Chương 42: Người thương, chênh lệch
*
Thuở ấu thơ, Mâu Văn vốn dĩ rất thích đón mừng tuổi mới.
Nơi quê nhà của cô, ngày sinh nhật vốn chẳng được xem là một dịp quan trọng. Năm Mâu Văn học lớp một, Mâu Đức Xương đi chạy xe đường dài tận Mãn Châu Lý, lúc trở về đã mang theo một chiếc bánh kem nhỏ. Ông bảo: “Từ nay về sau, mỗi một năm chúng ta đều phải tổ chức sinh nhật cho Văn Văn, phải làm thật nghiêm túc, đàng hoàng.”
Cát Vân Thanh đứng bên cạnh vỗ tay tán thành: “Em cũng nghĩ như vậy đó, Văn Văn nhà mình cũng phải được ăn bánh kem sinh nhật.”
Ngày ấy, những vùng đất giao thông hiểm trở thì vật chất cũng kham khổ thiếu thốn, vào thập niên 90 của thế kỷ trước, tại Nha Khắc Thạch thậm chí còn chẳng có lấy một cửa hàng bánh kem nào cho ra dáng. Cát Vân Thanh bèn giao chỉ tiêu cho Mâu Đức Xương, nhắn ông tìm mua một quyển sách hướng dẫn làm bánh, để bà tự mày mò học cách làm bánh.
Sinh nhật của Mâu Văn rơi vào mùa đông.
Vào tháng mười một, tuyết bay ngập trời, lúc ấy Nha Khắc Thạch đã bước vào mùa náu đông rồi. Thế nhưng vào đúng ngày sinh nhật của mình, cô lại mở bừng mắt từ sớm tinh mơ, chú ngựa nhỏ nơi đáy lòng cứ “lộc cộc, lộc cộc” sải bước ngược xuôi trên thảo nguyên ngập tràn hạnh phúc của cô. Cô khe khẽ ngân nga giai điệu rồi nhỏm dậy, chạy tót đến hỏi Cát Vân Thanh: “Mẹ ơi, hôm nay là ngày tổ chức sinh nhật cho con đúng không mẹ?”
“Sao mà mẹ quên được.” Cát Vân Thanh khẽ dí ngón tay vào vầng trán nhỏ của cô: “Đứa nhỏ này sao mà ham đón sinh nhật quá chừng.”
Mâu Văn ở trường hay khoe khoang với bạn học rằng năm nào mình cũng được đón sinh nhật, mà mỗi dịp sinh nhật lại còn được ăn bánh kem nữa. Các bạn học đều bảo cô khoác lác, nói bánh kem ở xứ Nha Khắc Thạch mình cứng đến mức mẻ cả răng. Mâu Văn liền mời bạn học về nhà chơi, mọi người cùng vây quanh chiếc bánh kem do chính tay Cát Vân Thanh làm mà hát vang bài ca chúc mừng sinh nhật cho Mâu Văn.
Mâu Văn chỉ bắt đầu không đón sinh nhật nữa kể từ sau khi lên đại học.
Cô rời xa quê nhà cả nghìn dặm, chẳng còn cha mẹ ở bên cạnh để lo liệu, sửa soạn ngày sinh nhật cho cô nữa.
Các bạn cùng phòng ai nấy đều đón sinh nhật, vào ngày ấy sẽ mời mọi người đi ăn một bữa, mỗi lần ăn như vậy tốn đến ba năm trăm tệ, mua một chiếc bánh kem lại mất thêm một hai trăm tệ. Mâu Văn tiền sinh hoạt phí mỗi tháng cũng chỉ chừng năm sáu trăm tệ, cô tiếc tiền chẳng nỡ tiêu, thành thử dứt khoát không đón nữa.
Nhưng cũng chẳng phải là thực sự không đón nữa, vào ngày ấy cô sẽ mua chút đồ ăn vặt chia cho các bạn cùng phòng, mọi người gặng hỏi vì sao lại mua đồ ăn vặt, cô liền đáp: “Tiền học bổng của mình xài hoài không hết mà.” Nhìn mọi người ăn uống ngon lành, lòng cô lại ngập tràn niềm vui.
