Chương 33: Quê nhà – Thật tâm, thật ý
*
Họ đặt chân đến Nha Khắc Thạch vào buổi chiều tà ngày hôm sau, một nơi chốn mà Tạ Sùng chưa từng nghe danh trước khi quen biết Mâu Văn. Nơi đây tựa như một viên minh châu, được khảm ngay giữa lòng Đại Hưng An Lĩnh và Hulunbuir.
Khung cảnh lúc bấy giờ đang là một buổi chiều tà ngày hạ.
Thành phố nhỏ vương vít những làn khói bếp lượn lờ, mấy đứa nhỏ đang tung tăng chạy nhảy bên hiên đường. Chiếc xe của họ sau cuộc hành trình dài đằng đẵng gần hai ngàn cây số, khắp thân xe đã bám đầy xác của lũ côn trùng. Tạ Sùng khăng khăng đòi tìm một chỗ rửa xe để dọn dẹp cho sạch sẽ trước đã.
Mâu Văn bảo: “Ở xứ Nha Khắc Thạch này chẳng có ai rửa xe khéo bằng ba em đâu, anh đừng có lo chuyện đó làm gì~”
“Rửa làm sao?” Tạ Sùng hỏi.
“Lát hồi rồi anh sẽ biết ngay.” Mâu Văn cố ý úp úp mở mở.
Mâu Văn chỉ đường cho Tạ Sùng: “Anh quẹo trái, rồi quẹo phải, anh nhìn thấy cái mặt tiền cửa hàng xinh đẹp đằng kia chưa? Đó chính là cửa hàng bánh bao của nhà em đó nghe. Rồi anh thấy cái tòa nhà kế bên không? Ngay bên cạnh chính là nhà của em.”
Tạ Sùng bị cô chỉ lối đến mức đầu váng mắt hoa, rốt cuộc chẳng nhìn thấy cửa hàng bánh bao đâu, mà cũng không thấy tòa nhà nào cả. Việc này làm Mâu Văn cuống quýt cả lên, cô bảo: “Anh dừng xe lại đi, để em xuống xe đi đằng trước mở đường, anh cứ chạy theo sau em là được.”
Thật ra điều này cũng chẳng thể trách Tạ Sùng được, bởi lẽ trong mắt Mâu Văn thì mọi thứ thuộc về gia đình cô đều thật độc đáo và nổi bật. Thế nhưng đối với Tạ Sùng mà nói, hết thảy mọi thứ nơi đây đều hết sức bình thường. Những tấm biển hiệu trên đường phố hết thảy đều đề cả chữ Hán lẫn chữ Mông Cổ, hàng chữ Hán vốn chẳng to tát gì, còn chữ Mông Cổ nhìn qua cái nào trông cũng na ná như nhau.
Quãng đường tính ra cũng chỉ chừng hai trăm mét. Mâu Văn bước xuống xe rồi rảo bước đi trước, chiếc xe của Tạ Sùng chầm chậm bám theo phía sau. Trên đường phố thưa thớt xe cộ qua lại, mấy người trong các cửa hàng bên đường vừa nhác thấy bóng dáng Mâu Văn liền lớn tiếng gọi vói theo chào hỏi: “Kìa con nhỏ, về rồi đó hả? Được nghỉ hè rồi sao?”
“Ủa, chỗ làm mà cũng có nghỉ hè nữa hả? Cơ quan nào vậy ta?”
“Chỗ làm thì làm sao mà có chuyện nghỉ hè được, chắc là con nhỏ Mâu Văn nó về đây đi công tác đó chứ hả?”
…
Mọi người rôm rả đứng bên đường bàn tán xuôi ngược, Tạ Sùng nhìn thấy Mâu Văn hệt như một ngôi sao nhỏ của xứ Nha Khắc Thạch này, cô đang tươi cười hớn hở vẫy vẫy tay với mọi người: “Cháu về rồi nè~! Cháu về rồi nè~!”
Chiếc xe của Tạ Sùng đậu ở đây tính ra lại là thứ bị người ta chú ý đến sau cùng, bởi lẽ mọi người cứ mải mê trò chuyện với Mâu Văn, một lúc sau mới ngó thấy chiếc xe ở phía sau lưng cô, bèn trầm trồ: “Con nhỏ thuê xe chạy về nè, chiếc xe nhìn bảnh ghê, chú tài xế trông cũng phong độ quá chừng.”
Mấy lời bàn tán này Tạ Sùng đều nghe được rõ mồn một, trong lòng liền thầm nghĩ chẳng lẽ những người này thảy đều mù mắt hết rồi sao? Bộ trông anh giống như một gã tài xế lắm hay sao?
Thế nhưng ngay sau đó anh lại có chút căng thẳng, rốt cuộc anh cũng đã nhìn thấy cửa hàng bánh bao của nhà Mâu Văn, nhìn thấy một hàng người đang đứng lố nhố trước cửa hàng: có vài người mặc áo bào Mông Cổ, trong đó có một cụ già với tấm lưng đã còng rạp xuống gần như thành một góc vuông. Những người du mục với gương mặt “đỏ au” trông có vẻ vô cùng dữ dằn, đôi mắt ti hí dài hẹp thỉnh thoảng lại ánh lên những tia sáng tựa như loài sói hoang.
