Chương 6: Kề vai áp má? Là chuyện từ kiếp trước sao?
*
Giữa nỗi ngỡ ngàng của đám thiếu niên, Tạ Nhân buông lại lời ấy, đoạn một mình rảo bước qua dãy hành lang nhỏ, trở về thủy các.
Ngô Doanh dẫn người thu dọn dải lụa trắng từng khiến Lý Nhược Lâm run rẩy, thế nhưng chàng cũng chẳng nhờ vậy mà có được một giấc ngủ an lành.
Đêm ấy tuyết rơi lả tả như bột mịn, ngoài cửa sổ thi thoảng có cánh chim đáp xuống, chiếc móng nhỏ giẫm lên lớp tuyết xốp, phát ra tiếng sột soạt mơ hồ.
Nơi gian phòng ở Đồng Kính Đài, đám thiếu niên kinh hồn bạt vía nằm gác chân lên nhau mà ngủ, chăn nệm vừa khô vừa lạnh, lại xông thứ hương huệ thảo mà Lý Nhược Lâm chán ghét nhất. Mùi hương ấy cứ từng đợt xộc thẳng vào mũi, khiến chàng cay mắt xót lòng.
Kiếp trước, chàng chưa từng phải ở Đồng Kính Đài, cũng chưa từng phải chịu nỗi khổ cực này.
Thuở mới gặp chàng dưới lầu Minh Nguyệt, Vương Trác Nghi đã đích thân đưa chàng tới Tố Cư, rồi dành riêng cho chàng một gian phòng thanh bạch như động tuyết: chiếc kỷ trơn không họa tiết, gối tựa bằng tơ xanh, bình phong bạch ngọc, rèm vải nhạt màu, cúc xanh thanh nhã… Đến tận hôm nay chàng vẫn nhớ như in, ngày hôm ấy tuyết lớn vừa tạnh, gió mát trời trong, Vương Trác Nghi ngồi bên ô cửa sáng, tự tay chỉ bảo đầy tớ bài trí gian phòng nhỏ rộng mười mét vuông của chàng. Nàng hứng khởi vô cùng, vừa sắp đặt những món đồ cổ kính, vừa giảng giải cho Lý Nhược Lâm nghe về những trào lưu thẩm mỹ kỳ dị mà thanh nhã, cầu kỳ nhưng vô dụng nơi thành Lạc Dương thuở ấy.
Sau này, chàng lại theo Vương Trác Nghi tới ở tại căn yết thất trong phủ công chúa ở Thọ Khâu Lí.
Thuở ấy chàng sống quá đỗi cô độc, cô độc đến mức chẳng còn biết phải oán hận Vương Trác Nghi ra sao nữa.
Theo lời Ngô Doanh, yết thất vốn là nơi Vương Trác Nghi và Tạ Nhân chung chăn gối. Chẳng có gì phải nghi ngờ, từng chiếc bình phong, chỗ ngồi trong phòng, cho đến từng nhành hoa, gốc cây ngoài sân thảy đều theo sở thích của Vương Trác Nghi. Thế nhưng Lý Nhược Lâm ở nơi ấy suốt mười năm trời, chỉ thấy Tạ Nhân thi thoảng ghé qua quét dọn, chứ chưa từng thấy Vương Trác Nghi đặt chân đến dù chỉ một lần.
Nhưng vậy cũng tốt, ít ra Vương Trác Nghi không khiến chàng phải ghê tởm.
Thực ra, bất luận sau này Vương Trác Nghi đối xử với chàng ra sao, hai nơi chốn nàng ban cho Lý Nhược Lâm hết thảy đều đẹp tựa thiên cung.
Mà quê hương của chàng vốn là một nơi quanh năm chìm trong cát vàng cùng gió dữ. Người ta vẫn bảo từ nghèo khó lên giàu sang thì dễ, lại thêm năm tháng dài đằng đẵng, chàng quả nhiên dần quen với thứ gọi là phong nhã của đất Lạc Dương, vứt bỏ cả Nho học đã theo suốt mười năm để xuôi theo gu thẩm mỹ sinh hoạt cực đoan của Vương Trác Nghi. Ngày ngày diện y phục rộng, đêm đêm xõa tóc, đeo lên người vô số mảnh mỹ ngọc tuyệt thế. Ở nơi gần Vương Trác Nghi nhất, nhờ có dung mạo trời ban mà chàng mãi mãi đứng trên tất cả đám tôi tớ, luôn được sống trong cảnh cẩm y ngọc thực.
Chàng thậm chí bắt đầu mong mỏi Vương Trác Nghi triệu kiến, mong rằng có lẽ một ngày nào đó, Vương Trác Nghi sẽ đòi hỏi thân xác của chàng, để chàng có thể lại được nhìn thấy ánh mặt trời, nương theo hào quang bên cạnh người nữ nhân tài hoa vô song này mà tỏa sáng.
Nhưng những ngày tháng như vậy, chàng cũng chỉ có thể tự lừa dối bản thân được vài năm ngắn ngủi.
Vương Trác Nghi trước sau như một chẳng hề chạm vào chàng, càng không chịu gặp riêng chàng.
Mỗi khi triệu chàng tới hầu hạ bên mình, bên cạnh nàng luôn có một Tạ Nhân đoan trang đúng mực, âm hồn không tan kia.
