Chương 28: Thi đấu ở Tiểu Sơn học quán
*
“Xuân đi xuân lại bốn mùa, nhật nguyệt đổi thay nơi ba dương cuối xứ. Gió đưa hơi ấm mà chuyển sang hè, cây cối thay gấm thêu thành màn lụa. Muốn tìm cõi Bồng Doanh cũng chẳng thể thấy, trông về non Côn Lăng lại khó hẹn kỳ. Đem núi nhỏ dựng nơi bậc thềm, đặt dãy non vội nơi bậc son…”
Bài “Tiểu Sơn phú” này là do Văn Đức hoàng đế khi tuổi đã về già, hạ lệnh tránh nóng nơi Côn Minh cung ở núi Chung Nam, tình cờ thấy trong cung có một hòn giả sơn mới dựng, cao lớn lại tuấn mỹ, thế là ngài hứng khởi dâng trào mà viết nên.
Năm Phượng Nghi thứ ba, phu nhân Ban Đình Vân, người từng giữ chức quan học sĩ nội điện Loan Đài, con gái bà là Phàn thị được Nữ hoàng ban ân chuẩn, mở một nữ học đường tại góc ngoại thành hoàng cung Lạc Dương, đích thân Nữ hoàng đề tên là “Tiểu Sơn học quán”.
Lư Hội ngồi trong xe ngựa, lòng dạ thấp thỏm chẳng yên, cứ dùng khăn gấm chấm lên vầng trán rịn mồ hôi. Hôm nay nắng sáng chan hòa, từ sớm đã nghe chim chóc ríu rít, cánh bay phấp phới đầy sinh khí, dường như đều hào hứng kéo đến để xem trò vui của cô vậy.
Bùi Thứ Chi hạ giọng quở trách: “Đừng lau nữa, son phấn sẽ nhòe ra mất.”
Lư Hội càng thêm bồn chồn: “Thật thế ư? Tống tiên sinh, mau lấy hộp gương lại cho tôi điểm lại chút phấn đi… Ngày thường cậu vốn không cho tôi bôi son dặm phấn, bởi vậy nay tôi mới thấy chẳng quen.”
Lão Tống lặng lẽ nâng hộp gương sơn mài lên.
“Không cần điểm lại đâu, vốn chỉ điểm cho thêm sắc diện, chưa lem bao nhiêu.” Bùi Thứ Chi đưa tay nâng gương mặt tròn nhỏ của cô lên, ngắm trái lại phải, giữa đôi mày vốn tinh xảo lại siết chặt thành nếp nhăn dữ dội như chữ xuyên.
“Tập viết chữ đã thành thạo chưa?”
Lư Hội vội vàng đáp: “Được rồi, được rồi, tôi đã luyện đi luyện lại nhiều lần.”
Bùi Thứ Chi: “Khi gặp người khác, chớ có hoảng hốt rối bời, cần giữ lễ nghi, đáp lời rõ ràng.”
Lư Hội lớn tiếng cam đoan: “Tôi không hoảng!”
Bùi Thứ Chi: “Đừng để lúc nóng đầu liền một quyền đánh thủng cả trống đàn, cứ đừng sợ gì hết.”
Lư Hội ưỡn ngực: “Tôi không sợ!”
Bùi Thứ Chi khẽ gật: “Mọi việc cứ theo như đã tập dượt ở nhà mà làm.”
Lư Hội lại muốn giơ tay lên lau mồ hôi, nhưng đưa được nửa chừng lại cố nén xuống: “Thực sự tôi có thể nhập học sao? Quận vương từng bảo Tiểu Sơn học quán tụ hội… ừm… tinh hoa, chư vị phu tử không thu nhận kẻ nào chẳng phải tài nữ trong thành.”
Bùi Thứ Chi khẽ mỉm cười: “Ta nói cô là tài nữ, thì cô chính là tài nữ.”
Lư Hội giận dỗi: “Đây là chỉ hươu bảo ngựa, mặt trời có mọc đằng tây thì tôi cũng chẳng phải tài nữ!”
Bùi Thứ Chi bật cười, quay đầu bảo: “Xem ra mấy ngày nay tiên sinh dạy cũng không vô ích, cô ấy lại còn biết dùng điển ‘chỉ hươu làm ngựa’ nữa cơ đấy.”
Lão Tống gượng gạo cười hai tiếng.
Bùi Thứ Chi lại nói: “An tâm, mọi việc trên đời ắt có ngoại lệ. Cô chính là ngoại lệ ấy.”
Lư Hội chẳng chút tự tin, ôm gối ngồi co ro, đầu cúi ủ rũ hệt như chú chim cút nhỏ lông xù, vì ngoài ổ có con quạ già há cái mỏ dài ra chực chờ muốn nuốt chửng cô mà bất an lo lắng.
Bùi Thứ Chi thấy bộ dạng ấy thì càng thêm ưa thích, nếu chẳng ngại làm rối mái tóc đã được chải chuốt chỉnh tề của cô, chàng hẳn đã đưa tay lên vò nắn một phen.
Xe ngựa dần chậm lại rồi dừng hẳn, bên ngoài vang lên đủ loại giọng nói của các thiếu nữ.
Bùi Thứ Chi nói: “Tiên sinh sự thật không vào sao?”
Lão Tống chau mày buồn bã: “Thiếu tướng ngài thật muốn đi dự lễ ư?”
Bùi Thứ Chi nhướng đôi mày dài: “Mấy ngày nay ta tặng đi bao nhiêu lễ vật, đủ mua ba tòa Tiểu Sơn học quán rồi, cớ sao lại chẳng vào?”