Cô sẽ lén mua một chiếc bánh kem nhỏ giá mười tệ, đi đến một góc khuất nơi sân vận động, cắm lên một ngọn nến, rồi tự hát bài ca chúc mừng sinh nhật cho chính mình. Những khoảnh khắc ấy cô vẫn cảm thấy hạnh phúc vô ngần, bởi vì cô sẽ gọi điện thoại cho mẹ, để rồi cha mẹ ở đầu dây bên kia sẽ cùng cất giọng hát bài ca sinh nhật dành tặng cho cô.
Mâu Văn cũng muốn để Tạ Sùng được trải nghiệm niềm hạnh phúc như thế.
Cô từng có một lần hỏi Tạ Sùng rằng anh có thích đón sinh nhật không? Tạ Sùng bảo rằng anh không thích.
“Vậy sinh nhật anh thì anh đón thế nào?” Cô hỏi.
“Không đón.” Tạ Sùng bảo: “Anh không đón sinh nhật.”
“Vì sao vậy?” Mâu Văn không hiểu: “Đón sinh nhật hạnh phúc biết bao nhiêu.”
Bờ môi Tạ Sùng khẽ mấp máy, chẳng hề đáp lại câu hỏi ấy. Mâu Văn không gặng hỏi thêm, cô thầm nghĩ: Trước kia không đón sinh nhật, sau này nhất định phải đón rồi. Chẳng những phải đón, mà còn phải đón thật chu toàn, năm nào cũng đón. Gia đình mình nhất định phải có thói quen đón sinh nhật, gia đình mình nhất định phải thật hạnh phúc.
Để tổ chức sinh nhật cho Tạ Sùng, cô đã sớm chuẩn bị xong xuôi mọi thứ từ trước.
Cây cỏ hoa lá cô mua đều được giao đến vào chiều hôm ấy, tấm khăn trải bàn ăn mới đặt cũng đã về tới nơi. Cô đem căn nhà bày biện, trang hoàng lại một lượt, thậm chí cô còn muốn giống như mấy đứa trẻ con đón sinh nhật mà trang trí một bức tường sinh nhật, chăng thêm một dải băng rôn, nhưng lại e sợ Tạ Sùng trông thấy cảnh này sẽ chê bai con nít rồi quay lưng bỏ đi, thành thử đành thôi.
Dẫu là như thế, cô vẫn mua một tấm bảng đen nho nhỏ, trên bảng viết rằng:
Gió gặp núi thì dừng,
Thuyền đến bờ thì đỗ.
Sinh nhật vui vẻ.
Trên bàn ăn bày sẵn một mâm cơm ngon lành, vốn dĩ định kết hợp cả phong vị Á Âu, nhưng sau khi Tạ Sùng đi công tác trở về lại bảo rằng cứ hễ nhìn thấy mấy thứ như bít tết, mì Ý, bánh mì kẹp là anh lại muốn nôn, ngay cả cà phê anh cũng chẳng buồn uống, cứ một mực đòi uống trà cho bằng được.
Thế nên Mâu Văn bèn nấu cho anh những “món Hoa sáng tạo”: tôm quết tiêu đen, cà tím kẹp thịt chiên giòn, cua rang cay, sườn non kho hồng xíu, cá hấp, cùng vài món ăn kèm nho nhỏ. Để trông thật đẹp mắt, mỗi một món cô đều làm với lượng vừa phải, rồi cẩn thận bày biện trên bộ bát đĩa có giá trên trời của Tạ Sùng.
Cách bày trí món ăn của cô có điểm xuyết thêm hoa, lá và các loại nước sốt đặc chế, đĩa nào đĩa nấy trông đều vô cùng đẹp mắt. Đó là lối bày biện theo phong cách “Michelin” mà cô học được ở trên mạng.
Tấm rèm voan nơi ban công được kéo kín, trong nhà chìm vào khoảng tối mờ ảo, chỉ thắp lên một ngọn đèn ngủ nhỏ nhoi. Cô đã lên kế hoạch sẵn, đợi đến lúc Tạ Sùng vừa bước qua cánh cửa, cô sẽ thắp nến, bưng chiếc bánh kem ra, mở nhạc rồi cất giọng hát bài ca chúc mừng sinh nhật cho anh nghe.
Mọi thứ đều vẹn toàn, chẳng một chút tì vết. So với bất kỳ ngày sinh nhật nào cô từng trải qua trước đây, lần này còn long trọng hơn gấp bội.
