lắc đầu là có ý gì?”
“Thở dài, ngươi chắc là yêu gã Chu lang kia đến tột cùng rồi nhỉ, tự thấy bản thân không xứng. Tinh Nương, nghe ta khuyên một câu, dễ tìm bảo vật vô giá, khó kiếm kẻ có tình sâu, hai người các ngươi đã có ý với nhau, việc gì phải bận lòng ánh mắt phàm tục chứ.”
Tinh Nương mang nặng tâm sự ra khỏi cung.
Ngày hôm sau, nàng đích thân đi lùng bắt cựu bộ thuộc tiềm đệ của Phế thái tử, phát hiện trong nhà Tả bộc xạ đương triều có một hầm đất bỏ hoang, trong hầm đất lại nhốt một thiếu nữ mình mẩy đầy vết thương, cách thiếu nữ không xa, còn có một cái xác nam tử trẻ tuổi đang phân hủy.
Mùi hôi thối bốc lên ngút trời, đám dòi bọ trắng hếu bò lúc nhúc khắp vết thương của thiếu nữ cùng trên cái xác thối rữa kia, nhiều ám vệ vốn đã quen nhìn xác chết cũng bị tởm đến phát sợ, phải dội mấy thùng nước sạch lên người thiếu nữ mới dội sạch đống dòi bọ đang lúc nhúc.
Thiếu nữ sau khi tỉnh lại, mới nói rõ nguyên do ngọn ngành.
Nàng vốn là con gái nhà nông, gia đình nghèo khó không sống nổi, cha mẹ đem bán nàng vào kỹ viện. Làm nghề bán thân được vài năm, người bạn thanh mai trúc mã cùng thôn tìm tới cửa, đem số tiền vất vả tích góp nhờ đi tàu buôn mấy năm ra, bảo muốn chuộc thân cho nàng.
Thiếu nữ tướng mạo bình thường, ngoài việc có vài phần đanh đá ra thì chẳng có điểm nào nổi bật, vốn dĩ cũng chẳng kiếm được mấy tiền, có điều công tử nhà Tả bộc xạ thỉnh thoảng sẽ tới chiếu cố nàng, tìm chút thú vui tởm lợm mà người thường không ngờ tới.
Tú bà rất sảng khoái, định bụng nhận tiền rồi thả người, nào ngờ công tử nhà Tả bộc xạ biết chuyện này, thừa lúc ngà ngà say cũng đòi chuộc người. Tú bà nghĩ thầm đám công tử quan lại này tính nết thất thường, ai biết tỉnh rượu rồi có nhận nữa hay không, bèn để thiếu nữ tự chọn.
Thiếu nữ thu dọn hành lý đơn sơ, nắm tay chàng trai trúc mã quay đầu bước đi, không chút do dự.
Công tử nhà Tả bộc xạ sau khi tỉnh rượu thì nổi trận đình phong, cảm thấy mình bị mất mặt trước đám bạn nhậu, bèn sai gia đinh chặn đường bắt cóc hai người, nhốt vào hầm đất trong nhà.
Công tử nhà Tả bộc xạ trước tiên đánh hai người một trận tàn nhẫn để xả hận, sau đó ép thiếu nữ đổi lời, tự nguyện bán mình vào nhà Tả bộc xạ làm nô tì.
Thiếu nữ thấy tình hình không ổn liền muốn xuống nước, nào ngờ chàng trai trúc mã thà chết chứ không chịu.
Công tử nhà Tả bộc xạ quất một roi hỏi một câu, hỏi một câu chàng trai lại mắng một câu, hắn chửi bới Tả bộc xạ đạo mạo tự nhiên là tên ngụy quân tử, vậy mà lại nuôi ra đứa con mặt người dạ thú như thế này.
Công tử nhà Tả bộc xạ càng lúc càng tức giận, đánh đến kiệt sức rồi bỏ đi, bảo sẽ để họ chết đói khô.
Chàng trai trúc mã thương thế quá nặng, ngay trong đêm đó đã trút hơi thở cuối cùng.
Thiếu nữ dựa vào những giọt nước tuyết nhỏ xuống từ khe hở hầm đất mà khổ sở chống chọi suốt mấy ngày.
Xích sắt khóa hai người ở một đông một tây trong hầm đất, hai người nhìn thấy nhau nhưng không sao chạm vào nhau được.
Thiếu nữ dốc hết sức bình sinh bò về phía trước, nhưng mãi mãi không chạm tới được dù chỉ một góc áo của người yêu, cứ thế trố mắt nhìn hắn từ từ trút hơi thở cuối cùng, rồi thi thể dần dần phân hủy, hốc mắt cùng hộp sọ nứt vỡ mọc ra từng con dòi bọ.
Trên đời thực sự có địa ngục sao? Nàng đã ở ngay nơi đó rồi.
Từ đó trở đi, nàng không còn sợ bất cứ điều gì nữa.
Tả bộc xạ phạm đại tội mưu phản, bị tru di cả tộc.
Thiếu nữ vốn dĩ không có mối thù nào để báo, nhưng Tinh Nương để nàng trà trộn vào đám người hành hình, tự tay xử quyết công tử nhà Tả bộc xạ.
Không ai biết thiếu nữ đã đối phó với công tử nhà Tả bộc xạ như thế nào, khi nàng trở về với thân mình đầm đìa máu, nàng phủ phục quỳ bái dập đầu trước Tinh Nương, thề nguyện dùng cả đời để báo ơn.
Thế là, thiếu nữ này được giữ lại trong phủ Tinh Nương.
Nàng nhờ Tinh Nương đặt cho mình một cái tên mới, cái tên cha mẹ cùng tú bà cho nàng, nàng đều không muốn dùng lại nữa.
Tinh Nương nhìn tuyết vụn bay lấm tấm đầy trời: “Trời giáng tuyết lành, năm gặp đại cát, sau này cô hãy gọi là Tuế Nương đi.”