“Trong đó toàn là nữ quyến cả!”
“Cũng có mấy vị nam phu tử mà.”
“Đã qua ngũ tuần tự nhiên khỏi cần tránh né!”
Bùi Thứ Chi bất giác bật cười: “Ngày thường tiên sinh đường hoàng phóng khoáng, cớ sao nay lại né tránh thế này?”
“Chẳng phải vì nam nữ chi phòng, mà là…” Lão Tống hậm hực xoay người, “Dù sao ta cũng không đi, việc hôm nay ngài muốn làm, lão phu về phủ trước.”
“Không đi thì thôi. Hội Hội, chúng ta đi.” Bùi Thứ Chi toan xuống xe, chợt ngoảnh đầu lại.
Ánh mắt chàng như tia chớp: “Giữa chốn đông người hôm nay, cô sẽ không lại gây ra chuyện thêm một vị hôn phu chưa cưới thứ tư chứ?”
Lư Hội vừa thẹn vừa giận: “Trong ba ngày người đã thẩm tra tôi năm lượt, đến ngay cả nhà Cừu phu tử có bao nhiêu mèo chó cũng tra rõ rành rành, tôi còn giấu được điều gì nữa chứ! Nếu muốn lục lại tận thuở tôi còn quấn tã thì phải đi hỏi mẹ tôi rồi!”
Đôi mắt phượnh của Bùi Thứ Chi liếc xéo: “Yên tâm, ta đã cho người đến huyện Dương, mang lễ tiết dâng cho lệnh tôn, tiện thể dò xem có ai từng cùng cô định ra cái gọi là ‘chỉ phúc vi hôn’ hay không.”
Lư Hội: “… Thiếu tướng người thật là khách khí.” —— Tính người độc quá đấy!
–
Bùi Thứ Chi vừa bước vào trong đường, tiếng ồn ào xung quanh liền im bặt.
Bao nhiêu nữ quyến châu ngọc đầy mình đều ghé mắt qua khe màn bình phong thêu cảnh, chỉ thấy vị mỹ thần trẻ tuổi vốn đã nghe danh từ lâu, mình khoác hạc bào sắc sương, mắt sáng tựa sao, nụ cười nhã nhặn, tựa như giẫm sương mà đến.
Quán chủ Phàn Mậu Nương tâm trạng phức tạp đứng dậy nghênh đón: “Khách quý hạ cố, thật là rạng rỡ cửa hàn. Bổn quán hôm nay chỉ là một cuộc thi nhỏ, không ngờ Thiếu tướng lại có thể bỏ thì giờ đến đây, thực khiến chúng ta mừng rỡ ngoài mong đợi.”
Nói là thế, nhưng trên mặt bà chẳng hề có chút dáng vẻ “mừng rỡ” nào.
So ra, nụ cười của Bùi Thứ Chi lại càng lay động lòng người: “Quán chủ khách khí rồi, về sau tiểu nữ trong nhà còn phải phiền quán chủ chiếu cố nhiều.”
Bốn chữ “tiểu nữ trong nhà” vừa thốt ra, Phàn Mậu Nương lông tóc dựng đứng, tựa hồ nghe thấy phía sau bình phong bao nhiêu nữ quyến đều đang dỏng tai nghe ngóng.
Là bậc hiền tế số một số hai cộng cả hai tòa kinh thành lại, hôn sự của Bùi Thứ Chi một dạo còn được bàn tán sôi nổi hơn cả việc Nữ hoàng chọn tể tướng, bởi lẽ tể tướng trong triều cứ ba ngày hai bận lại thay, còn chỗ của tức phụ Bùi thị thì đâu dễ biến đổi.
Song mấy năm gần đây triều cục chao đảo, ai nấy đều nhìn ra hôn sự của Bùi Thứ Chi là chuyện nan giải. Cũng chẳng rõ Nữ hoàng có ý gì, rốt cuộc là muốn để Bùi thiếu tướng cưới công chúa Lệ thị, hay là thông gia với tiểu thư nhà họ Chử.
Bởi thế những gia đình khác đều không dám vọng động. Xưa kia Nữ hoàng đã từng ngang nhiên cướp lấy nguyên phối đã có vợ con của người ta, nhường chỗ cho chính con gái của mình; nếu xử sự không khéo, e là con gái lẫn cả gia đình cũng bị cuốn vào mà tan tác.
Phàn Mậu Nương càng nghĩ càng nhức đầu, vội vã nói: “Nghe danh cháu ngoại của Thiếu tướng dung mạo tú lệ, phẩm tính đôn hậu, chỉ cần thêm chút rèn giũa, ngày sau ắt thành đại khí.”
Sau bình phong, các nữ quyến cùng bật lên tiếng “ồ” khe khẽ — cứ ngỡ là nữ nhi thứ xuất sau khi Thiếu tướng nạp thiếp, nào ngờ chỉ là cháu gái thôi.
Phàn Mậu Nương thở dài một tiếng, vội cho tì nữ bày lại chỗ ngồi. Bùi Thứ Chi thì chẳng chút khách khí, ung dung ngồi ngay bên cạnh chủ tọa, hai bên tả hữu có sáu bảy vị phu tử an tọa.
Bùi Thứ Chi ưu nhã gật đầu chào, các phu tử cũng đồng loạt chắp tay đáp lễ. Sau đó ánh mắt bọn họ lặng lẽ giao nhau, như thể đều đã ngầm hiểu chuyện gì trong lòng.