Mâu Văn đã sải bước lao nhanh về phía họ, cô dang rộng vòng tay chạy tuốt đến trước mặt mọi người, vừa nhún nhảy vừa ôm chầm lấy những người thân yêu, đoạn đưa ngón tay chỉ về phía trước, thế là ánh mắt của tất cả mọi người đều đồng loạt đổ dồn về phía chiếc xe của Tạ Sùng, và cả chính anh nữa.
Tạ Sùng nhanh chóng đỗ xe gọn gàng, trước khi bước xuống liền âm thầm hít một hơi thật sâu.
Anh vốn dĩ không ưa những nơi đông đúc, cứ ngỡ khi đặt chân đến Nha Khắc Thạch là có thể trốn chạy khỏi chốn thị thành xô bồ, xem như tự thưởng cho bản thân một kỳ nghỉ ngắn ngày, nào có biết đâu bản thân khi đến Nha Khắc Thạch lại giống hệt như một khối “hóa thạch” quý hiếm để người ta kéo đến tham quan xem xét.
Tạ Sùng mở cửa bước xuống xe, rảo bước tiến lên phía trước để chào hỏi những người thân của Mâu Văn.
Cảnh tượng này thật khôi hài làm sao, khi cả một đoàn người rầm rộ đứng ra đón tiếp anh. Mâu Văn đứng nép bên cạnh anh, lần lượt giới thiệu từng người một, cứ mỗi khi giới thiệu xong một vị là anh lại cúi người cúi đầu rồi bắt tay. Sau một lượt chào hỏi, ngoại trừ ba mẹ của Mâu Văn cùng người bà cụ với tấm lưng còng rạp kia ra, anh chẳng thể ghi nhớ nổi một cái tên nào khác, bởi lẽ những cái tên Mông Cổ nghe thật quá đỗi kỳ lạ, chuyện này quả thật không thể trách anh được.
Cát Vân Thanh và Mâu Đức Xương thảy đều đang âm thầm quan sát kỹ lưỡng Tạ Sùng.
Vào cái lúc Mâu Văn đòi lấy cuốn sổ hộ khẩu, Cát Vân Thanh đã khóc thút thít ở nhà suốt hai ngày trời. Hai đấng sinh thành đối với chuyện Mâu Văn đột ngột đòi kết hôn thì trong lòng lấy làm đau xót lắm: họ cứ đinh ninh rằng Mâu Văn vì quá nóng lòng muốn cắm dùi lập nghiệp ở đất Bắc Kinh, cho nên mới gả cho một người “gốc Bắc Kinh”. Họ cũng không quá hiểu rõ cái danh “lão Bắc Kinh” ấy mang ý nghĩa gì, khi Mâu Văn đem chuyện của Tạ Sùng kể cho nghe, họ lại chẳng thèm tin, cứ đinh ninh rằng Tạ Sùng tám phần mười là một “ông già”, bằng không sao lại gọi là “lão Bắc Kinh” được chứ? Đầu óc họ lúc ấy chỉ ghi khắc được mỗi một chữ “lão” mà thôi.
Nào ngờ đâu chàng “lão Bắc Kinh” này lại là một cậu thanh niên khôi ngô tuấn tú đến nhường này.
Chàng “lão Bắc Kinh” đã quay người đi về phía cốp xe sau để lấy quà cáp, trước tiên anh lôi ra mấy cây thuốc lá, biếu mỗi người thân một cây, thấy bên cạnh có mấy người hàng xóm đang đứng xúm lại xem trò vui, Tạ Sùng liền xé lẻ ra từng gói nhỏ để phát cho mỗi người một ít. Loại thuốc “Trung Hoa bao mềm” vốn là “hàng chuẩn giá trị”, phàm là ai khi ngồi tán dóc mà chẳng muốn rút ra một điếu thuốc “Trung Hoa” để đưa mời người khác cơ chứ? Thế là hết thảy mọi người đều không tiếc lời ngợi khen Tạ Sùng: Rộng rãi quá đi, người Bắc Kinh quả là hào phóng quá chừng.
Trong lòng Mâu Văn lúc này như đang rỉ máu, Tạ Sùng rõ ràng là đang phát thuốc lá, thế nhưng trong mắt cô thì anh lại đang vung tiền qua cửa sổ: từng tờ nhân dân tệ cứ thế bay ngập trời, trên trời như đang đổ một trận mưa tiền vậy. Cô bèn lén lút ngắt mạnh vào cánh tay của Tạ Sùng một cái, vậy mà Tạ Sùng cứ trơ trơ ra như một gã khờ, khẽ thì thầm bảo: “Em đừng có bận tâm.”
Sau một hồi vui vẻ, bà con thân thuộc cũng dần tản đi bớt, chỉ còn lại những người trong gia đình Mâu Văn, lúc này Tạ Sùng mới có cơ hội để thở phào nhẹ nhõm. Vị “thương nhân lưu động” số một xứ “Nha Khắc Thạch” là Mâu Đức Xương lên tiếng: “Để ba dẫn con đi tham quan nhà của con bé Văn Văn nhà mình một chút.”
Mâu Đức Xương những năm tháng ấy từng lái xe tải lớn bôn ba khắp nam xuôi bắc ngược, sau này lại mưu sinh rong đuổi tại Nha Khắc Thạch, vốn là một người vô cùng hoạt ngôn và nhiệt thành. Ông dắt Tạ Sùng đứng trước cửa hàng bánh bao, giới thiệu cho anh nghe về tình hình kinh doanh của cửa hàng, tiện thể cũng khẳng định rằng đây chính là cửa hàng bánh bao ngon nhất xứ Nha Khắc Thạch. Kế đó, ông lại đưa Tạ Sùng vào trong nhà, một căn hộ nhỏ cũ kỹ có hai phòng ngủ một phòng khách, bên trong được thu vén sạch sẽ, tinh tươm.