Cô gọi điện thoại cho Tạ Sùng, hỏi xem có phải anh đang trên đường về nhà hay không. Ngày thường cô vốn chẳng mấy khi gọi điện cho anh, đằng này trong một ngày lại liên tiếp gọi mấy cuộc liền, quả thật có đôi phần khác lạ. Tạ Sùng bảo rằng anh đang chuẩn bị chạy về rồi, đường sá có hơi kẹt xe một chút.
“Dạ không có gì đâu, em chỉ là nhớ anh thôi.” Mâu Văn nói.
“Em… không sao đó chứ?” Tạ Sùng hỏi: “Ở nhà có chuyện gì hả em?”
“Đâu có đâu.” Mâu Văn nói: “Em đợi anh về đó!”
Sợ bị lộ chuyện, cô liền lập tức cúp điện thoại.
Tạ Sùng cảm thấy Mâu Văn thật là kỳ lạ.
Anh vừa nổi một trận lôi đình ở công ty, nguyên cớ là vì bản vẽ mẫu trong đơn thiết kế thu mua quà tặng mà họ cung cấp cho một công ty đã xảy ra sai sót. Loại sai lầm sơ đẳng như thế này là điều Tạ Sùng không cách nào dung thứ được, cũng may anh vốn cẩn trọng, trước khi gửi cho đối phương xác nhận đã kịp thời phát hiện ra vấn đề.
Quý bốn mỗi năm đều là khoảng thời gian anh bận rộn nhất, kỳ nghỉ Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán chính là giai đoạn cao điểm thu mua của các doanh nghiệp, anh phải liên tục đi giao thiệp, đàm phán hợp đồng, giám sát sản xuất và hối thúc thanh toán khoản tiền còn lại.
Buổi chiều, Tiền Tụng đến tìm anh.
Đã lâu rồi họ không gặp nhau, cả hai người đều thuộc kiểu “hẹp hòi”, đến nay vẫn còn đang giận dỗi đối phương.
Thế nhưng Tiền Tụng vẫn tốt hơn Tạ Sùng một chút, ít nhất anh ấy cũng chịu bỏ qua tự ái để đến tìm Tạ Sùng.
Hai người ngồi trong văn phòng một lát, Tiền Tụng ngỏ ý muốn mời Tạ Sùng đi ăn, Tạ Sùng liền bảo hôm nay không được, hôm nay anh đã hứa với Mâu Văn là phải về nhà sớm.
Tiền Tụng nghe vậy liền ôm lấy lồng ngực rồi ngửa người dựa vào băng ghế sofa, chỉ thiếu nước đấm ngực giậm chân: “Mỹ sắc hại nước rồi, Đại vương ơi!”
“Lại diễn nữa rồi.” Tạ Sùng liếc nhìn cậu một cái: “Cậu mới đi học nâng cao ở lớp diễn xuất về đó hả?”
Tiền Tụng bảo: “Cậu đã không chơi với tôi, cũng chẳng chịu đi ăn cơm cùng tôi nữa, thì tôi có làm cái gì cậu cũng mặc kệ tôi đi.”
Tạ Sùng bật cười.
Dẫu đang giận dỗi, nhưng lúc đi công tác anh vẫn mua quà mang về cho Tiền Tụng. Chàng “công tử lụa là” Tiền Tụng vốn có sở thích thay ví đựng thẻ, anh ấy rất thích lấy đống thẻ của mình ra, đổi sang một chiếc ví mới rồi ngắm nghía một hồi.
Tạ Sùng đã mua cho cậu một chiếc ví đựng thẻ dòng kinh điển của nhà Hermès. Anh mở ngăn kéo lấy túi quà ra, ra hiệu cho Tiền Tụng cầm lấy.
Tiền Tụng bước tới xem thử, trong lòng liền thấy dễ chịu hơn đôi chút, bèn nói: “Thế này còn nghe được, tôi không thèm giận cậu nữa đâu.”
“Vậy cậu cũng không được đến nhà tôi, không được gặp Mâu Văn.” Tạ Sùng bảo: “Tôi còn lạ gì cái miệng của cậu, sơ sẩy một chút là kiểu gì cũng nói ra mấy lời tổn thương người ta.”