Bùi Thứ Chi khẽ nhấp một ngụm nhạt tửu: “Sao còn chưa bắt đầu?”
Cứ như chính chàng mới là chủ nhân cuộc thi nghệ hôm nay vậy — càng chậm trễ, thì con chim cút ngốc kia lại càng cuống quýt, chi bằng mau mau tiến hành cho xong.
Phàn Mậu Nương khổ sở trong dạ, cười gượng: “Bắt đầu ngay đây.”
–
Lư Hội lĩnh một thẻ số, cùng hơn hai mươi tiểu nương tử đồng lứa ngồi đợi trong đình ngoài hoa sảnh, chờ theo thứ tự mà vào thử nghệ. Những tiểu nương tử kia hoặc nhu mỹ văn nhã, hoặc sáng sủa thanh tao, phần nhiều tụm năm tụm ba khẽ khàng chuyện trò, chỉ riêng cô ngồi lẻ loi một mình, tay chân chẳng biết để đâu.
Đang thấp thỏm bất an, lại bất ngờ gặp được Dư Xảo Nương, Lư Hội mừng rỡ khôn xiết.
Sau mấy lời hàn huyên, Dư Xảo Nương liền hỏi ngay điều nghi ngờ: “… Về sau ta sai nô bộc đến tìm muội ở nhà họ Lư, Cảnh Hành Phường, nào ngờ đã bị cho thuê lại cho nhà họ Chu. Nhà các muội đi đâu mất rồi?”
Lư Hội ngượng ngập: “Chỗ đó vốn chẳng phải nhà muội, là nhà đường huynh thúc phụ. Nhà huynh ấy xảy chuyện, đành phải dọn ra ngoại huyện, mọi người cũng chẳng tiện ở lại nữa.”
“Thì ra thế.” Dư Xảo Nương gật đầu, “Vậy nay muội ở đâu? Lát nữa ta lại tìm muội vui chơi.”
Câu hỏi tưởng chừng đơn giản, mà đáp lại lại phức tạp vô cùng.
Lư Hội bắt đầu lắp bắp: “Ta… ta nay ở nhà cậu, cậu mới nhận… cái ấy… ôi phải rồi, tỷ cũng muốn vào Tiểu Sơn học quán học ư?” — thật khó xoay chuyện sang đề tài khác!
Dư Xảo Nương lập tức sụ mặt: “Ta vốn thích đọc sách, nhưng không ưa bị quản thúc gò bó mà đọc. Chính là a nương ta ép buộc ta tới, bảo rằng kết giao thêm đôi ba tiểu nương tử có ích. Hầy, chẳng phải cầu thân quyền quý là gì, dính chút mùi tục ấy, học quán nào cũng chẳng còn thú vị.”
Lư Hội cũng là bị ép tới, trong lòng liền dấy lên chút cảm giác đồng bệnh tương liên: “Vậy tỷ đừng cùng ta chuyện phiếm nữa, mau đi mà kết giao với mấy tiểu nương tử kia đi.”
“Không cần đâu.” Dư Xảo Nương dùng quạt tròn che mặt, khẽ cười: “Đừng thấy giờ họ thân mật vậy, e là đều đang phòng ngừa nhau cả đấy. Tiểu Sơn học quán mỗi năm chỉ thu mười hai học trò, trong đình này hẳn một nửa phải bị gạt ra ngoài.”
“Chỉ thu mười hai người?” Lư Hội tròn mắt — ông cậu giả lại chẳng hề nói với cô điều này!
Dư Xảo Nương dường như rất khoái chí: “Đúng vậy, có kẻ khác chiếm thêm một suất, những người còn lại lại thêm phần khó vào. Người tới đây đều là đối thủ, muội bảo sao họ chẳng đề phòng nhau?”
Một cơn áy náy hổ thẹn trào dâng trong lòng, mặt mũi Lư Hội lúc đỏ lúc trắng, hệt như chính mình hóa thành kẻ cướp chặn đường, cướp đi cơ duyên mà người khác phải khổ học chăm rèn mới đạt được. Quả là tội lỗi biết bao!
“Hội nương, Hội nương, muội làm sao thế, sắc mặt tệ thế này?” Dư Xảo Nương gọi liên hồi, “Có phải thân mình khó chịu chăng, để ta gọi nô tỳ lại…”
“Đừng, đừng đi.” Lư Hội vội ngăn nàng, “Ta chỉ là có chút sợ hãi thôi.”
Dư Xảo Nương cười nói: “Đừng sợ, có ta bầu bạn đây. Muội chẳng bảo mẹ muội là người từ bi nhân hậu nhất thiên hạ sao, nếu chẳng được nhập học thì thôi, cùng lắm trở về bị trách mắng một trận.”
Lư Hội khổ cười — mẹ từ bi nhân hậu thì có ích gì, ông cậu giả đâu có từ bi nhân hậu, lại còn suốt ngày trợn đôi mắt phượng hung hăng mà dọa nạt nàng, uổng phí một đôi mắt đẹp biết bao!
“À, thử nghệ bắt đầu rồi! Mau, chúng ta qua xem đi.”
Dư Xảo Nương từ nhỏ đã là tay nghe chuyện xem náo nhiệt hạng nhất, mắt lại tinh nhanh, lập tức thấy rèm cuốn ở hoa sảnh được treo lên, liền kéo Lư Hội lao tới trước, áp sát song cửa hoa mà nhìn vào trong.
Trong đường, hai bên bày những bức bình phong bốn mặt rộng lớn. Dư Xảo Nương thì thầm: bình phong sau là các nữ quyến tới dự khán hôm nay, phần nhiều xuất thân từ những đại hộ danh môn trong thành.