Mâu Đức Xương chỉ cho Tạ Sùng xem bức tường treo đầy giấy khen của Mâu Văn. Bức tường danh dự ấy có lẽ chính là niềm ước ao của biết bao bậc làm cha làm mẹ: từng lớp giấy khen xếp chồng lên nhau từ trong ra ngoài, phủ kín mít cả một diện tường.
Mâu Văn đứng chắn trước bức tường giấy khen rồi dang rộng hai cánh tay ra, nhưng chiều rộng tầm vóc của cô làm sao che cho xuể, cô bèn tỏ vẻ khoe khoang mà bảo: “Anh nhìn thấy chưa? Mọi thứ ở đây đều là của em hết đó.”
Tạ Sùng tiến lại gần để ngắm nghía. Nơi đó lưu giữ trọn vẹn quãng thời gian đã qua của Mâu Văn, bắt đầu từ những năm tháng tiểu học cho mãi tới tận lúc tốt nghiệp đại học. Mỗi một học kỳ trôi qua Mâu Văn đều gom về giải thưởng, nào là học sinh ba tốt cấp trường, cấp quận, cấp thành phố cho đến cấp tỉnh, rồi cán bộ xuất sắc, giấy khen thi đấu thể thao, và cả một tấm bằng khen từ hội diễn văn nghệ nữa.
“Em cũng có năng khiếu văn nghệ nữa cơ à?” Tạ Sùng cất tiếng hỏi.
“Cái này hả anh? Cái này là cuộc thi tập thể đó chứ. Hồi đó tụi em múa điệu Mông Cổ.” Mâu Văn liền đứng thẳng người dậy rồi làm mẫu động tác nhún vai cho Tạ Sùng xem: “Cứ nhún nhún đôi vai như thế này, thế là được giải thôi.”
“Giá trị của tấm giấy khen này khiêm tốn đến thế sao?” Tạ Sùng mở lời trêu chọc cô.
“Vậy chứ anh có biết múa không?”
“Anh không biết.”
“Đã không biết mà anh còn ở đó nói bậy nói bạ cái gì vậy hả?”
Mâu Đức Xương bật cười xòa rồi bảo: “Hai đứa cứ ngồi chơi một lát đi, sắp sửa dọn cơm ăn rồi. Bữa nay nhà mình ăn cơm ở nhà trước, ngày mai ba mới dắt hai đứa xuống dưới vùng chăn thả.”
Ông rảo bước đi ra ngoài, Mâu Văn tiễn ông ra tận cửa nhà, đến khi quay đầu trở lại thì đã thấy Tạ Sùng đang đứng tự tập nhún vai rồi. Anh chàng này thật là không chịu thua ai bao giờ!
Mâu Văn liền lên tiếng chế giễu anh: “Thôi không sao đâu mà, Thượng đế không thể nào mở hết mọi cánh cửa sổ cho anh được, anh có không biết khiêu vũ thì cũng chẳng cần phải tiếc nuối làm gì.”
“Vậy sao?” Tạ Sùng đứng thẳng người dậy, anh thả lỏng cơ thể rồi khẽ nâng cánh tay lên, thực hiện liền hai động tác vũ đạo Kpop trông cực kỳ hút mắt, đoạn ung dung bảo: “Xin lỗi em nhé, cánh cửa sổ này Thượng đế không những mở ra cho anh, mà còn mở rộng thênh thang nữa kìa, suýt chút nữa là biến thành cái cửa kính sát đất luôn rồi đó.”
Nói đoạn, anh lại xoay người một vòng đầy điêu luyện, rồi khoanh hai tay trước ngực đứng im để tạo một dáng ending pose thật ngầu, khẽ hếch cằm lên một cái: “Thấy rõ chưa em? Cửa kính sát đất luôn đó.”
Mâu Văn nhìn đến thẫn thờ.
Cô biết Tạ Sùng là người hiếu thắng, nhưng không ngờ anh lại thực sự biết khiêu vũ. Giữa thứ âm thanh chát chúa đến nhức óc suốt dọc đường đi, làm sao Tạ Sùng có thể khắc chế bản thân để giữ được vẻ ung dung, trầm ổn đến thế? Anh quả là một người đàn ông kỳ lạ.
Cát Vân Thanh đã sửa soạn một bàn thức ăn vô cùng thịnh soạn.
Nha Khắc Thạch nhờ vào vị trí địa lý đặc thù nên tập quán ăn uống cũng có sự giao thoa, hòa trộn giữa phong vị Đông Bắc và Nội Mông Cổ. Thế nên, bàn tiệc tươm tất mà Cát Vân Thanh nấu nướng thảy đều là những sản vật tinh túy của địa phương: có rau dại vùng cao như ngải cứu hoang và ngũ gia bì trộn gỏi, có món thịt hươu nuôi nhà thanh tao, có đùi cừu nướng xông hương, món lòng lợn hầm dưa chua, lại thêm một con cá lòng hồ khổng lồ mà từ tờ mờ sáng Mâu Đức Xương đã phải lặn lội ra chợ sớm, tốn bao công sức mới mua về được.