Từ đó về sau, những tử sĩ tâm phúc do nàng trọng dụng đều lấy họ ‘Tuế’, từ Tuế Nhất đến Tuế mấy mươi không chừng.
“Con gái nhà nghèo, cái số là như thế đó. Tôi đã sớm nhận mệnh rồi, nhưng huynh ấy không nhận mệnh. Huynh ấy bảo năm xưa giương mắt nhìn tôi bị bán vào kỹ viện, huynh ấy lực bất tòng tâm. Giờ đây, huynh ấy tuyệt đối không thể trố mắt nhìn tôi bị bán vào hố lửa lần thứ hai.”
Hốc mắt vốn dĩ đã trống rỗng của Tuế Nương rơi xuống những giọt lệ nóng, nàng ôm mặt khóc òa đau đớn: “Giá như biết duyên phận của chúng tôi ngắn ngủi thế này, tôi quyết chẳng thèm quản cái quy củ chó má gì hết. Tốt nhất cứ sớm cùng huynh ấy ở một chỗ, mặn nồng vài ngày thôi cũng là tốt lắm rồi!”
Tinh Nương lặng lẽ nghe, ngày hôm sau liền đi tìm Chu Tư Thanh: “Thiếp từng giết người, từng giết rất nhiều người, sau này nhất định vẫn còn phải vì Hoàng hậu nương nương mà giết người nữa, chàng còn dốc lòng muốn cưới thiếp không?”
Chu Tư Thanh không phải không hiểu sự đời, chỉ là tính tình hắn cởi mở lạc quan, lại sinh ra vận khí cực tốt, việc gì cũng có thể nhìn về hướng tốt đẹp.
“Hoàng hậu là vì quyền vị chưa vững, mới cần nàng làm những việc đó. Đợi đến khi Hoàng hậu vững như bàn thạch rồi, nàng còn giết người làm gì nữa, đến giết gà cũng chẳng cần! Tới lúc đó, chúng ta sống những ngày tháng vui vẻ khoái hoạt, nàng cũng học Ban học sĩ biên soạn cuốn sách, hoặc giả học Khố Địch phu nhân, hưng công thủy lợi, tạo phúc cho bách tính, có được không?”
Người được ánh mặt trời chiếu rọi, trên thân lúc nào cũng nảy sinh hơi ấm, dẫu cho là người lâu năm sống trong đêm tối như Tinh Nương, cũng bị lây lan sự vui vẻ lên, tưởng chừng như con đường tương lai ngập tràn hoa tươi cùng mưa sương ngọt ngào.
Hôn lễ vô cùng đơn giản, năm thứ hai sau khi kết hôn Tinh Nương sinh hạ một con gái, đặt tên là Chu Kỳ, trích từ Kinh Thi ‘Kỳ Áo’, ‘Chiêm bỉ Kỳ áo, lục trúc y y. Hữu phỉ quân tử, như thiết như tha, như trác như ma’.
Mấy năm đó là những ngày tháng hạnh phúc nhất trong cuộc đời Tinh Nương, vợ chồng tình sâu nghĩa nặng, con thơ đáng yêu, Chử Hoàng Hậu sau khi dọn sạch Vũ Văn Đông Các cùng phe cánh, cũng tiến vào thời kỳ quyền lực bình ổn, cùng Hoàng đế sánh ngang gọi là ‘Nhị Thánh’, quả nhiên không còn bao nhiêu việc dơ bẩn cần Tinh Nương làm nữa.
Hứa Tinh Nương tranh thủ thời gian quay về nhà một chuyến.
Huynh trưởng nàng bệnh vào tới tủy, cha Hứa mẹ Hứa biết con gái nay tay nắm đại quyền, khổ sở van xin con gái tìm thái y kiếm linh dược, bất luận thế nào cũng phải nối mạng cho con trai.
Tinh Nương cười mỉm rất hòa nhã, sau đó thong dong ngồi ở trong viện, nghe trong phòng truyền ra tiếng stên xiết đau đớn của huynh trưởng.
Tiếng stên xiết này từng là cơn ác mộng thời thơ ấu của nàng, nay lại hệt như đến Tần Lâu nghe kịch, nghe hay biết bao, khiến người ta trong lòng sảng khoái mê mẩn.
Huynh trưởng không lâu sau qua đời vì bệnh, cha Hứa mẹ Hứa đau đớn tột cùng, nhanh chóng cũng đi theo.
Hứa Tinh Nương một giọt nước mắt cũng không rơi, đem ba người gia đình họ chôn cất qua loa, chưa từng bái tế, vào lúc cha mẹ huynh trưởng cầu xin nàng hy sinh bản thân, bán mình cho tên lại già tàn bạo kia, nàng đã không còn người thân nữa rồi.
Mấy năm sau Ban học sĩ cáo lão về quê.
Trước khi đi, bà khuyên Tinh Nương: “Ta hiểu chí khí của ngươi, nhưng làm con dao của Thánh nhân không phải chuyện dễ dàng đâu, con đường này ngươi càng đi lâu, càng khó lòng thoát ra. Hãy ghi nhớ, lúc nên lui thì hãy lui!”
Chử Hoàng Hậu sau khi biết chuyện này, triệu nàng tới hỏi: “Ngươi muốn đi sao?”
Tinh Nương lắc đầu: “Vi thần không đi.”
Lại qua mấy năm, Khố Địch phu nhân tới cáo biệt Chử Hậu, bảo muốn mang quan quách chồng quá cố về quê, ở chốn làng quê dạy dỗ nuôi dưỡng con trai.
Trước khi rời Thần Đô, bà nắm tay Tinh Nương chân thành khuyên lơn: “Ngươi lúc này buông tay vẫn còn kịp đấy, ngươi vì Thánh nhân lập bao nhiêu công lao, Ngài sẽ hậu đãi ngươi. Ngươi bây giờ rút lui lúc nước xiết, có tiền tài tước vị, có chồng hiền con gái, phần đời còn lại sẽ thuận buồm xuôi gió.”
Chử Hoàng Hậu lại triệu nàng tới hỏi: “Ngươi muốn đi sao?”