“Vậy tôi đứng từ xa ngó một cái cũng không được sao? Tôi dẫu sao cũng phải biết mặt mũi cô ấy ra sao chứ?” Tiền Tụng nói với vẻ mặt có đôi phần đáng thương: “Bạn thân của tôi kết hôn rồi, vậy mà tôi đến gặp một lần cũng không được sao?”
“Không được.” Tạ Sùng dứt lời liền ra bộ tiễn khách: “Tôi phải về nhà rồi, tối mai tôi mời cậu đi ăn cơm uống rượu.”
“Cậu định bẻ đôi bản thân thành hai nửa để sống qua ngày đấy à? Một nửa dành cho cô ấy, còn một nửa thì chia cho những lịch trình khác sao?”
“Sai rồi.” Tạ Sùng bảo: “99% là dành cho em ấy, 1% còn lại mới chia cho các cậu. Tức chết cậu chưa.”
Tiền Tụng vung nắm đấm vờ như muốn nện anh một trận, anh gạt phăng nắm tay của anh ấy ra rồi buông một câu: “Trẻ con.”
Nói đoạn, anh liền bước chân ra khỏi văn phòng.
Trên đường đi gặp phải trận kẹt xe nghiêm trọng, trong lòng anh có đôi phần bứt rứt bồn chồn. Chẳng rõ vì sao, kể từ sau khi đi công tác trở về, ngày nào lòng anh cũng nôn nóng muốn được mau chóng quay về nhà. Chẳng hạn như buổi trưa hôm ấy, dẫu chỉ có được đôi chút rảnh rỗi ngắn ngủi, anh cũng phải chạy về nhà một chuyến. Bởi lẽ, cứ hễ vừa bước chân qua cánh cửa nhà, anh liền lập tức cảm thấy an lòng.
Vất vả lắm mới về đến nhà, lúc mở cửa, anh cảm thấy trong nhà có một sự tĩnh lặng đến lạ thường. Đẩy cửa ra, nghe thấy Mâu Văn gọi: “Đợi một chút, đợi một chút đã, anh nhắm mắt lại đi!”
Anh chẳng rõ Mâu Văn định làm gì, đứng lúng túng ngay ngưỡng cửa rồi nhắm mắt lại.
Hương hoa cùng mùi thức ăn thơm phức ngập tràn khắp gian nhà cứ thế len lỏi vào cánh mũi anh, anh không kìm được mà lén lút hé mở đôi mắt thành một vệt khe nhỏ: Mâu Văn lúc này đang luống cuống tay chân bưng chiếc bánh kem. Trong căn nhà tối mờ ảo, nơi nào trông cũng thật đẹp đẽ.
Thế rồi, anh lại nhắm mắt lại.
Bài hát mừng sinh nhật vang lên.
Tạ Sùng bỗng chốc dâng lên nỗi hoang mang: Sinh nhật sao? Ai đón sinh nhật thế nhỉ? Là Mâu Văn ư? Anh nhớ rõ ràng ngày sinh của cô vẫn chưa đến mà…
Trong nhà có người khác chăng? Hay là cha mẹ của Mâu Văn đã đến rồi? Chắc không phải đâu, họ mà đến thì kiểu gì cũng sẽ báo cho anh biết, lúc anh ở nước ngoài gửi quà về cho họ đã đặc biệt dặn dò kỹ lưỡng: hễ đến Bắc Kinh thì phải bảo với anh một tiếng, để anh đi đón họ mới phải.
Tâm trí Tạ Sùng rối bời thành một mảnh hỗn độn, mãi cho đến khi anh ngửi thấy mùi sáp nến thoảng qua.
Anh mở bừng mắt ra, liền trông thấy Mâu Văn đang bưng chiếc bánh kem đứng ngay nơi đó, hướng về phía anh mà cất giọng hát bài ca sinh nhật. Ánh nến bập bùng nhảy nhót nhuộm hồng đôi má cô, cô vừa mang theo bao niềm mong chờ cùng hạnh phúc đong đầy vừa khẽ khàng nghiêng đầu qua lại, cất tiếng hát trong trẻo hệt như một đứa trẻ thơ: Mừng ngày sinh nhật của anh ~ Mừng ngày sinh nhật của anh ~
Mâu Văn nhìn thấy nét mặt của Tạ Sùng lúc này đang tràn ngập sự ngỡ ngàng.