Đó là một bữa cơm gia đình mộc mạc mà chan chứa chân tình.
Không còn người ngoài nữa, trước giờ cơm, Tạ Sùng đã khuân hết đồ đạc từ trên xe vào trong nhà.
Những chai rượu Mao Đài, thuốc lá, trà ngon và các hộp quà tặng quý giá đều được xếp gọn ghẽ bên cạnh bàn. Cha mẹ anh vốn dĩ muốn cùng đi với anh, bảo rằng dù thế nào đi nữa cũng phải đến một chuyến, đây chính là phép lịch sự tối thiểu, không thể để gia đình Mâu Văn cảm thấy nhà mình tùy tiện cưới con gái người ta mà thiếu đi sự tôn trọng. Thế nhưng sau ca phẫu thuật lần trước, bệnh tình của Liêu Hiểu Hoa lại có chút tái phát, phải đến bệnh viện để tái khám. Hai ông bà bàn với Tạ Sùng hay là anh tự lái xe đi trước, rồi hai người sẽ đáp máy bay đến sau. Tạ Sùng liền gạt đi, bảo hai người đừng đến, nơi ấy núi cao đường xa, ngộ nhỡ sức khỏe thực sự xảy ra vấn đề gì thì sẽ rất khó xoay xở.
Người lớn tuy không đến được, nhưng lễ vật thì đã vẹn toàn. Trong hộp quà là sính lễ do hai đấng sinh thành chuẩn bị: năm thỏi vàng ròng cùng một bộ trang sức bằng vàng. Họ không chuẩn bị tiền mặt, bởi lẽ chẳng biết đưa bao nhiêu mới gọi là thỏa đáng.
Cho nên khi bữa tiệc bắt đầu, Tạ Sùng muốn chủ động thưa chuyện vài câu.
Anh nói: “Ba, mẹ, đây là lần đầu tiên con đến cửa thăm nhà. Vốn dĩ ba mẹ con định cùng đi, thế nhưng mẹ con lại đổ bệnh, thành ra chỉ có một mình con tới đây. Như vậy có phần thất lễ, kính mong ba mẹ lượng thứ cho con.”
“Trước đây con cũng chưa từng hỏi qua phép tắc gả con gái ở Nha Khắc Thạch, thế nên tất cả đều dựa theo sở thích của Mâu Văn mà chuẩn bị ạ.”
Sở thích của mình? Mâu Văn nghe thấy câu này liền đưa mắt nhìn về phía hộp quà, trong lòng thầm nghĩ bên trong không chừng lại là một cuốn sổ tiết kiệm lớn đấy chứ? Mình vốn dĩ thích tiền mà.
Tạ Sùng đứng dậy mở hộp quà ra, bên trong là những chiếc hộp bằng nhung đỏ, anh lấy chiếc hộp đựng vàng thỏi ra mở sẵn rồi đặt lên bàn, đoạn định mở tiếp những hộp khác thì Mâu Văn đã níu lấy tay áo anh: “Anh ngồi xuống ăn cơm trước đi.”
Trong lòng cha mẹ Mâu Văn lúc này là muôn vàn cảm xúc ngổn ngang, phức tạp.
Họ tuyệt nhiên không phải là những bậc cha mẹ thấy tiền là sáng mắt, lại càng thấu hiểu miệng đời thế gian vốn dĩ vô cùng khắc nghiệt và độc địa. Chuyện Mâu Văn gả cho một người Bắc Kinh giàu có, giờ này hẳn là đã truyền đi khắp cái thành phố nhỏ này rồi. Người ta sẽ trầm trồ bảo con nhỏ Mâu Văn thật là tài giỏi, nhưng cũng sẽ có kẻ gièm pha rằng chẳng biết con bé phải chịu bao nhiêu uất ức tủi hờn.
Lễ vật của Tạ Sùng vừa bày ra, hai ông bà liền khó nghĩ. Họ đâu có bấy nhiêu của hồi môn để mà đưa tiễn con gái.
Mâu Văn hiểu thấu tâm tư của ba mẹ, họ vốn là những người giàu lòng tự trọng, lòng tốt của Tạ Sùng e là sẽ khiến cho họ phải khó xử.
Lúc này Mâu Đức Xương mới ôn tồn bảo Tạ Sùng: “Ba hồi nào tới giờ không hút thuốc cũng chẳng uống rượu, tấm lòng của con ba đều nhận hết rồi. Mấy gói thuốc con phát ngoài đường hồi nãy, bấy nhiêu đó là đủ đẹp mặt rồi. Nhiêu rượu thuốc còn lại con cứ mang về đi, mấy thỏi vàng này cũng giữ lại cho hai đứa tụi con xài. Ba mẹ không có nhiều tiền bạc gì cho cam, mười vạn trong cuốn sổ tiết kiệm này là để cho hai đứa lo liệu cuộc sống.”
Ông thực sự đã rút ra một cuốn sổ tiết kiệm. Kể từ sau vụ tai nạn xe hoạn nạn ấy, trong nhà chẳng còn lại thứ gì đáng giá, bao năm qua hết thảy đều nhờ vào việc thắt lưng buộc bụng, cần cù chịu khó mới tích cóp ra được bấy nhiêu đây. Họ vẫn luôn thầm may mắn vì có đứa con gái hết mực hiểu chuyện, chăm chỉ học hành lại tận tụy làm ăn, chẳng bắt hai thân già phải bận lòng lo nghĩ điều gì. Cũng chính vì lẽ đó, họ lại càng cảm thấy bản thân dường như đã thua thiệt với con gái nhiều lắm.