Trên thượng thủ đường đường chính chính ngồi là chư vị phu tử của học quán, ngay giữa là một phụ nhân hơn bốn mươi, sống lưng hơi còng, hai bên mai đã lấm tấm bạc, toàn thân toát ra một cỗ thư hương đậm đà.
“Đó chính là quán chủ Phàn phu tử, còn mấy vị kia lần lượt là Ngô… ơ, kia là ai?” Dư Xảo Nương vốn chuẩn bị trước, giới thiệu rành rẽ, nhưng khi tầm mắt dừng nơi người bên cạnh Phàn Mậu Nương thì khựng lại.
Nàng kinh ngạc thì thào: “Trong học quán này đâu có vị nam phu tử nào trẻ tuổi như vậy.”
Lư Hội bất lực, đành nói: “… Người không phải phu tử trong học quán đâu.”
“Đó là Thiếu tướng Bùi Thứ Chi.”
“Đấy là Bùi thiếu tướng!” Gương mặt Dư Xảo Nương đỏ bừng vì xúc động, “Nghe nói ngài nắm giữ trung tâm, ngày ngày xử lý vạn việc, sao lại có thời gian rảnh đến xem một đám tiểu nương tử thử nghệ?”
Lư Hội: “Bởi vì người chính là vị cậu mới nhận của ta.”
Dư Xảo Nương: “A?”
Lư Hội: “Phải, nay ta ở tại Bùi phủ.”
Dư Xảo Nương: “A!”
— Ôi trời mẹ ơi, con gái đã kết giao được quyền quý rồi!
–
Tiểu Sơn học quán lấy học văn minh lý làm chính, tiêu dao tu dưỡng làm phụ, bởi thế cưỡi bắn đao kiếm chỉ cần biết là được, nhân khi tiết nhật thì các tiểu nương tử có thể cùng nhau so thử chơi đùa, không cầu tinh tiến, chỉ cần cường thân kiện thể.
Tiểu nương tử khác nam nhi, xô xát va chạm thì không sao, nhưng nếu lỡ tay làm thương tổn nhan sắc thân thể của đồng môn, ấy là vết hận cả đời, học quán cũng khó lòng ăn nói.
Thử nghệ gồm hai phần: chữ, họa, thi phú, tùy chọn một môn hoặc cả ba; nhạc khí thì không hạn chế, tùy ý chọn một hai loại, kết quả do các phu tử bình phẩm.
Danh vọng Tiểu Sơn học quán vang xa, hôm nay đến thử nghệ đều là thiếu nữ có sở trường riêng, hoặc ngâm vịnh đối câu, hoặc vung bút múa mực, hoặc gảy tơ khảy phím; đến ngay cả những người Dư Xảo Nương thấy bình thường, trong mắt Lư Hội cũng đã phi thường.
Trong số ấy, nổi bật nhất là một thiếu nữ dung mạo thanh nhã, thần thái đạm nhiên. Không chỉ viết lối Phi Bạch tung hoành sảng khoái, mà còn để Phàn Mậu Nương tùy ý ra đề, lập tức có thể ứng khẩu làm thành một bài thơ, một thiên phú, từ ngữ hoa lệ, chương cú rực rỡ, khiến chư phu tử liên tiếp tán thán, ngay cả Bùi Thứ Chi liếc qua mấy lần cũng phải khen một câu: “Quả là hiếm có.”
“Nàng ấy tên Vương Hòa Vi, tỷ tỷ chính là đại tài nữ Vương Lãnh Tường, đã gả cho đại tài tử Dương Bân!” Dư Xảo Nương mắt sáng rực, “Vương thị Thái Nguyên, Dương thị Hoằng Nông, quả nhiên danh bất hư truyền!”
Lư Hội thì chưa từng nghe qua ai, bèn thuận miệng: “Ngưỡng mộ ngưỡng mộ, quả nhiên chẳng phí hư danh.”
“Phải đó.” Dư Xảo Nương khích lệ, “Hội nương, muội cũng là hậu nhân Lư thị Phạm Dương mà.”
Lư Hội cười gượng — cái “Lư thị Phạm Dương” của cô, còn loãng hơn cả con tôm vừa vớt từ nước, chẳng nhắc đến thì hơn.
Tiếp đó, mấy vị thiếu nữ khác tựa như được Vương Hòa Vi khích lệ, càng dốc toàn lực. Dư Xảo Nương liền làm bình luận gia, từng người từng người nàng đều chỉ ra:
“Nàng kia vẽ tranh có dụng tâm, phối sắc dung hòa tục lẫn nhã.”
“Bản “Lan Đình Tự” này là phỏng theo Vương Hữu Quân, chẳng khổ luyện mười năm khó mà thành.”
“Khúc “Mai Hoa Dẫn” ngón pháp cực khó, nàng kia gảy được thế này, thật lợi hại!”
Lại có một thiếu nữ cao gầy, Dư Xảo Nương không biết tên, chọn nhạc khí lại là khát cổ. Không cần nhạc điệu phụ trợ, chỉ dựa tiết tấu nhanh chậm xen kẽ đã gõ ra khúc hùng tráng “Tướng Quân Lệnh”, khiến Lư Hội từng thấy qua máu thịt giao tranh cũng sôi trào huyết mạch, mấy vị nam phu tử liền ngồi thẳng lưng.
Ngay cả Dư Xảo Nương vốn luôn cười đùa cũng tỏ ra xuất chúng, một khúc tỳ bà gảy ngang tay, tiếng vang khiến người nghe quên hết tục lụy.