Tinh Nương vẫn lắc đầu: “Vi thần không đi.”
Lại qua mấy năm nữa, Thái tử Tông qua đời vì bệnh, Chử Hoàng Hậu đón nhận kẻ thù hóc búa nhất trong đời mình, con trai ruột của nàng, Thái tử Anh.
Nhìn từ bất kỳ phương diện nào, Thái tử Anh cũng đều là vị Trữ quân không thể chê vào đâu được, thân thể cường tráng, văn thao võ lược, quả cảm minh xét, trong triều một tiếng hô vạn tiếng ứng, khá có phong thái di phong của Văn Đức.
Thế nhưng thiên hạ chỉ có thể có một người phát hào thi lệnh, dẫu cho là mẹ con, một khi đã bước chân vào đấu trường sinh tử quyền lực, cũng chỉ có thể sống sót một người.
Tinh Nương lại bắt đầu bận rộn, nàng phải nắm rõ toàn bộ thế lực sáng tối của Thái tử Anh, quyết không thể trao cho Thái tử Anh cơ hội phát động biến cố Huyền Vũ Môn lần thứ hai.
Trong phút chốc gió giục mây vần, trên dưới triều đình lẫn nhân gian đua nhau chọn phe.
Chu Tư Thanh lần đầu tiên ngỏ lời với Tinh Nương, hy vọng nàng biết rút lui đúng lúc, lúc đó hắn đã nằm trên giường bệnh mấy tháng trời, xương bệnh rệu rã, gầy yếu không chịu nổi.
Hắn đau đớn khẩn cầu vợ: “Chúng ta đi thôi, đừng dính dáng vào việc này nữa. Thái tử anh minh đoan chính, Hoàng hậu muốn trừ khử người, căn bản không phải vì xã tắc thiên hạ, chỉ đơn thuần vì tư dục. Bà ta lòng tham vô đáy, sẽ không bao giờ thỏa mãn đâu, nàng muốn vì bà ta mà giết người tới bao giờ nữa? Để nắm giữ quyền lực dài lâu mãi mãi, Hoàng hậu chuyện gì cũng có thể làm ra được, bà ta sẽ kéo nàng xuống mười tám tầng địa ngục đấy!”
“Được được, chàng đừng sốt ruột trước, nằm xuống uống thuốc đi, chuyện này đợi ta về rồi tính tiếp.” Tinh Nương bận đến mức không rảnh bận tâm việc khác, tùy tiện chống chế vài câu, rồi vội vã ra khỏi cửa.
Một tháng sau, trên đường đi truy sát tàn dư của Thái tử nàng nhận được tin báo gấp từ trong nhà: “Lang quân nguy cấp, xin gia chủ mau chóng trở về.”
Tinh Nương trong phút chốc trời đất quay mòng mòng, nhưng nàng nghiến răng chống đỡ, để tránh quan lại địa phương lén lút bao che, nhẫn nại đợi cho đến khi đám phản đảng sa lưới toàn bộ mới rời đi, sự chậm trễ này mất trọn ba ngày.
Cưỡi ngựa phi nước đại về đến nhà, thứ đón chờ nàng là một linh đường một màu trắng xóa, cùng với đống bản thảo thư họa đã bị đốt thành tro tàn.
Sau khi đuổi đám người nịnh bợ luồn cúi đi, tang lễ của Chu Tư Thanh ngày càng vắng vẻ lạnh lẽo.
Hứa Tinh Nương nghi hoặc, nàng nhớ Chu Tư Thanh từ nhỏ nhân duyên cực tốt, bất luận ở đâu cũng có thể kết giao được vô số bạn bè.
Đêm trước ngày đưa tang, tộc trưởng phu nhân của nhà họ Chu đột nhiên vội vã tới nơi, tự tay thắp ba nén hương, rơi vài hàng lệ.
Bà là bác gái xa của Chu Tư Thanh, cũng là người mẹ sau khi nhận kế tự.
“Mọi người đều nói, nhận con nuôi kế tự phải chọn đứa còn nhỏ tuổi, từ nhỏ nuôi nấng lên mới có tình nghĩa, làm gì có ai nhận kế tự đứa thiếu niên mười mấy tuổi bao giờ.”
Mẹ Chu nhìn linh vị, nụ cười bi thương: “Ta không thèm chấp họ, ta cùng lang quân mấy mươi năm vợ chồng, thường xuyên cãi nhau, khó khăn lắm mới có một lần chí đồng đạo hợp, đều cùng muốn Tư Thanh làm con trai.”
“Tư Thanh là đứa trẻ tốt biết bao nhiêu, khiêm nhường có lễ, khoáng đạt thẳng thắn, có nó ở trong nhà nói nói cười cười, trời đất cũng sáng sủa ra, lão tổ tông cơm cũng ăn thêm được một bát, cả phủ trên dưới chẳng ai không thích nó.”
“Ta lén lút nhờ người xem bói cho Tư Thanh, đại sư bảo Tư Thanh bẩm sinh là mệnh số rất tốt, duy chỉ có hôn nhân là một con đập lớn, nhưng chỉ cần nó ngoan ngoãn nghe lời cha mẹ bề trên sắp đặt, đời này nhất định bình an thỏa thê, tròn đầy không lo.”
“Thế mà nó nhất quyết không nghe, cứ đòi cưới cô cho bằng được!”
Mẹ Chu kìm không được tuôn trào nước mắt: “Mấy năm nay vì cô hung danh bên ngoài, hai tay nhuốm đầy máu, bạn bè đồng môn của Tư Thanh đều không qua lại với nó nữa. Hai năm nay cô giúp Hoàng hậu hãm hại Thái tử, dọn dẹp quan lại dưới trướng Đông Cung, Tư Thanh lại càng bị cô lập!”