“Công tác bảo mật của mình làm tốt thật đó, anh ấy quả nhiên rất bất ngờ khi mình chuẩn bị sinh nhật cho anh!” Mâu Văn nghĩ thầm như thế lại càng thêm vui vẻ, sau khi hát xong một lượt bài ca sinh nhật bằng tiếng Trung liền chuyển sang tiếng Anh:
Happy birthday to you
Happy birthday to you ……
“Chúc anh Tạ sinh nhật vui vẻ!”
Hóa ra là mình đón sinh nhật sao? Tạ Sùng rốt cuộc cũng định thần lại, bước đến bên bàn ăn.
“Mau ước đi anh.” Mâu Văn khẽ nhắc nhở anh.
Ước nguyện sao? Tạ Sùng chiều theo ý cô, vụng về chắp hai lòng bàn tay lại vờ như đang ước nguyện, rồi sau đó thổi tắt ngọn nến.
Anh định bụng nói hôm nay đâu phải sinh nhật mình, nhưng rồi lại nghĩ, dù gì bản thân cũng chẳng bao giờ đón sinh nhật, thế thì ngày nào mà chẳng được.
Anh đưa mắt nhìn quanh những bài trí trong nhà, Mâu Văn thực sự đã dốc vào đây biết bao tâm huyết, biến ngày hôm nay trở thành một ngày vô cùng đặc biệt. Tạ Sùng bỗng dâng lên cảm giác không đành lòng, rốt cuộc chẳng thốt ra lời nào.
Mấy món ăn Mâu Văn nấu ngon lành làm sao, mọi thứ long trọng quá đỗi, anh chưa từng được thưởng thức một bữa cơm gia đình nào long trọng đến nhường này. Cách bày đĩa sao mà đẹp đẽ, hương vị lại tuyệt vời đến thế. Tấm bảng đen nhỏ cô viết trông đáng yêu vô cùng, lại còn vẽ thêm tranh bằng những nét phác họa, anh ghé mắt nhìn kỹ, đó là hình ảnh phác họa đầy trừu tượng về một ngôi nhà lớn.
Dùng bữa xong xuôi, Mâu Văn mới trịnh trọng mang ra một chiếc hộp quà.
“Cái gì vậy em?” Tạ Sùng hỏi cô.
Mâu Văn khẽ hắng giọng, có đôi phần thẹn thùng nói: “Tạ Sùng, anh từng tặng cho em rất nhiều, rất nhiều món quà vô cùng tốt đẹp, em đều thích lắm. Em chẳng biết phải tặng anh thứ gì mới có thể đáp lại tâm ý của anh. Cho nên…”
Cô chậm rãi mở chiếc hộp quà, hệt như đang dâng tặng bảo vật mà lấy ra món quà cô đã dành dụm tiền bạc suốt một thời gian rất lâu, rất lâu để kỹ lưỡng chọn lựa cho anh chiếc đồng hồ đeo tay đắt giá ấy.
Đó là món quà quý giá nhất mà suốt cuộc đời này cô từng trao tặng.
Thế nhưng lòng cô chẳng một chút tiếc rẻ.
“Đây là món quà sinh nhật em dành tặng anh, mong là anh sẽ thích.”
Tạ Sùng cúi đầu nhìn chiếc đồng hồ ấy. Thật lòng mà nói, anh đã từng nhìn qua quá nhiều thứ tốt đẹp trên đời, thành thử chẳng thể ngay lập tức tỏ bày sự yêu thích vô ngần đối với món quà này. Huống hồ gì, chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên trong cuộc đời anh chính là mẫu mã đang hiện hữu ngay trước mắt. Đây vốn là dòng cơ bản của thương hiệu ấy, bản thân anh cũng đang sở hữu một chiếc gần như giống hệt chẳng sai một ly.
Thế nhưng vừa chuyển biến suy nghĩ, thầm hiểu rằng đây là do Mâu Văn đã chắt bóp từng chút một từ khoản tiền sinh hoạt của hai người mà có được, anh lại cảm thấy món quà này vô cùng đáng quý.
“Anh đeo thử đi.” Mâu Văn nói: “Em muốn nhìn xem anh đeo vào trông có đẹp không.”