Tiếng tán thán khen ngợi không ngớt bốn phía, mà Lư Hội thì mặt xám như tro, mười ngón bấu chặt song cửa, chỉ hận chẳng thể quay đầu bỏ chạy. Đúng vào lúc ấy — đến lượt cô rồi.
Cửa hoa sảnh bên trong, mọi người nhường ra một lối đi.
Mặc kệ tổ tông gì đi nữa! Duỗi đầu là một đao, rụt đầu cũng là một đao. Lư Hội ngẩng cao đầu, ưỡn ngực, sải bước tiến vào hoa sảnh.
Chưa kịp mở miệng, Bùi Thứ Chi đã nói trước: “Đây chính là cháu ngoại của vãn bối, Lư thị. Hội Hội, mau hành lễ với chư vị phu tử.”
Dẫn đầu là Phàn Mậu Nương, chư phu tử đồng loạt ứng tiếng, còn đều hướng về Lư Hội nở nụ cười “ôn hòa khích lệ”.
Quanh đó dấy lên từng hồi xì xào:
“Đây là cháu ngoại của Thiếu tướng ư, dáng vẻ ngượng nghịu ngốc nghếch thế này, thật chẳng có chút phong độ đại gia.”
“Hẳn là duyên cớ thông gia kiếp trước, chẳng biết thế nào mà lôi kéo được làm thân thích.”
“Thiếu tướng mười bốn tuổi đã đăng khoa, kinh tài tuyệt diễm, cháu ngoại được ngài coi trọng hẳn cũng là tài nữ rồi!”
“Nhảm, tất nhiên! Thiếu tướng học thức bậc nào, nếu không lọt vào mắt, chàng sao lại tự thân đến dự khán?”
“Đúng đúng…”
Lời bàn luận nhẹ có, nặng có, vang vọng khắp nơi, khiến Phàn Mậu Nương cùng chư phu tử thần sắc phức tạp, còn lòng Lư Hội như thùng gánh nước treo lên kéo xuống, thấp thỏm bất an. Chỉ có Bùi Thứ Chi là ung dung tự nhiên.
Thử nghệ chính thức mở màn, đầu tiên là ngâm thơ, đề mục chọn chính là danh tác “Thu nhật tức mục” của Văn Đức hoàng đế.
Mọi người xung quanh đều thoáng thất vọng — cháu ngoại của Bùi thiếu tướng, sao lại chỉ đọc thơ thôi? Sao không như Vương Hòa Vi, bảy bước thành thơ, tức thì viết phú mới xứng đáng chứ!
“Trước hết mở màn cái đã, muốn nâng trước phải dìm sau.”
“Đúng vậy, không kiêu không nôn nóng, mới là phong độ của bậc đại gia a……”
Lư Hội run giọng bắt đầu ngâm thơ ——
“Khoái khí bay lơ lửng trên cửa son, ánh thu nhạt phủ cung tím.
Áo mỏng lướt qua bóng sen thưa, hoa rạng chen trong khóm cúc.
Bào nhẹ nghiêng theo giọt sương trên cỏ, lọng lệch vờn theo gió tùng.
Lá mây bay tản khắp núi, khói mù khiến lối mờ sương nhạn.”
Rồi, hết.
Bài thơ này giản dị mà mỹ lệ, dễ ngâm dễ thuộc, trong các nhà cao môn hiển quý gần như ai cũng biết đọc.
Lư Hội: người Sa Châu thì không biết, chẳng lẽ không được sao? Phạm pháp à, toàn bài có mười sáu câu, mọi người đều ngỡ rằng Lư Hội mới chỉ đọc dở chừng.
Một vị phu tử ngồi bên, rụt rè nói: “Đây… mới là thượng khúc thôi mà, còn hạ khúc đâu?”
Bùi Thứ Chi mỉm cười: “Hôm nay dự thi có nhiều người, để tránh chậm trễ, cứ ngâm đến đây thôi.”
Vị phu tử kia cứng mặt: “Cái… gì?”
Phu tử già ngồi cạnh Phàn Mậu Nương liền khẽ ho khan một tiếng, cất giọng lớn: “Lư tiểu nương tử ngâm nga lưu loát, tiết tấu thăng trầm, đủ thấy thấu hiểu thi ý. Khoa này, qua.”
Chung quanh mọi người đồng loạt lảo đảo.
“Sao cơ? Thế mà cũng được tính qua?”
“Lưu lão phu tử chắc lẫn lộn rồi.”
“Có phải nể mặt Thiếu tướng không? Nghe nói cháu trai của Lưu lão cũng làm quan đấy.”
“Thôi kệ, đằng sau còn nữa……”
Lời bàn tán hơi lắng, Lư Hội mang theo ánh nhìn ngờ vực của mọi người mà ngồi xuống trước một cây thất huyền cầm.
Tạ Ngọc Phù thì ghét khúc nghệ, Lư Trí Nam chỉ biết múa, Cừu phu tử chỉ mê tiêu, mà phong tục Sa Châu vốn hào phóng, bộc lộ tình cảm thường trực tiếp cất giọng ca —— cho nên, hôm nay là ngày thứ tư kể từ khi Lư Hội chào đời chạm vào dây đàn.
Cô run run duỗi ngón tay, lần theo dây đàn mà từng sợi gảy một, cung, thương, giác, chí, vũ, văn huyền, võ huyền, gảy thuận một lượt, lại gảy ngược một lượt. Qua lại ba lần, xong.