“Ân sư của Tư Thanh vốn dĩ coi trọng nó biết bao nhiêu, nhẫn đau đuổi nó khỏi sư môn; còn cả lang quân nhà ta nữa, gượng ép chút hơi tàn cuối cùng gạch tên Tư Thanh khỏi dòng tộc, đến cả chịu tang cũng không cho Tư Thanh tới.”
“Mấy chuyện này cô đều không biết đúng không, Tư Thanh sợ cô nổi sát tâm, cho nên liều mạng giấu giếm. Nó giấu giỏi như thế, mọi đau đớn đắng cay đều tự mình nuốt xuống, vậy mà cô đến cả mặt cuối cùng của nó cũng không gặp kịp, cô rốt cuộc có trái tim có lòng dạ hay không?!”
Tiễn mẹ Chu đi, Hứa Tinh Nương một mình ngồi trong thư phòng trống trải.
Chu Tư Thanh trước lúc lâm chung, đem toàn bộ thư họa bản thảo của mình, bao gồm cả những bức trước đó xin lại từ bạn bè người thân, đốt sạch không sót một tờ.
Hứa Tinh Nương hiểu ý của hắn, một thân tài học của hắn đều do cha mẹ bề trên cùng ân sư dốc lòng vun đắp nuôi dưỡng mà nên. Hắn đã phụ sự kỳ vọng của họ, bèn đem toàn bộ tài học trả ngược trở về.
Chu Tư Thanh trước lúc trút hơi thở cuối cùng đốt từng tấm bản thảo, nhưng không để lại cho nàng dù chỉ một câu nửa chữ, có phải đang oán hận nàng hay không?
Cuộc đời này, nàng đòi hỏi từ hắn quá nhiều, nhưng lại chẳng thể trao cho hắn bất cứ thứ gì, thậm chí không gặp được hắn mặt cuối cùng. Nàng tự phụ không gì không biết, nhưng lại chẳng hề nhận ra nỗi đau đớn của người chung gối chăn.
Nàng nhớ lại lúc nhỏ, Chu Tư Thanh đọc sách ở học đường, về nhà liền dạy lại từng chữ từng câu cho nàng.
Dưới giàn hoa thấp thoáng, hai đứa trẻ ngồi sát vai nhau, tiếng trẻ thơ ngân nga vần điệu, tình cảnh này tưởng chừng như mới vừa xảy ra chưa lâu.
Chớp mắt một cái, nửa đời người đã trôi qua, chỉ còn trơ trọi tiếng thở dài cảm thán.
Cùng một năm Thái tử Anh bị phế truất, Tinh Nương mất đi chút mềm mỏng cuối cùng nơi đáy lòng, từ đó về sau cả đời nàng chỉ khoác áo đen.
Hứa Tinh Nương vào cung diện thánh.
Chử Hoàng Hậu nhìn gương mặt xám bạch lạnh nhạt của nàng, im lặng không nói một lời.
Bên ngoài truyền lại một chuỗi tiếng cười giòn tan như chuông bạc, xuyên qua khung cửa sổ mở toang, bọn họ nhìn thấy Thái tử phi Đỗ thị mới nhậm chức vỗ vỗ cái bụng bằng phẳng chậm rãi bước đi, Công chúa Vĩnh Ninh tay xách roi ngựa vừa nhảy vừa nhót đuổi theo, sau lưng là một dải dài các tiểu cung nga hoạt bát mỹ lệ như hoa tươi.
Công chúa Vĩnh Ninh đuổi kịp Đỗ thị: “Nghe Tam huynh nói, Thái tử phi có thai rồi, thật không?”
Nhan sắc Thái tử phi so với mẫu đơn ngày xuân còn kiều diễm hơn, nàng không giấu nổi vẻ tự đắc, nũng nịu nói: “Ôi chao, thiếp thân rõ ràng bảo Thái tử nói muộn một chút, Thái tử thật là! Ồ đúng rồi, thiếp thân còn chưa chúc mừng đại hỷ của Công chúa, Mộ Dung phò mã phẩm mạo song toàn, đúng là lang quân bậc nhất thiên hạ rồi!”
Hai người vừa đi vừa nói, tiếng cười dần dần xa xăm.
“Nhìn chúng nó vô ưu vô lo, thật tốt biết bao.” Chử Hoàng Hậu buông một tiếng thở dài.
Hứa Tinh Nương thản nhiên nói: “Công chúa cùng Thái tử phi có thể vô ưu vô lo như thế, là bởi vì Thánh nhân đã gánh giúp bọn họ toàn bộ sóng gió bão bùng. Nếu không nhờ Thánh nhân nắm chắc vị trí Hoàng hậu, hậu cung lại thêm một sủng phi nữa, Công chúa cùng Thái tử phi liệu còn vô tư như thế không. Hoàng tử công chúa do Thôi Quý phi sinh ra nay còn ở đâu? Phế thái tử Củng đã sớm cỏ xanh mọc đầy nấm mồ rồi.”
Chử Hoàng Hậu mỉm cười, chợt nói: “Tinh Nương, ngươi muốn cái gì? Tiền tài, thực ấp, điền trang, ngươi đã có đủ cả rồi. Ngươi vì trẫm làm vô số việc như thế, hết lần này tới lần khác từ chối ra đi, rốt cuộc ngươi muốn cái gì? Bản cung rốt cuộc không thể cho ngươi cắt đất ban phong, nay thưởng không còn gì để thưởng, bản cung thật sự không biết phải đối mặt với ngươi ra sao nữa.”
Hứa Tinh Nương chậm rãi tiến lên, xốc hai ống tay áo dài lên, lộ ra cổ tay trắng ngần.
Chử Hoàng Hậu kinh hãi thốt lên: “Đây là làm sao?”
Chỉ thấy trên hai cổ tay chằng chịt vết thương, ngang dọc không biết đã bị rạch bao nhiêu dao, vết sẹo đã cũ kỹ, rõ ràng là chuyện của nhiều năm về trước.