“Anh mà đeo thứ gì thì làm sao xấu cho được? Cho dù em có buộc vào tay anh một sợi dây thừng đi nữa thì vẫn dư sức dẫn đầu xu hướng thôi.” Tạ Sùng vừa nói vừa duỗi cánh tay ra, để mặc cho Mâu Văn thử đeo chiếc đồng hồ vào tay mình.
Nét mặt cô tràn ngập sự chuyên chú xen lẫn nghiêm túc, rõ ràng là rất hiếm khi đeo đồng hồ cho ai nên động tác có phần vụng về, lóng ngóng. Tạ Sùng chẳng hề lên tiếng nhắc nhở, cũng không ra tay giúp đỡ cô, anh chỉ lặng im ngắm nhìn cô đang loay hoay tìm cách đeo vào.
“Mâu Văn.” Anh gọi tên cô. “Dạ?”
Mâu Văn đáp lời anh theo bản năng.
“Cảm ơn em.” Tạ Sùng bảo.
“Anh cũng thích đúng không? Em thích lắm.” Mâu Văn cứ ngỡ anh đang nói về chiếc đồng hồ, bèn vui sướng bảo: “Em đã đi xem qua mấy bận liền, cuối cùng là nhờ Sở Lăng mua giúp ở Hồng Kông đó. Anh đừng lo lắng, đây là hàng chính hãng đàng hoàng, có đầy đủ hóa đơn mua hàng và chứng nhận tại quầy chuyên doanh, được bảo hành toàn cầu luôn.”
Mâu Văn ngẩng đầu lên, còn muốn ra sức chứng minh, Tạ Sùng đã nghiêng người hôn lấy cô.
Nụ hôn của anh vô cùng dịu dàng, khẽ khàng đặt trên bờ môi cô. Trên thế gian này sao lại có một làn môi ấm áp đến thế, để thốt ra những lời nói sinh động và dịu dàng đến nhường này chứ? Tạ Sùng thầm nghĩ.
Anh khẽ khàng hôn từng chút một lên môi cô, đôi bàn tay nâng lấy gương mặt cô.
Rồi lại dời lên trên vầng trán, dịu dàng đặt một nụ hôn lên trán cô, những ngón tay khẽ khàng mơn man bên gò má cô.
Tiếp đến là chóp mũi cô, chiếc chóp mũi tinh nghịch, đáng yêu của cô. Thế rồi lại quay về trên môi cô.
“Đồng hồ vẫn chưa đeo vào mà.” Mâu Văn ghì chặt lấy chiếc đồng hồ trong tay, một phân cũng chẳng dám cử động. Vật phẩm đắt giá đến nhường này, cô sợ chẳng may đánh rơi xuống đất làm vỡ hỏng, cô sẽ xót xa đến chết mất thôi.
“Không sao đâu.” Tạ Sùng bảo: “Lát nữa hãy đeo.”
Anh lấy chiếc đồng hồ từ trong lòng bàn tay cô, đặt lại vào hộp quà, rồi lại tiếp tục hôn cô.
Trong suốt khoảnh khắc ấy, Mâu Văn khẽ hỏi anh có cảm thấy hạnh phúc không?
Tạ Sùng bảo: “Mâu Văn, anh hạnh phúc lắm.”
Anh vốn dĩ chẳng mảy may bận lòng Mâu Văn tặng cho mình món quà gì, dẫu là chiếc đồng hồ trị giá mấy chục nghìn tệ hay chỉ là viên bánh sữa đáng giá vài đồng bạc, điều anh để tâm duy chỉ có tấm lòng.
“Vậy anh có thích chiếc đồng hồ đó không? Sau này anh nhất định phải đeo thường xuyên đó nha. Đeo nó đi họp hành, đi công tác nữa.” Mâu Văn bảo: “Chiếc đồng hồ đẹp đẽ nhường ấy, vô cùng hợp với anh.”
“Được rồi.” Tạ Sùng chặn lấy bờ môi cô: “Mâu Văn, chuyên tâm một chút nào, để anh mở món quà mà anh yêu thích nhất, được không em?”
Cô khoác trên mình một bộ đồ ngủ hoàn toàn mới. Anh chưa từng trông thấy cô mặc chiếc váy ngủ như thế bao giờ. Những bộ đồ ngủ trước kia của cô vốn in hình hoa lá hay chú cún con vô cùng đáng yêu, còn chiếc này lại làm bằng vải ren trong suốt, điểm xuyết những đường viền đăng ten tinh xảo.