Đặt tay xuống, cô rụt rè ngẩng đầu nhìn.
Ngô Đại Xuyên lớn tiếng hô: “Hay!”
Mọi người sững sờ: “?”
Tư tưởng của Lư Hội quay ngược lại ——
[Ngô Đại Xuyên ôm một quyển lụa ố vàng, toàn thân kích động run rẩy: “Thiếu tướng, đây, đây là… là ‘Tố Thương Cửu Tuyệt’ đã thất truyền từ lâu!”
Bùi Thứ Chi mỉm cười nói: “Bảo kiếm tặng anh hùng, bản cầm phổ này chỉ có bậc danh sư như Ngô phu tử mới xứng.”
Ngô Đại Xuyên khóc đến nước mắt nước mũi ròng ròng: “Gia phụ cùng tiên sư dốc hết một đời vẫn không tìm được, chẳng ngờ hôm nay cuối cùng được thấy vật này. Ta phải lập tức đốt hương cáo tế, để hai vị người xưa có thể mỉm cười nơi cửu tuyền!”
Bùi Thứ Chi kéo Lư Hội vào bên: “Vậy thì Hội Hội nhà ta xin phó thác, chỉ e làm tổn hại thanh danh của phu tử thôi.”
Ngô Đại Xuyên vung tay lớn tiếng: “Có thể an ủi tiên nhân thì dù ta chết ngay cũng chẳng oán hận gì, huống hồ chỉ là hư danh cỏn con. Yên tâm, việc của Lư tiểu nương tử cứ giao cho ta!”]
Ngô Đại Xuyên mặt mày hồng hào, từng chữ hùng hồn: “Lư tiểu nương tử tuy chỉ pháp đơn giản, song chỉ lực vững chắc, tâm pháp an tĩnh. Cầm giả, vốn là để điều tình dưỡng tính. Khoa này, qua!”
“Cái gì?!” Mọi người suýt nữa ngã nhào, “Đây căn bản không phải khúc nhạc!”
Giờ phút này, ánh mắt mọi người nhìn về phía Bùi Thứ Chi cùng Lư Hội không còn là hoài nghi nữa, mà là kinh hãi.
Lư Hội run rẩy ôm lấy một chiếc nhỏ cổ cổ.
Cô biết đánh trống, thực sự, cô biết.
Nhưng so với vị thiếu nữ cao gầy vừa rồi biểu diễn tài nghệ tinh xảo, thì cô chỉ có thể coi là “biết” mà thôi.
Khúc trống cô gõ là ‘Hồ Cầm Thập Bát Phách’ mới được Tống tiên sinh dạy trong ba ngày qua. Tiếc thay luyện tập chưa đủ, mười tám nhịp khiến cô gõ thành một con diều giấy đứt dây, theo gió trôi dạt, lại giống như con gà chọi bị nghẹn cổ, nửa sống nửa chết.
Mọi người nghe mà mờ mịt ——
“Khúc gì thế này, dường như chưa từng nghe qua.”
“Ta đi hỏi rồi, người đọc tên bảo là ‘Hồ Cầm Thập Bát Phách’!”
“Nói bậy! Thế này mà là ‘Hồ Cầm Thập Bát Phách’? Tưởng chúng ta điếc cả chắc!”
“Chúng ta không điếc, chỉ tiếc rằng cậu ruột người ta lại là Bùi Thiếu tướng đấy.”
Ánh mắt mọi người đồng loạt bắn sang, chỉ thấy Bùi Thứ Chi vẫn thản nhiên như thường, thanh quý tú nhã, còn vỗ tay khen ngợi: “Không tệ, không tệ.”
—— Chàng nghiêng mắt liếc qua Tư Mã Hữu Nương ngồi cạnh.
[“Vì đứa đệ tử yêu quý, Tư Mã phu tử quả thật chuyện gì cũng dám làm.”
Bùi Thứ Chi thảnh thơi ngồi dựa.
Tư Mã Hữu Nương đứng trước án, mồ hôi lạnh không ngừng: “Kẻ súc sinh ấy không phải người, khi xưa tham lam dung nhan mỹ lệ của Phương nhi mà bày trò lừa gạt, sau khi thành thân lại trăm mối ngược đãi. Ta thực không đành lòng, mới đem Phương nhi giấu đi.”
Bùi Thứ Chi: “Nay người ta nói Tư Mã phu tử có tật thích soi gương, muốn tố phu tử tội dụ dỗ che giấu. E rằng phu tử tội sống khó thoát.”
Tư Mã Hữu Nương gian nan nói: “Xin Thiếu tướng chỉ cho một con đường.”
Bùi Thứ Chi khẽ cười, đứng dậy chấm nước viết vài chữ lên bàn, rồi dùng khăn lụa lau đi ngay.
“Đến nơi này tìm một người đàn bà tên Lý Nhị Nương, bà ấy mới là vợ chính danh của hắn, hàng xóm đều biết. Như vậy, phu tử có thể phản tố hắn tội bỏ vợ cưới vợ khác. Theo luật, tội này ít ra cũng phải lưu đày một năm.”
Tư Mã Hữu Nương mừng rỡ: “Đa tạ Thiếu tướng. Xin ngài yên tâm, chuyện được ủy thác thiếp đã rõ phải làm thế nào.”]
Nghĩ đến Phương nhi sắp thoát khổ hải, Tư Mã Hữu Nương dâng tràn lòng cảm kích.