Mâu Đức Xương tuy là phận làm cha, thế nhưng tánh tình lại dễ mủi lòng, lúc này ông khẽ lấy tay quệt nước mắt, tự trách bản thân sao có thể cho con gái ít ỏi đến nhường này.
Tạ Sùng chợt nhận ra bản thân đã bày biện lễ nghi có phần quá trớn. Anh đột nhiên hiểu rằng chính mình đã vô tình tạo ra một cái thế hệt như Mâu Văn đang “trèo cao”, trong khi thâm tâm anh ban đầu vốn chỉ muốn tỏ bày sự thành kính mà thôi.
Mâu Văn lúc này liền ôm lấy hai hộp quà rồi hối thúc Tạ Sùng: “Anh mau nói gì đi chứ!”
“Ba, mẹ, con tuyệt đối không có ý đó đâu ạ, con chỉ muốn ba mẹ yên lòng: Mâu Văn gả cho con, con quyết không để em ấy phải chịu thiệt thòi hay cực khổ nửa phân. Xin ba mẹ đừng có suy nghĩ nhiều.” Anh thu vén lại mấy hộp vàng ròng: “Mấy thứ này con xin nhận lại để đưa hết cho Mâu Văn. Riêng phần rượu với thuốc lá, con xin phép không mang về đâu ạ. Vốn dĩ con tính để ngày mai đem xuống vùng chăn thả cùng uống cho vui.”
Cát Vân Thanh nghe vậy bèn bật cười thành tiếng: “Cái thằng nhỏ này thiệt tình khờ quá đi. Con đâu có ngờ người dưới vùng chăn thả tửu lượng họ cao tới nhường nào đâu? Mấy thùng rượu Mao Đài này đem xuống đó e là một ngày một bữa là sạch bách liền. Phung phí lắm con ạ.” Bà lại bảo: “Nhà mình dù có tiền cũng không thể hoang phí như vậy được. Thuốc với rượu này mẹ đứng ra làm chủ giữ lại hết, mai mốt con có về chơi, mẹ lại lấy chính thứ rượu thuốc này ra mà đãi con. Ngày mai để ba dắt con đi mua mấy thứ thông dụng hơn để mang xuống dưới đó.”
“Dạ vậy cũng được ạ.” Tạ Sùng có chút áy náy bộc bạch: “Con mới tới lần đầu, chưa tường tận phép tắc lễ nghi ở đây, chỉ sợ bản thân có điều gì sơ suất.”
“Con làm vậy là chu đáo lắm rồi.” Cát Vân Thanh trìu mến bảo: “Thật là một đứa nhỏ ngoan hiền. Thôi ăn cơm đi nè, nhà mình đừng có bày ra bộ dạng nghiêm trọng như vậy nữa, coi mà phát sợ.”
Cát Vân Thanh liền đứng dậy lo liệu, hối thúc Tạ Sùng dùng bữa.
Tạ Sùng có chút hiểu được cái “sức trâu” hừng hực của Mâu Văn từ đâu mà có rồi, mẹ của cô cũng y hệt như vậy. Bất kỳ thứ gì rơi vào tay bà thì hết thảy đều nhẹ bẫng tựa như một cây kim, động tác làm lụng vô cùng thoăn thoắt, anh vừa chớp mắt một cái, chén cơm xới sẵn đã ở ngay trước mặt, cứ như thể bà biết khinh công vậy.
Ba của Mâu Văn trông lại có phần thư sinh nhã nhặn, chẳng giống mấy kiểu đàn ông thường thấy ở xứ này: ông mặc một chiếc áo sơ mi sọc ca rô tay ngắn, các nút áo đều được cài kỹ lưỡng, nói năng thì thong thả từ tốn, móng tay lại rất sạch sẽ.
Phàm là ở bất cứ nơi đâu, một người đàn ông có đôi bàn tay sạch sẽ thảy đều khiến cho lòng người cảm thấy dễ chịu. Tạ Sùng lấy làm mừng rỡ khi ba của Mâu Văn không hề nuôi móng tay út thật dài, kẽ móng cũng chẳng hề bám chút bùn đất nào.
Anh cũng chẳng rõ vì sao bản thân lại đi quan sát những chuyện vặt vãnh này, mãi cho đến sau bữa cơm, khi ngồi ở gian ngoài vừa phẩy chiếc quạt lá đuổi muỗi anh mới thông suốt: hóa ra là bởi vì bản thân đã có nỗi lo âu từ trước khi đến đây.
Anh vốn sợ ba mẹ của Mâu Văn sẽ là kiểu người chịu nhiều “khốn khó tuềnh toàng”, trong lòng cứ mãi thon thót lo âu: ngộ nhỡ đứng trước mặt anh lại là hai đấng sinh thành lam lũ áo quần tả tơi, vừa nhác thấy anh đã run rẩy e dè, thì anh biết phải ứng xử ra sao? Anh sợ chính mình sẽ hành xử không được chu toàn.
Thế nhưng ba mẹ của Mâu Văn hoàn toàn không phải là kiểu người như vậy. Thật tốt quá, Tạ Sùng khẽ thở phào một hơi nhẹ nhõm.