Sợi dây vai mảnh mai vắt trên bờ vai cô, nơi xương quai xanh hiện lên một hõm nhỏ. Anh chậm rãi kéo khẽ sợi dây vai, đầu ngón tay mơn man lướt qua làn da cô, rồi cuối cùng dừng lại nơi hõm nhỏ ấy.
Cô khẽ rùng mình theo bản năng. Anh khẽ bảo: “Suỵt.”
Bên ngoài bóng đêm đã chuyển màu nồng đượm, anh vẫn đầy kiên nhẫn mà bóc mở món quà yêu dấu của mình. Mở ra đến đâu, nụ hôn của anh lại rơi xuống đến đó. Động tác của anh sao mà chậm rãi quá đỗi, cô sắp sửa bị sự mơn man ấy làm cho phát điên, đành khẽ khàng cầu xin anh hãy nhanh lên một chút.
Cầu xin anh hãy mau chóng tiến vào. Cô cần có anh.
Ngày hôm sau khi Tạ Sùng ra ngoài, Mâu Văn khẽ nhắc nhở anh: “Đeo đồng hồ kìa anh.”
Anh bèn bước vào phòng thay đồ của mình, kéo ngăn kéo ra, lấy chiếc đồng hồ đeo tay ấy ra rồi đeo vào tay.
Lúc này Mâu Văn đang đứng ngay ngưỡng cửa ngắm nhìn anh, dáng vẻ anh cúi đầu đeo đồng hồ trông thật chăm chú, cũng thật là đẹp đẽ.
“Nhìn gì vậy em?” Tạ Sùng hỏi cô.
“Hôm qua ở cổng khu nhà, em thấy anh lái xe ngang qua, cảm giác hệt như em chưa từng gặp anh bao giờ vậy đó.” Mâu Văn nói.
“Sao vậy?”
“Em cũng không biết nữa. Em chỉ cảm thấy con người lúc ấy của anh xa lạ lắm, trông lạnh lùng vô cùng.”
“Anh mà lạnh lùng với em sao?” Tạ Sùng bước đến trước mặt cô, khẽ nhéo má cô một cái, lúc lướt qua người cô liền thân mật vỗ nhẹ vào mông cô: “Anh đáng lẽ phải lạnh lùng với em hơn chút nữa, có như vậy thì cứ hễ có thời gian rảnh là sẽ không nghĩ đến…”
“Nghĩ đến cái gì?” Mâu Văn đuổi theo gặng hỏi.
Anh đã đi đến tận cửa nhà rồi, lại quay đầu lại, ghé sát vào tai Mâu Văn khẽ khàng thốt ra hai chữ.
Gương mặt Mâu Văn bỗng chốc đỏ bừng lên, đôi bàn tay cuống quýt đánh nhẹ vào người anh, anh cười ha hả, một tay ôm choàng lấy cô, vờ há miệng muốn cắn lên má cô.
Mâu Văn vừa cười vừa né tránh anh, vất vả lắm mới đẩy được anh ra khỏi cửa.
Dì giúp việc xin nghỉ bệnh không đến nhà được, cô đành tự mình lau dọn nhà cửa. Đến phòng thay đồ của Tạ Sùng, cô đứng trước hai dãy ngăn kéo dài của anh, bỗng chốc dâng lên nỗi tò mò ngập tràn về những thứ ở bên trong.
Trước giờ cô chưa từng mở chúng ra bao giờ.
“Đây cũng là nhà của mình mà, mình có thể mở ra xem chút đúng không nhỉ?”
Cô thầm tự hỏi bản thân như thế, do dự mất vài giây, cuối cùng cũng kéo ngăn kéo ra.
Ngay sau đó, Mâu Văn khẽ thốt lên một tiếng kinh ngạc: cô nhìn thấy đồng hồ, mười mấy chiếc đồng hồ đeo tay được bày biện ngay ngắn bên trong ngăn kéo, chiếc này xếp cạnh chiếc kia, sao mà sáng loáng, lộng lẫy và lóa mắt đến nhường ấy.
Mâu Văn nhìn thấy một chiếc giống hệt như đúc. Anh hiện tại đã đeo món quà cô tặng trên tay, vậy mà bên trong ngăn kéo của anh lại có một chiếc y hệt như thế.