Hứa Tinh Nương giơ hai cổ tay lên: “Huynh trưởng sinh ra bẩm sinh thiếu hụt, thể yếu lắm bệnh, thiếp lại thân thể cường tráng, trăm bệnh không nhiễm, học cái gì cũng công nửa nhân đôi. Thầy cúng thầy phù bảo rằng, sự thông minh tài trí cùng thể phách khỏe mạnh của vi thần vốn dĩ phải thuộc về huynh trưởng, là do vi thần đã hút sạch vận khí của huynh trưởng, nhưng thiếp rõ ràng sinh sau huynh trưởng ba năm, hai năm thiếp còn chưa sinh ra đời đó, chứng bệnh suy yếu của huynh trưởng rốt cuộc là vì nguyên do gì?”
“Thế nhưng cha mẹ lại tin sái cổ vào lời này, đinh ninh là thiếp đã cướp mất mệnh số tốt của huynh trưởng. Từ nhỏ đến lớn, vi thần không biết đã uống bao nhiêu bát nước bùa, làm bao nhiêu buổi cúng bái. Cha mẹ không cách nào làm thiếp với huynh trưởng đổi mệnh cho nhau, đành phải lùi lại tìm cách khác. Mỗi lần huynh trưởng phát bệnh, liền rạch cổ tay vi thần xả máu, để huynh trưởng sống sột uống máu tươi của em gái ruột thịt, nhằm mong chữa khỏi bệnh tật.”
“Rạch đứt da thịt đau đớn biết bao nhiêu, vết thương trên cổ tay vừa khép miệng lại rạch, khép miệng lại rạch, vết thương vĩnh viễn không đóng vảy được. Vi thần hồi nhỏ hễ nghe thấy tiếng huynh trưởng rên siết than khóc, liền sợ đến mức co rúm khóc thút thít, gan mật khiếp sợ. Cho đến khi huynh trưởng ngửi thấy mùi máu là buồn nôn, không sao uống nổi nữa, vi thần mới thoát khỏi kiếp nạn này.”
“Chỉ vì vi thần là phận nữ nhi, thông minh lanh lợi là sai, thân thể khỏe mạnh trăm bệnh không nhiễm lại càng là sai; còn vì huynh trưởng là phận nam nhi, yếu ớt như gà là do tạo hóa trêu ngươi, ngu đần tàn độc lại là tình có thể tha thứ, trong thiên hạ làm gì có cái đạo lý như thế!”
“Tiêu tốn hết gia tài, cầm nhà bán con gái, cũng phải giữ bằng được con trai nối dỗi tông đường, căn mạch hương hỏa thực sự quan trọng đến thế sao?!”
Tinh Nương tiến lên một bước, trong hai mắt tưởng như có ngọn lửa bùng bùng thiêu đốt: “Thánh nhân không cần phiền não việc phải thưởng vi thần ra sao, vi thần chỉ muốn ở bên cạnh Ngài, nhìn xem Thánh nhân với thân phận nữ nhi, rốt cuộc có thể đi xa đến đâu, đứng cao thế nào! Vi thần nguyện đời này báo đáp Thánh nhân, dẫu cho tiền đồ khó liệu, kết cục là tan xương nát thịt, vi thần cũng phải đi tiếp theo đúng tâm ý của mình!”
Chử Hoàng Hậu đột ngột đứng dậy, siết chặt lấy bờ vai nàng: “Tốt lắm Tinh Nương, thiên hạ rộng lớn, chỉ có tâm trí hai người quân thần ta ở cùng một chỗ! Bọn họ ngày ngày chửi rủa bản cung là mái gáy báo sáng, bản cung làm liều càng phải làm ra vài chuyện kinh thiên động địa cho bọn chúng trố mắt ra xem!”
Sau ngày hôm đó, Hứa Tinh Nương cuối cùng đã trở thành tâm phúc thực sự của Chử Hoàng Hậu, quyền thế ngút trời, không gì không tới.
Mấy năm sau, Hoàng đế băng hà, Thái tử Mạo nối ngôi, Chử Hoàng Hậu trở thành Chử Thái hậu.
Chử Hậu vuốt ve ấn tỳ sử dụng nhiều năm, buông lời thở dài quyến luyến: “Tinh Nương, lẽ nào bản cung thực sự phải trả lại quyền trị quốc cho Tân hoàng sao?”
“Trả cái gì.” Hứa Tinh Nương lạnh nhạt nói, “Cả nhà Đỗ thị gà chó lên trời, bọn chúng cũng xứng sao?”
Chử Hậu ha ha cười lớn: “Tinh Nương à Tinh Nương, ta không có cô thì làm sao cho ổn đây. Đúng rồi, Kỳ Nương sau khi thành hôn sống thế nào?”
Hứa Tinh Nương hơi chau mày: “Hai vợ chồng không màng thế sự, mỗi ngày ngâm thơ kẻ lông mày, xem chừng khá là khoái hoạt.”
Chử Hậu cảm khái: “Kỳ Nương sao lại không giống cô chút nào thế nhỉ? Tâm tính, tài năng, chẳng dính dáng gì đến một mảy may.”
Hứa Tinh Nương: “Vi thần đã nghĩ thông rồi, cứ để họ tự đi mà khoái hoạt.”
Chử Hậu quả quyết nói: “Hy vọng Vĩnh Ninh cũng có thể khoái hoạt như thế.”
Sang năm, Chử Hậu phát động chính biến thành công, đem Lệ Mạo phế làm Lăng Dương Vương, giáng khỏi Thần Đô, lập con trai nhỏ Lệ Du làm Tân quân.
Trong ngoài triều đình một thời gian si mị sóng ngầm cuộn trào, võng lượng ẩn nấp sâu thẳm.
Chử Hậu ngồi chễm chệ trên ngai vàng, lạnh lùng nói: “Mộ Dung thị có ý định mưu phản, phò mã biết mà không báo. Vĩnh Ninh ở ngoài điện quỳ xin lâu lắm rồi, nhưng ta cho rằng phò mã tội ngang đồng mưu!”