Mâu Văn cất tiếng hỏi anh có chuyện gì vậy? Sao tự dưng lại thở dài thở vắn thế kia?
Tạ Sùng bảo: “Bầu trời đêm ở quê nhà của các em trông thấp quá chừng.”
Mâu Văn liền đáp: “Vậy là anh chưa được tận mắt ngó thấy đêm đen ở vùng chăn thả rồi! Tối mai là anh sẽ được thấy ngay thôi.”
“Mấy ngày tới đây chúng mình sẽ làm gì?” Tạ Sùng hỏi.
“Mấy ngày tới đây hả, để em dắt anh xuống vùng chăn thả chăn cừu nha?” Mâu Văn đứng bật dậy, khẽ phủi phủi lớp bụi bặm bám trên quần: “Đã đặt chân tới xứ Hulunbuir của tụi em rồi, mà không chịu xuống vùng chăn thả ôm bắt mấy con cừu non thì đáng tiếc biết bao nhiêu?”
“Trẻ con tới vậy sao?” Tạ Sùng cố ý hỏi vặn lại.
“Trẻ con sao?” Mâu Văn không hiểu: “Lạ lùng thật, sao người trẻ bây giờ cứ thích theo đuổi nét già dặn, còn người già lại cứ mong cầu sự trẻ trung vậy chứ? Người trẻ tuổi chẳng phải nên chạy nhảy, vấp ngã, phạm sai lầm rồi trải nghiệm hay sao? Chúng mình mới có hai mươi mấy tuổi đầu, lẽ nào phải sống giống như những người tuổi ba mươi, bốn mươi, năm mươi mấy tuổi hay sao? Em không bận tâm đâu, em cứ muốn đi bắt cừu non, đi chăn cừu đó, anh không thích đi thì cứ việc ở lì trong bao lều Mông Cổ đi.”
“Ở bao lều Mông Cổ sao?” Tạ Sùng lại hỏi.
“Cũng có nhà trệt nữa.”
“Nhà vệ sinh lộ thiên sao?”
“Đúng vậy đó.”
“Ăn cái gì?”
“Sao anh lắm chuyện quá vậy!” Mâu Văn bị Tạ Sùng hỏi đến phát bực, cô liền đe dọa anh: “Anh mà còn như vậy nữa thì ở lại đây cùng mẹ em hấp bánh bao đi, đằng nào em cũng phải xuống vùng chăn thả thôi. Năm nào em cũng phải xuống đó ở lại vài ngày.”
Tạ Sùng thấy cô cuống lên liền níu cô lại: “Anh trêu em chút thôi mà. Em nói cho anh nghe xem em thích làm gì nhất ở vùng chăn thả?”
“Ngày mai tới nơi rồi anh sẽ biết ngay.”
Mâu Văn vừa trở về Nha Khắc Thạch liền hóa lại thành đứa con gái nhỏ của xứ Nha Khắc Thạch. Buổi tối cô muốn ngủ cùng với mẹ, thành ra Tạ Sùng phải ngủ lại ở một nhà trọ nhỏ gần bên.
Tạ Sùng chưa từng nghỉ lại ở một nhà trọ nhỏ như thế này bao giờ, trong lòng cảm thấy vô cùng mới mẻ.
Nơi đây chẳng giống như những khách sạn sang trọng nơi phố thị phồn hoa, những chiếc chăn ở nhà trọ nhỏ này vương vít mùi hương của nắng hanh. Bà chủ nhà trọ là một người phụ nữ tộc Mông Cổ nói tiếng Phổ Thông không được lưu loát cho lắm, lúc trò chuyện với Tạ Sùng, bà vừa nói vừa khua tay múa chân ra bộ, phải mất một lúc lâu Tạ Sùng mới hiểu được, đại ý là: Nhà của chúng tôi sạch sẽ lắm, chăn màn thảy đều được đem ra phơi dưới ánh nắng mặt trời vào ban ngày cả.
Bà chỉ sợ Tạ Sùng khinh rẻ cái nhà trọ nhỏ xứ Nha Khắc Thạch này, cũng hệt như cái nỗi lo âu của ba mẹ Mâu Văn khi sợ anh không thích mái nhà của họ vậy.
Đúng là những con người Nha Khắc Thạch thật thà, chất phác quá đỗi!
Tạ Sùng đã có một giấc ngủ thật ngon lành.
Sáng hôm sau, khi những tia sáng khẽ lọt qua tấm rèm cửa, anh trở mình một cái rồi liếc nhìn thời gian: bốn giờ sáng. Mới bốn giờ sáng thôi mà bầu trời nơi thành phố nhỏ Nha Khắc Thạch đã sắp sửa hửng sáng rồi. Anh thế mà lại có cái cảm giác như thể đang phải thích nghi với việc lệch múi giờ, rốt cuộc chẳng thể nào chợp mắt được nữa.
Anh đẩy mở cánh cửa sổ, một luồng gió mát lạnh lùa vào phòng, tinh thần liền phấn chấn hẳn lên. Ghé mắt nhìn xuống con đường phía dưới, cửa hàng bánh bao đã mở cửa tự hồi nào.
Hẳn là đã mở được một lúc lâu, bởi lẽ những xửng hấp đã nghi ngút khói nóng, có vài người khách đang ngồi bên bàn thưởng thức một ấm trà sữa, thong thả nhấm nháp chút dưa muối để đợi bánh chín. Ba mẹ của Mâu Văn đang luôn tay bận rộn.