Tư Mã Hữu Nương chậm rãi mở miệng: “Lư tiểu nương tử tuy tuổi còn nhỏ, song đánh trống có phép tắc, tiết nhịp dồn dập mà chẳng loạn, vừa cứng cáp vừa hùng hậu, thực là nhân tài đáng bồi dưỡng. Khoa này, qua.”
Dồn dập mà chẳng loạn? Nhân tài đáng bồi dưỡng? Lời bình này còn vô liêm sỉ hơn cả Ngô Đại Xuyên!
Chúng phu nhân mồ hôi đầm đìa, giận dữ trừng mắt nhìn Lư Hội —— đây đã không còn đơn giản là vô liêm sỉ nữa, mà là vô tình, vô sỉ, vô đạo lý!
Ôi trời xanh, mau giáng một đạo lôi xuống đi!
Cuối cùng, họ đem toàn bộ hy vọng gửi gắm vào Phàn Mậu Nương ——
“Yên tâm, còn có Phàn nương tử, nàng vốn nổi tiếng cương liệt bất khuất. Năm đó khốc lại Nghiêm Tuấn Huy bảo nàng đề chữ cho tân trạch, Phàn nương tử dứt khoát cự tuyệt, mắng thẳng trước mặt, thà chết cũng không khuất phục!”
“Đúng đúng, còn Phàn nương tử, nàng nhất định sẽ công bằng luận định!”
Lư Hội mồ hôi lớn như hạt đậu rơi xuống, nắm chặt bút cán, khẽ ngẩng đầu, chỉ thấy phía trên Bùi Thứ Chi đang mỉm cười nhìn mình, nụ cười chan chứa khích lệ cùng ban thưởng; nhưng trong mắt Lư Hội, chẳng khác nào Diêm La điện thúc giục nàng mau chóng qua cầu.
Cầu gì? Cầu Nại Hà!
“Tiểu nữ tài học nông cạn, xin viết một bức chữ, thỉnh chư vị phu tử bình phán.” Bùi Thứ Chi mặt dày không kể xiết, chẳng những tiếp tục mỉm cười gật đầu, mà còn thản nhiên dặn dò Lư Hội: Cứ viết ‘Tiểu Sơn phú’ đi.”
Lư Hội nghiến răng, liều mình phất mấy nét, trên giấy hiện ra ba chữ lớn: “Tiểu Sơn phú”.
Rồi, dâng lên!
Trong hoa sảnh trước tiên là một mảnh yên tĩnh, rơi kim cũng nghe rõ.
Mọi người ngẩn ngơ.
Ngay sau đó liền ào lên một trận, như nước lạnh hắt vào chảo dầu sôi, đám đông không còn che giấu, lớn tiếng bàn tán ——
“Ngài ấy nói viết ‘Tiểu Sơn phú’, thì thật sự chỉ viết ba chữ ấy thôi ư!”
“Chẳng lẽ không phải viết cả một thiên ‘Tiểu Sơn phú‘ hay sao?!”
“Thiếp chịu không nổi nữa, thật không chịu nổi nữa, đây là cái trò gì vậy!”
“Phàn nương tử, xin hãy công bằng phán xét đi.”
Những tiếng đó cũng truyền tới tai Phàn Mậu Nương, bà liếc nhìn Bùi Thứ Chi ngồi bên cạnh.
[“Thiếu tướng không cần nói nữa.” Phàn Mậu Nương thần sắc đau đớn, “Năm ấy ta ham hả một câu mà đắc tội với quan lại, nhờ có Ngụy Quốc phu nhân che chở, Nghiêm Tuấn Huy không dám động đến ta, lại trút giận sang cố hữu ở quê, hại nàng tan nhà nát cửa, hai đứa trẻ thơ dại cũng chẳng biết trôi dạt phương nào.”
Bùi Thứ Chi: “Ninh đắc tội quân tử, chớ đắc tội tiểu nhân. Năm xưa Phàn nương tử đã nông nổi rồi. Dù về sau Nghiêm Tuấn Huy bị xé xác muôn mảnh, thì một nhà bạn cũ cũng chẳng thể trở lại.”
Phàn Mậu Nương: “Bao năm nay, nỗi hối hận trong lòng ta nặng tựa núi biển, chẳng tiêu tan được. Đa tạ Thiếu tướng tìm lại được hai đứa trẻ ấy, khiến ta không đến nỗi chết đi cũng chẳng mặt mũi nào gặp lại bạn cũ. Chuyện của Lư tiểu nương tử, xin Thiếu tướng cứ an tâm.”
Bùi Thứ Chi mỉm cười: “Phàn nương tử đừng khó xử. Suy cho cùng, Tiểu Sơn học quán đâu phải nhị quán lục học của triều đình. Chỉ là tư gia học xá, miễn Phàn quán chủ cùng mấy vị phu tử gật đầu, người ngoài có thể nói được gì.”]
Phàn Mậu Nương ngẩng đầu nhìn xà nhà —— chỉ là tư gia học xá thôi ư?
Nếu bà còn trẻ, nếu chỉ vì bản thân, quyết sẽ không chịu khuất phục trước Bùi Thiếu tướng. Nhưng trải qua trăm bề sóng gió, bà đã hiểu thế nào là hòa quang đồng trần. Trong nhân sinh thế gian, còn nhiều chuyện thân ngoại cần phải đoái hoài.
Bà đón lấy tờ tuyên trắng mà Lư Hội hai tay cung kính dâng lên, trên đó đoan chính viết ba chữ ‘Tiểu Sơn phú’ —— bút pháp ngây ngô vụng dại, năm bà ba tuổi viết đã còn đẹp hơn thế này.