Hứa Tinh Nương: “Thánh nhân chớ giận, chàng rể tốt của vi thần cũng bị dính líu vào trong đó rồi, có điều vi thần đoán nó bị người ta che mắt, bị lừa gạt lôi vào cuộc.”
Chử Hậu: “Cô dự định làm thế nào?”
Hứa Tinh Nương thản nhiên nói: “Loại ngu đần này không biết về sau còn chuốc ra thêm tai họa gì nữa, giữ lại chẳng ích gì. Kỳ Nương sẽ đau lòng một thời gian, nhưng nó về sau vẫn sẽ gặp được lang quân hợp ý hơn.”
Chử Hậu mỉm cười: “Tâm trí hai quân thần ta lại nghĩ cùng một hướng rồi.”
Mấy ngày sau, Mộ Dung phò mã chết trong thiên lao.
Ngay đêm hôm đó, Hứa Tinh Nương bưng một chén ‘Loạn Ly Thương’ đặt trước mặt Thôi Minh Trinh, lạnh nhạt nói: “Yên tâm, không có đau đớn đâu, hệt như đi ngủ mà thôi.”
Thôi Minh Trinh khóc lóc đầm đìa nước mắt nước mũi, khổ sở van xin: “Kỳ Nương đã mang thai rồi, cho con gặp đứa trẻ một lần, còn mấy tháng nữa đứa trẻ ra đời rồi, cho con nhìn nó một cái đi!”
Hứa Tinh Nương cười lạnh: “Chỉ dựa vào chút gan thỏ đế này của ngươi, cũng dám học đòi bàn luận triều chính? Ngày tháng êm đèm không muốn sống, cứ thích tìm đường chết. Nay sự việc thất bại rồi, ngươi đáng ra phải đem thân hiến tế, khóc lóc cái nỗi gì!”
Ở phía bên kia cánh cửa, Chu Kỳ bị Tuế Nương cùng đám người đè chặt lấy.
Nàng liên tục giãy giụa, giọng khàn đặc xin xỏ: “Mẹ, cho Thôi lang một con đường sống đi! Chúng con từ đây xa xứ biệt hương, ẩn tính chôn danh, sống những ngày tháng cơm rau trà nhạt! Cầu xin mẹ, mẹ tha cho chúng con đi!”
Hứa Tinh Nương cười lạnh liên tục: “Hai đứa từ nhỏ cẩm y ngọc thực, mỗi ngày thiếu một đồng tiền hương trầm là sống không nổi, còn nói cái gì cơm rau trà nhạt! Tuế Tam đừng lề mề nữa, mau ra tay đi.”
Tuế Tam tiến lên vài bước, thủ pháp thành thạo đổ rượu độc vào họng Thôi Minh Trinh, lúc này Tuế Cửu còn chưa bị hỏng mắt đang bưng khay đứng bên cạnh hầu hạ.
Chu Kỳ tận mắt chứng kiến trọn vẹn cảnh tượng này, hệt như đứa trẻ bị dọa cho khiếp đảm quá mức, há to miệng không phát ra nổi tiếng động nào.
Hứa Tinh Nương bước tới trước mặt con gái, bình tĩnh nói: “Đừng có học đòi loại yếu ớt vô dụng khóc lóc ỉ ôi đó, sau này mẹ sẽ tìm cho con một lang quân tốt hơn. Lòng dạ rắn rỏi lên một chút, trên đời này chẳng có con đập nào là không qua được.”
Ánh mắt Chu Kỳ đờ đẫn mà mơ hồ, nàng cười lên điên dại: “Mẹ, có phải người cảm thấy, chỉ có nữ tử nhạy bén quyết đoán như người và Bệ hạ, mới xứng đáng được sống tốt? Còn loại phế vật yếu đuối ngu đần như con thì chỉ đành việc việc chịu sự phó thác xoay vần của người?”
Nói xong câu này, nàng liền cắm đầu ngã vật ra xỉu đi.
Tuế Nương có chút bất an: “Làm thế này e là không ổn chứ.”
Hứa Tinh Nương: “Có gì mà không ổn.”
Tuế Nương nói nhỏ: “Năm xưa nô tì cũng từng trơ mắt nhìn người yêu trút hơi thở cuối cùng như thế.”
Hứa Tinh Nương chau mày: “Thế này sao mà giống nhau được. Lang quân của ngươi vì ngươi thà rằng bị đánh chết tươi, còn Thôi Minh Trinh cái đồ bất tài này, học đòi phong nhã, biết rõ mấy kẻ đó đối với Thái hậu có nhiều lời bất kính, mà vẫn dám kết giao, đây chính là bất trung với Kỳ Nương!”
Tuế Nương thở dài nhẹ: “Nô tì nhìn Kỳ Nương lớn lên, tính tình cô cậu ấy nhu mềm yếu đuối, không giống phu nhân tẹo nào, nô tì sợ…”
“Chẳng có gì phải sợ, qua vài năm là cái gì cũng coi nhẹ thôi.” Hứa Tinh Nương đoán chắc.
Mãi đến khi Chu Kỳ tỉnh lại, Hứa Tinh Nương mới phát hiện có điểm bất thường.
Nàng lúc thì ngây dại cười điên, lúc thì khóc lóc không ngắt đoạn, lúc lại tự nói một mình, thỉnh thoảng còn quên mất Thôi Minh Trinh đã chết, đi khắp nơi hỏi nom ‘Trinh lang mua hương liệu về chưa’, ‘Trinh lang có ở thư phòng không’, lúc nặng hơn thậm chí quên mất Chu Tư Thanh đã qua đời nhiều năm, tay ôm hoa tươi cười hớn hở ‘Hôm nay cha vẽ tranh sao, Kỳ Nương đến pha chế màu vẽ cho cha nhé’.
Hứa Tinh Nương hoảng hốt lớn, gần như khiêng cả Thái y viện tới nơi, thế nhưng qua nhiều chẩn đoán, đều chỉ có duy nhất một kết luận: bị kinh hoảng quá độ, đau thương vượt mức bình thường, thần trí chịu kích thích nghiêm trọng.