Gương mặt ba mẹ Mâu Văn tuyệt nhiên chẳng vương chút nét khổ sở lam lũ, dẫu đang tất bật làm lụng nhưng họ vẫn nói nói cười cười vô cùng rôm rả, ngập tràn vẻ vui tươi. Nét tính cách này của Mâu Văn quả thật là được thừa hưởng vẹn nguyên từ đấng sinh thành.
Cửa hàng bánh bao chính là chiếc đồng hồ báo thức của xứ Nha Khắc Thạch.
Vào khoảnh khắc xửng bánh bao đầu tiên vừa chín tới, Nha Khắc Thạch cũng hoàn toàn thức giấc. Trên đường phố bắt đầu thấp thoáng bóng người tản bộ, người mưu sinh, mấy con ngỗng lớn tự mình thong dong ra đường dạo chơi, lũ mèo nhỏ chó con cũng kéo nhau ra cửa. Đâu đó còn có người tay dắt hai chú cừu non, hai tay chắp sau lưng thong thả bách bộ.
Khung cảnh này hoàn toàn khác biệt với sự nhộn nhịp xe cộ dập dìu nơi đất Bắc Kinh, hệt như lời Mâu Văn từng bày tỏ: Người ở xứ sở của tụi em mỗi khi nhắc đến Bắc Kinh đều ước ao được một lần đặt chân đến Thiên An Môn, họ cứ ngỡ Bắc Kinh núi cao đường thẳm, vạn dặm xa xôi khó lòng chạm tới. Nhà ai có đứa con được làm việc rồi định cư ở Bắc Kinh thì giống hệt như một bước bước lên tới tận trời xanh.
“Sao lại như vậy chứ?” Tạ Sùng không khỏi thắc mắc.
“Chừng nào anh đến nơi rồi thì sẽ thấu hiểu thôi.”
Nơi đây vốn dĩ là hai thế giới hoàn toàn khác biệt.
Tạ Sùng quyết định rời phòng để chạy bộ.
Khoảng thời gian lúc bấy giờ thật vô cùng dễ chịu, quãng đường mười mấy cây số chẳng mấy chốc đã được anh hoàn thành. Khi trở lại tiệm bánh bao, anh liền nhanh nhảu đỡ đần hai người lớn bưng bê đĩa chén. Mấy người khách xung quanh thấy vậy liền đua nhau gặng hỏi: “Đây là chàng rể Bắc Kinh đó hả?”
Cát Vân Thanh liền tươi cười đáp: “Dạ phải đó, có ghen tị không? Mà có ghen tị thì cũng vô phương thôi, nhà mấy người làm gì có được.”
Tính bà vốn dĩ hay thích đùa giỡn, vừa dứt lời liền tự mình bật cười khúc khích trước tiên, thế là thảy mọi người cũng cười rộ lên theo. Mâu Văn trong bộ dạng chỉnh tề, thanh thoát bước xuống lầu, cô vừa xuất hiện thì cửa hàng bánh bao lại càng thêm phần nhộn nhịp. Cô quen biết hết thảy mọi người nơi đây, gặp ai cũng có thể hàn huyên vài ba câu, Tạ Sùng có thể nhìn ra được phàm là ai cũng đều vô cùng yêu mến cô. Cát Vân Thanh đưa cho cô mấy hộp thức ăn, bảo cô đem đi giao, cô liền kéo Tạ Sùng cùng đi với mình.
Chuyến này tính ra hai người họ đã rảo bước đi qua nửa cái xứ Nha Khắc Thạch.
Tạ Sùng cất tiếng hỏi: “Nhà mình còn nhận cả dịch vụ giao cơm tận nơi nữa hả em?”
“Đâu có đâu anh, tất cả đều là những người bạn lâu năm của gia đình em hết đó, họ giờ già cả rồi nên chân cẳng đi đứng không nổi nữa.”
Tạ Sùng đã được tận mắt trông thấy những “người bạn lâu năm” của gia đình Mâu Văn, tất cả đều là những cụ già mang số phận vô cùng đáng thương. Anh chợt hiểu ra vì sao Mâu Văn lại chấp niệm và để tâm đến tiền bạc nhiều đến thế: bởi lẽ cô đã từng chứng kiến, từng nếm trải cái nghèo đói đích thực ở đời.
Đời người sống trên thế gian này, phàm là ai mà chẳng khát khao được bước tới những chỗ cao sang. Cho dẫu chốn cao vời vợi ấy có lạnh lẽo buốt giá khôn cùng, thì con người ta vẫn cứ muốn nỗ lực trèo lên bằng được, để tận mắt nhìn xem cái lạnh lẽo nơi ấy rốt cuộc là như thế nào.
Cô bước chân ra khỏi Nha Khắc Thạch, đi tới Thiên Tân rồi Bắc Kinh, chuyện cô vì tiền bạc mà so đo từng chút một với công ty cũ, hết thảy mọi điều ấy giờ đây đều đã có dấu vết để tìm về nguồn cội.
Trước lúc lên đường, Mâu Văn đã lăng xăng lo liệu chuyện rửa xe.