Cô rốt cuộc cũng hiểu vì sao khi ấy trông anh lại bình thản đến vậy, cô hiểu rồi. Thứ cô tốn bao tâm tư công sức để mua cho anh, anh vốn đã sở hữu từ lâu rồi.
Trong lòng Mâu Văn bỗng thấy khó chịu vô cùng. Nỗi khó chịu chẳng thể gọi thành tên.
Cô biết bản thân đã cố gắng hết sức, Tạ Sùng cũng đã hoàn toàn cảm nhận được tấm lòng của cô, thế nhưng trong lòng cô cứ thấy nghẹn ngào, xót xa khôn tả. Giá mà cô mua một chiếc có kiểu dáng khác thì tốt biết mấy, thế này chẳng phải là lãng phí quá sao!
Mâu Văn thầm nghĩ như thế.
Tạ Sùng vừa ra khỏi cửa, tâm trạng khá tốt. Anh có một cuộc hẹn ăn trưa bàn công chuyện, đối tượng gặp mặt là Trần Khoan Niên và bạn của anh ta.
Tạ Sùng luôn cảm thấy Trần Khoan Niên chẳng khác nào một gã vô lại mặt dày, lần nào gặp mặt anh cũng chỉ muốn tẩn cho anh ta một trận. Thế nên khi Trần Khoan Niên hẹn anh đi ăn, anh đã thẳng thừng từ chối. Nhưng Trần Khoan Niên lại bảo: “Chẳng phải lần trước cậu nói có một người anh khá vừa mắt, nhưng người ta lại kiêu ngạo ra vẻ, chẳng thèm đoái hoài đến ai sao?”
“Đúng thế, sao vậy?”
“Thật không khéo chút nào, người đó lại chính là bạn chí cốt của kẻ hèn này. Hôm nay cậu ấy cũng đến đấy.”
Tạ Sùng vốn dĩ rất yêu thích những người có tài hoa, vừa nghe Trần Khoan Niên nói thế bèn thay đổi ý định, nhận lời đến buổi hẹn.
Vì gặp phải cảnh tắc đường nên Tạ Sùng đến muộn, sau khi bước vào nhà hàng, anh liền nhìn thấy hai người đàn ông đang ngồi bên phía cửa sổ từ đằng xa. Nói thật, Trần Khoan Niên tuy rằng rất đáng ghét, nhưng khí chất lại vô cùng xuất chúng. Hai người đàn ông cùng ngồi trước ô cửa kính sát đất, trông cũng ra dáng một khung cảnh đẹp đẽ.
Tạ Sùng cảm thấy khá ổn, ít nhất thì bữa cơm này không phải dùng bữa cùng với những kẻ béo múp, sặc mùi con buôn.
Anh bước lên trước, áy náy lên tiếng: “Xin lỗi nhé, giữa đường đột nhiên lại gặp phải cảnh tắc xe.”
Trần Khoan Niên vừa đứng dậy đón anh vừa cằn nhằn: “Gớm, ra vẻ ta đây ghê chưa, mời đi ăn một bữa cơm thôi mà còn bày đặt làm giá với tôi nữa.”
Tạ Sùng mỉm cười với anh ta, nương theo cái chỉ tay của Trần Khoan Niên mà nhìn sang người đàn ông đang đứng dậy đón mình.
Anh từng nhìn thấy người này trong một sự kiện, vốn định tiến đến bắt chuyện vài câu, kết quả là người đàn ông này lại rời đi nhanh thoăn thoắt hệt như bị lửa đốt sau mông. Người ngoài đều bảo anh ta kiêu ngạo hết mức, dùng lời của Tiền Tụng lúc bấy giờ để hình dung thì: Tám phần mười là một kẻ thích ra vẻ.
“Đây là bạn chí cốt của tôi, ông chủ của Lăng Mỹ Trung Quốc, Loan Niệm.”
“Còn đây là gã gian thương khét tiếng Bắc Kinh mà tôi đã kể với cậu, cái người từng chơi xỏ tôi một vố ở Cảnh Đức Trấn ấy, Tạ Sùng.”
“Chào anh.” Tạ Sùng chủ động đưa tay ra.
“Chào cậu.” Loan Niệm cũng đưa tay ra bắt.

Sao mà nó trẻ con nó đáng iu cỡ đó🤣🤣