Tục xưng: Điên rồi.
Hứa Tinh Nương không thể tin nổi, qua nhiều lần chẩn đoán đành phải chấp nhận thực tế.
Đòn đả kích này bảo không lớn là không đúng, nàng không khỏi tự phản tỉnh: “Tuế Nương, cô nói xem có phải ta quá đỗi cứng đầu ngang ngạnh rồi không.”
Tuế Nương không còn lời nào để nói, chỉ đành an ủi: “Kỳ Nương vẫn còn mang thai mà, biết đâu sinh hạ đứa trẻ ra là lại bình phục thôi.”
Hứa Tinh Nương gượng gạo xốc lại tinh thần: “Đúng, ta vẫn còn cháu.”
May sao Chu Kỳ điên thì điên, nhưng chỉ là điên hiền, chứ không phải điên cuồng, hành động điên dại nhất cũng chỉ là thì thầm trò chuyện với một Thôi Minh Trinh không tồn tại, chứ không hề có hành động mãnh liệt nào gây nguy hại tới thai nhi.
Bất luận việc nhà ra sao, thời cục biến động dữ dội.
Chử Thừa Cẩn ba ngày hai bận dâng “điềm lành”, Chử Lập Cẩn liên tục cổ động “thuyết thiên mệnh Chử thị”, dã tâm muốn đoạt quyền xưng đế của Chử Hậu đã lộ ra không chút giấu giếm, trong triều ngoài dân chúng xôn xao náo động. Chẳng mấy chốc khói lửa bốn bề, tông thân họ Lệ đua nhau dấy binh, mắt thấy thiên hạ sắp sửa đại loạn.
Chử Hậu trong Phượng Nghi Điện bồn chồn đi qua đi lại: “Tinh Nương, ngươi nói xem có phải bản cung nên thỏa mãn với việc Thái hậu buông rèm nhiếp chính, nay khói lửa bốn bề, ngộ nhỡ gấm vóc giang sơn này tàn lụi trong tay bản cung thì sao?”
Hứa Tinh Nương lòng cứng như sắt, không hề lay chuyển: “Tư Mã thị phản bội lời thề Bến Lạc, mưu đoạt thiên hạ Tào Ngụy, có từng nghĩ tới giang sơn tàn lụi? Tùy Khai Hoàng mưu đoạt ngai vàng của con rể, tàn sát hoàng tộc Vũ Văn, có từng nghĩ tới giang sơn tàn lụi? Vì sao nam tử khuấy động phong ba làm cho thiên hạ đại loạn thì chẳng chút e dè, mà tới lượt nữ tử thì lại lắm điều e ngại!”
Chử Hậu hít sâu một hơi: “Tinh Nương nói phải, trẫm không thể yếu mềm vào lúc này. Mối bận tâm lúc này là làm sao khống chế cục diện, chứ không phải chần chừ do dự! Tinh Nương lại đây, xem trẫm điểm ai đi Dương Châu bình định phản loạn thì tốt. Sở Vương đệ thế nào?”
Hứa Tinh Nương lật xem đống cuộn sổ sách chồng chất, gật đầu nói: “Thánh nhân minh giám, Sở Vương rất tốt.”
Chử Hậu: “Tốt nhất điểm thêm hai vị phó tướng, … đi phò tá Sở Vương.”
Hứa Tinh Nương lập tức nói: “Thần cử tiến hai người, Lý Cố, Trần Truyền Chi. Kẻ trước có thù cũ với anh em Ninh thị, kẻ sau hoàn toàn nhờ Thánh nhân cất nhắc mới có ngày hôm nay, đối với Thánh nhân trung thành tuyệt đối.”
Chử Hậu đại hỷ: “Tốt!”
Mấy tháng sau, Sở Vương dẹp yên loạn Dương Châu, Vương Muội bị đền tội, Trần Lệnh Tắc bị giết cả nhà, quần thần im phăng phắc như ve sầu mùa đông.
Vạn sự chuẩn bị thỏa đáng, trong triều không còn ai cản trở Chử Hậu xưng đế.
Mấy ngày sau khi đại lễ đăng cơ kết thúc, Chu Kỳ dưa chín cuống rụng, thuận lợi sinh hạ một bé gái khỏe mạnh.
Đứa trẻ này ít khóc nhiều ngủ thích ăn, ngoan ngoãn đáng yêu, tay chân nhỏ nhắn cứng cáp có lực, trêu nhẹ hai cái là cười khúc khắc, tiếng cười ngây thơ non nớt hệt như làn gió xuân đầu tiên sau kỳ đông giá rét dài dằng dặc, trong phút chốc làm tan chảy bầu không khí băng giá chết chóc ở phủ Ngụy Quốc phu nhân.
Hứa Tinh Nương nhìn Tuế Nương cài đầy hoa tươi trên đầu, trêu chọc một câu: “Cô xưa nay có bao giờ trang điểm đâu.”
Tuế Nương sờ sờ búi tóc: “Không đẹp sao.”
“Giống như con yêu tinh già.”
Tuế Nương ôm lấy Hoan Tử bước ra phía sân vườn: “Phu nhân đúng là chẳng có tí tình tứ nào, không giống Hoan Tử nhà chúng ta, biết cái gì đẹp, cái gì ngon. Ô ô, Hoan Tử ngoan, hái thêm mấy bông hoa nữa cài lên cho lão nô nhé.”
Nhìn ngắm gương mặt non nớt cùng đôi mắt trong trẻo của đứa trẻ sơ sinh, trái tim Hứa Tinh Nương mềm xèo như muốn tan chảy. Có lẽ chính vì chút lòng mềm yếu ấy, nàng mới đồng ý giao dịch với Bùi Vương phi, dùng con đường sống của cha con Sở Vương để đổi lấy bức tranh duy nhất còn sót lại trên cõi đời của Chu Tư Thanh.