Mâu Đức Xương liền kéo ra một đường ống dẫn nước dài dằng dặc, lấy thêm khăn lau các thứ, rồi bắt tay vào rửa xe ngay trước cửa tiệm bánh bao. Ống nước trước tiên phun cho chiếc xe ướt sũng, kế đó chẳng rõ ông thoa thứ dung dịch tẩy rửa của nhãn hiệu nào mà khắp thân xe thảy đều phủ đầy bọt trắng… Mâu Văn cùng Mâu Đức Xương vừa nhìn qua là biết ngay họ cực kỳ yêu thích việc tự mình cọ rửa xe, hai cha con phối hợp vô cùng ăn ý, mỗi người kéo một đầu tấm khăn dài, kéo tuốt từ đầu xe cho tới tận đuôi xe, chẳng hề thua kém dịch vụ rửa xe thủ công ở đất Bắc Kinh nửa phân.
Chiếc xe ấy vậy mà cũng được lau chùi sạch bong kin kít.
Thật là thần kỳ.
Cả một nhà toàn những người tài tình.
Trên con đường hướng về phía vùng chăn thả, Mâu Đức Xương ân cần dặn dò Tạ Sùng: “Nếu không biết uống rượu thì con quyết chẳng được gượng ép bản thân, người ở xứ này uống rượu dữ lắm, vả lại đều là rượu trắng, thứ rượu mạnh vô cùng.”
“Dạ được ạ, con cảm ơn ba.” Tạ Sùng đáp: “Con có thể uống được một chút ít. Vì lễ nghĩa xã giao, con xin phép được uống vài ba ly.”
Mâu Đức Xương liếc nhìn anh một cái, rồi quay sang gặng hỏi Mâu Văn: “Nó uống được bao nhiêu? Để ba còn biết đường mà liệu tính.”
Mâu Văn khẽ lắc đầu.
Mâu Đức Xương: “Một chút cũng không biết uống sao con?”
Mâu Văn cười bảo: “Dạ anh ấy chưa từng bị say bao giờ.” Nói đoạn, cô liền ôm bụng cười ngặt nghẽo: “Con giỡn chút thôi mà, con cũng chẳng rõ tửu lượng anh ấy thế nào nữa, có khi anh ấy uống được, có lúc lại không. Ba ơi ba dừng xe lại một lát đi, con muốn ra giữa thảo nguyên lăn lộn mấy vòng quá!”
Họ đi ngang qua một vạt đồng cỏ đẹp đẽ khôn cùng. Một con sông nhỏ uốn khúc quanh co từ tận góc trời chầm chậm chảy về, những đám mây trên cao hệt như rụng rơi trên mặt nước, gió thổi sóng gợn lăn tăn, đám mây cũng dập dềnh lay động theo. Lũ cừu non bên bờ sông kêu reo, tụ họp thành bầy thành lũ cùng nhau gặm cỏ. Một khoảng xanh rì bao la bạt ngàn, cứ thế tràn ngập vào trong đôi mắt của họ.
Mâu Đức Xương dừng xe lại, hạ phần lưng ghế ra sau, cửa sổ cửa xe thảy đều mở toang ra rồi bắt đầu say giấc. Còn Mâu Văn với Tạ Sùng lại muốn bày ra một trận thi chạy, cả hai người cùng hướng về phía tận cùng của thảo nguyên xanh thẳm mà lao đi.
Ngọn gió thổi qua bên tai họ vù vù, mái tóc cùng gấu váy của Mâu Văn tung bay phấp phới. Chiếc áo sơ mi trắng bằng vải lanh của Tạ Sùng bị ngọn gió thổi phồng lên, trông hệt như một ông “Quy Lão tiên sinh” vậy.
Chẳng còn bóng dáng người nào nữa. Không còn những con đường xe cộ dập dìu qua lại, không còn những tòa nhà cao tầng san sát chen chúc đến độ nắng hồng chẳng thể rọi thấu, cũng chẳng còn những nhiệm vụ nối đuôi nhau ngày qua ngày làm hoài không hết. Hết thảy mọi thứ đều biến mất sạch sẽ.
Rốt cuộc nơi đâu mới thực là chốn cao sang? Người chốn ruộng đồng hằng mong đến thành thị, thành thị chính là chốn cao sang của họ; người nơi phố thị lại ao ước về vùng thôn dã, vùng thôn dã lại trở thành chốn cao sang của riêng họ.
Lòng người hướng về nơi nào, nơi đó mới chính là chốn cao sang vậy!
Họ cứ thế mải miết chạy, chạy đến tận bên bờ nước, chạy đến ven dòng sông nơi những đám mây trắng đang nối đuôi nhau rụng rơi xuống mặt nước, rồi dang rộng hai cánh tay mà ngả người về phía sau, vỗ về họ là vạt đồng cỏ bao la bạt ngàn.
Bởi vì vừa chạy một quãng dài, lồng ngực của hai người cứ phập phồng lên xuống dồn dập.
Cả hai người đều im lặng chẳng thốt lên lời. Họ đều thật tâm thật ý yêu thương khoảnh khắc này. Yêu thương cái giây phút vui sướng nhẹ nhõm hiếm hoi ấy.

Mình đã từng đến Hulunbuir, một cách thân thương hơn thì mình thích gọi bằng tên Hán Việt, Hô Luân Bối Nhĩ. Khi đọc đến những chương này, miêu tả về quê nhà của Mâu Văn, là cả một bầu trời ký ức lũ lượt kéo đến trong đầu mình