Sau tờ giấy là một đôi mắt trong sáng đen trắng phân minh, đầy bất an cùng hổ thẹn nhìn bà.
Không hiểu vì sao, Phàn Mậu Nương bật cười khẽ —— vẫn chỉ là một đứa trẻ thôi.
Huống chi, kết giao với Bùi Thiếu tướng cũng là một chuyện tốt cho Tiểu Sơn học quán, hà tất không đưa tay nâng đỡ?
“Ta thấy không tệ.” Bà mỉm cười nói, “Khoa này, cũng qua!”
“Cái gì?! Ngay cả Phàn nương tử cũng…?!”
Mấy vị phu nhân suýt thì ngất lịm ngửa ra, vang theo là tiếng ly chén rơi xuống loảng xoảng, xen lẫn những tiếng kêu kinh hãi cao thấp, hòa thành một khúc náo nhiệt.
Bùi Thứ Chi còn thêm dầu vào lửa, cười sang sảng: “Quán chủ mắt sáng như đuốc, không câu nệ khuôn phép, có thể nhận ra chỗ người khác không nhận ra, vãn bối bội phục, bội phục.”
Phàn Mậu Nương khẽ lắc đầu cười khổ.
Khắp trường nữ quyến cuối cùng không thể kìm được cơn giận cùng thất vọng ——
Ban đầu ai cũng thấy một vị quyền thần trẻ tuổi chen vào một gian toàn nữ tử già trẻ quả là quái lạ, rồi lại tự nhủ hắn chỉ là trưởng bối kiêu hãnh, đến xem tiểu nương tử trong nhà tài nghệ kinh người, hầu để hiển dương gia thanh.
Rất nhanh, Lư tiểu nương tử quả thực đã “kinh động tứ tọa”. Mọi người lại nghĩ có lẽ Thiếu tướng là người nhân hậu đức độ, thương hại Lư tiểu nương tử vụng về ngu dốt, học vấn nông cạn, nên cố ý đến đây chống lưng tiếp sức?
Cuối cùng mới nhìn rõ chân tướng, hóa ra là quyền thần lão cữu công nhiên gian lận trước mặt mọi người!
“Bùi Thiếu tướng sao lại như vậy?”
“Ta còn tưởng y tuổi trẻ thanh chính, là vị tể tướng công minh cơ mà.”
“Đủ thấy tài mạo cùng phẩm tính chẳng hề liên quan.”
“Có ai nhắc tới tướng mạo đâu.”
“Chẳng trách triều đình các đại nhân đều gọi y là hổ cười mặt!”
“Giờ ngài còn muốn hắn gả làm con rể không?”
“…… Chuyện ấy là chuyện khác.”
“Suỵt, mọi người khẽ tiếng thôi, đừng thực sự đắc tội với người ta.”
–
Cuối cùng một đề là vẽ tranh, Nghiêm phu tử mỉm cười ra đề.
Người xem đã tê liệt, Lư Hội cũng tê liệt, cắn răng cầm bút, một hơi hoàn thành.
Dâng tranh lên xong, cô thậm chí chẳng nghe kết quả, vội vã hành lễ rồi lập tức chạy ra khỏi hoa sảnh, một mạch phóng thẳng ra đại môn.
Khi chạy, còn nghe thấy Dư Xảo Nương ở phía sau liên tiếp gọi tên mình —— lúc này cô nào còn mặt mũi gặp người, nên càng chạy nhanh hơn, như thể phía sau có con hổ lớn đuổi tới.
Nghĩ đến sau này còn phải đến nơi này đọc sách, Lư Hội chỉ hận không thể lao đầu xuống ao bên cạnh, chết chìm cho rồi.
Ân tình của ông cậu giả kia trả mãi không xong, thực là trả không xong mà.
–
Tranh vẽ tự nhiên cũng “qua”.
Thế là Phàn Mậu Nương liền tuyên bố, Tiểu Sơn học quán thu nhận Lư Hội nhập học.
“Hay lắm, hôm nay thật là gió hòa mưa thuận, vạn sự hanh thông.” Bùi Thứ Chi thỏa mãn đứng dậy, một gương mặt tuấn tú như ngọc sáng rỡ như có ánh.
Chàng chắp tay vòng quanh hướng chư phu tử: “Chư vị hôm nay vất vả rồi, đợi đến ngày tiểu nương tử các vị thành tài, vãn bối tất sẽ thân thân dâng một bữa tiệc tạ sư, để cảm ơn chư vị khổ tâm dạy dỗ.”
“Còn chư vị trưởng bối nữa.” Chàng lại hướng về phía các nữ quyến sau bình phong mà chắp tay: “Hôm nay vãn bối quấy rầy, nếu có chỗ mạo phạm, mong chư vị dung thứ. Như vậy, vãn bối không dám làm phiền thêm, xin cáo lui trước.”
Không nhiều lời khách sáo, chàng còn vội đi bắt chim cút.
Chúng quý quyến tâm trạng phức tạp đưa mắt tiễn Bùi Thứ Chi vạt áo phiêu phiêu rời đi.
Dung mạo như xuân hoa, thần thái tựa tiên nhân hạ phàm, chỉ là hành vi thì… còn cần phải bàn lại.
Bùi Thứ Chi vừa bước ra khỏi hoa sảnh, liền thấy Nghiêm phu tử từ cửa hông vòng ra, chặn trước mặt mình.
–
Tác giả có lời muốn nói:
Lão Tống: May mà ta không bước vào.
Nữ chính: Tôi mỗi ngày đều bị ông cậu giả phá vỡ tam quan.