Một là, qua nhiều lần điều tra đối chiếu, Sở Vương quả thực hoàn toàn không hay biết về hành vi của Bùi Vương phi, càng chưa từng dính dáng vào đó; hai là, cho dù về sau Sở Vương có hành động bất thường, nàng lập tức có thể ra tay nhổ cỏ tận gốc.
Sở Vương đã là kẻ số một số hai trong số chư vương họ Lệ hiện nay, Hứa Tinh Nương còn chẳng để vào mắt, xử lý đám tông thân còn lại đối với nàng chẳng qua cũng chỉ như giết gà mổ vịt mà thôi.
Thế nhưng, không ai ngờ tới, đám tông thất bị nàng coi khinh lại giáng cho nàng một đòn chí mạng.
Vào ngày thụ hình của Tào Vương thế tử (cũng là ngày cha con Sở Vương xuất thành), Khánh Bình công chúa vốn dĩ cùng thế vô tranh cùng Đông Lai quận công xưa nay không thèm nổi đầu đã âm thầm câu kết, giáng một đòn liều chết trong tuyệt vọng, lại thêm mấy nhà hiển quý Đông Đô âm thầm phá đám, giương đông kích tây, khiến cho mẹ con Chu Kỳ bị bắt cóc ngay giữa ban ngày ban mặt.
Hứa Tinh Nương lòng nóng như lửa đốt.
Ngày đêm gấp rút đuổi theo bảy tám dặm, nàng trố mắt nhìn đứa con gái ruột thịt bị ngã chết tươi ngay trước mặt mình.
Sau trận đại chiến ở bến đò, nàng run rẩy đôi tay đón lấy bọc tã ôm đứa trẻ sơ sinh xa lạ. Lại qua ba tháng, nàng hạ lệnh dừng việc tìm kiếm, lập cho cháu ngoại một ngôi mộ y quan.
Tuế Nương khóc không thành tiếng: “Thật sự không tìm nữa sao, Hoan Tử… Hoan Tử biết đâu vẫn còn ở trên đời…”
Hứa Tinh Nương lắc đầu: “Ba tháng nay chúng ta lùng sục khắp hai bờ bến đò, lũ tặc tử kẻ chết người thương, đều đã sa lưới. Ngươi tự tay dẫn người lục soát từng nhà từng cửa, tất cả trẻ sơ sinh có độ tuổi xấp xỉ đều xem qua từng đứa một, liệu có thấy bóng dáng Hoan Tử không?”
“Chúng ta đừng tự dối mình dối người nữa. Nước sông cuồn cuộn, dịch bệnh dữ dội, nam tử trai trẻ còn chưa chắc sống nổi, huống chi một đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn. Biết đâu chừng, Hoan Tử đã cùng đám thi thể chết vì dịch bệnh kia bị đem đi thiêu chung một lượt rồi.”
“Ngộ nhỡ thì sao? Nếu như có ngộ nhỡ thì sao?”
“… Thế thì cứ để con bé làm một người dân bình thường đi.”
Hứa Tinh Nương một mình trở về thư phòng, mở ra bức tranh đã được vuốt ve vô số lần, thiếu niên trong tranh tuấn tú linh lợi, nụ cười ngây thơ vô tội.
Nhìn ngắm một hồi, nàng không kìm được rơi lệ.
Tư Thanh thông minh khoáng đạt, đại trí nhược ngu, biết cách bảo toàn bản thân giữa dòng nước xiết, dẫu cho không làm quan cũng có thể sống tự do tự tại. Giá như huynh ấy không gặp phải mình, ước chừng sẽ một đời suôn sẻ chăng.
Giờ đây, đến cả giọt máu cuối cùng của Tư Thanh nàng cũng làm mất, e rằng ở trong mộng Tư Thanh cũng chẳng buồn nhìn nàng lấy một lần nữa.
Hứa Tinh Nương vào cung bái báo kết quả.
Nữ Hoàng im lặng hồi lâu, vỗ vỗ bờ vai nàng thở dài: “Đều là vì trẫm, Tinh Nương mới gặp phải tai họa này, cô độc một mình.”
Hứa Tinh Nương: “Không, vi thần không phải cô độc một mình, vi thần vẫn còn có Bệ hạ. Bệ hạ tân triều vừa lập, vi thần nguyện xông pha khói lửa, phò tá Bệ hạ gầy dựng cơ nghiệp muôn đời!”
Nữ Hoàng cảm động đến nghẹn ngào, nắm chặt lấy tay nàng hồi lâu không buông.
Đến lúc này, Nữ Hoàng hoàn toàn tin tưởng sự trung thành của Tinh Nương dành cho mình, gần như đem tất cả những gì cốt lõi nhất phó thác cho nàng.
Năm này, Hứa Tinh Nương còn chưa đầy mười tuổi.
Sau khi mất đi toàn bộ người thân, nàng nhanh chóng già đi, lưng còng cõi, thỉnh thoảng cần phải chống chiếc gậy gỗ đen mới đi lại được.
Nàng trở thành một cô thần triệt để, không cha mẹ anh em, không hôn nhân con cái, sáu dòng họ đoạn tuyệt, ngay cả thái giám hoạn quan tịnh thân cũng chẳng cô độc triệt để bằng nàng.
Đã là cô thần, nàng không còn cần kiêng nể bất cứ điều gì nữa, hành sự ngày một tàn độc tuyệt tình.
Xuân đi xuân lại về, hoa nở rực rỡ như gấm, nhưng Tuế Nương không bao giờ cài hoa tươi lên đầu nữa.
Nàng nhìn Chu Kỳ lớn lên, nhìn Hoan Tử chào đời, nàng đã sớm coi bọn họ như khúc ruột của mình rồi.
Phủ Ngụy Quốc phu nhân trở thành hang hùm ổ cọp khiến người người ở Thần Đô im phăng phắc như ve sầu mùa đông, nhốt hai chủ tớ tim đã chết lặng.
Tác giả có lời muốn nói:
Hoàng đế thời cổ đại thích nhất là cô thần, thế nhưng kết cục của cô thần thường thường lại chẳng mấy tốt đẹp.