Nàng ngó lơ mọi hỷ nộ ái ố của chàng, triệt để biến chàng thành kẻ vô dụng, rồi lại mắng chàng bất học vô thuật, mắng chàng tính khí quái gở, cuối cùng bắt đầu lạnh nhạt với chàng, gạt chàng sang một bên.
Lý Nhược Lâm phát điên ở những nơi nàng không nhìn thấy, khóc lóc om sòm đòi gặp nàng. Nàng cứ bỏ mặc chàng, rồi lại vào đúng lúc chàng sắp sửa tuyệt vọng mà mủi lòng, cho phép Ngô Doanh đưa chàng tới trước mặt nàng.
Mà ngay cả như vậy, trước khi gặp chàng, nàng cũng sẽ bảo Ngô Doanh truyền tới chàng một câu: “Khi diện kiến ta, hãy thu lại nước mắt của ngươi. Nếu ta thấy ngươi khóc, ngươi cứ việc đi chết đi.”
Nàng tàn nhẫn như thế, cứ như thể chàng là một người cũ từng kề vai áp má với nàng suốt nhiều năm trời, để rồi bị nàng đem lòng chán ghét.
Nàng cảm niệm chút “tình xưa” ít ỏi đó, nhưng lại chán ghét việc chàng từng cậy vào ân sủng cũ mà sinh kiêu.
Thế nhưng, chàng nào có từng được hưởng sủng ái? Chàng căn bản chẳng thể chạm tới nàng, ngay cả một lần tình cờ nổi lòng tơ vương, dưới phiến đá xanh khẽ chạm vào ngón tay buông thõng của nàng, cũng phải lĩnh trọn một cái tát vô tình từ nàng.
Kề vai áp má? Là chuyện từ kiếp trước sao?
May mà Lý Nhược Lâm chẳng hề ngu muội.
Dù chàng trước sau không nhìn thấu được Vương Trác Nghi, nhưng sau khi những đau khổ dày vò trút xuống thân xác chàng lặp đi lặp lại nhiều lần, chàng rốt cuộc cũng dần nhận ra, ngoài việc ngắm nghía chàng, Vương Trác Nghi chỉ muốn bức tử chàng trong sự ngột ngạt, giống như một người chủ muốn giam hãm cho đến chết một con chim hải đông thanh đã bắt đầu có tuổi. Sinh linh trên đời chẳng thể mãi mãi trẻ trung, rồi sẽ có ngày già cỗi, và chàng cũng không ngoại lệ.
Năm tháng tựa lật từng trang sách một đi không trở lại, năm này qua năm khác, chàng rốt cuộc cũng mọc sợi tóc bạc đầu tiên. Khi ấy Vương Trác Nghi hỏi chàng: “Chịu đựng đủ rồi chứ?” Chàng vui mừng khôn xiết, cứ ngỡ khi tuổi xuân đã vơi đi một nửa, chàng cuối cùng cũng được phép đâm chồi nảy lộc, thế nhưng Vương Trác Nghi lại buông lời: “Ngươi có thể chết được rồi.”
Nhưng chàng rốt cuộc đã làm sai điều gì? Lại vì sao phải chịu sự đối xử như thế này?
Vương Trác Nghi bảo, tất cả là vì chàng quá đỗi nhạt nhẽo, không biết cách làm vui lòng nàng.
Hừ.
Nàng nói càn.
–
Trong bóng đêm của Đồng Kính Đài, lồng ngực Lý Nhược Lâm thắt lại từng cơn đau nhói. Chàng không dám nghĩ lại cảnh tượng mình bị treo cổ, bởi chỉ cần hình ảnh ấy thoáng qua trước mắt, chàng liền muốn đâm Vương Trác Nghi một nhát thấu xương. Thế nhưng lời Tạ Nhân nói rất phải, chị gái vẫn đang phận lao tù, chàng chưa thể hóa điên vào lúc này.
Nghĩ đoạn, chàng khẽ ho khan một tiếng đục ngầu, nhắm nghiền đôi mắt rồi trở mình hướng về phía bắc, cố ép bản thân phải ngủ. Giữa lúc ấy, bên cạnh bỗng nhiên vang lên một giọng nói.
“Nhị công tử đang khóc đấy à?”
Lý Nhược Lâm mở mắt, ánh trăng xuyên qua lớp màn lụa, chiếu nghiêng lên một gương mặt thanh tú. Người nọ còn rất trẻ, nét non nớt trên mày mắt vẫn chưa phai hết, vì sợ làm thức giấc những người xung quanh nên cố đè thấp giọng xuống.
Kiếp trước Lý Nhược Lâm từng quen biết người này. Hắn tên Lý Thư Thường, xuất thân từ một chi họ hàng của nhà họ Lý, cha và anh trai làm quan nhỏ ở Lạc Dương. Ngay từ lúc cuộc chiến Tây Lũng vừa nổ ra, họ đã bị vạ lây mà bãi chức, đến nay vẫn còn bị giam trong ngục tối. Lý Nhược Lâm nhớ rõ, Vương Trác Nghi hình như có vài phần quý mến hắn, chàng thường thấy nàng ban bánh trái cho hắn ăn, tặng chim muông cho hắn chơi đùa.
Về sau, chẳng hiểu sao hắn lại chết nổi trên Phù Cừ Hải, lúc lâm chung cũng mới vừa tròn mười bảy tuổi.
“Nhị công tử đừng khóc.” Lý Thư Thường vừa nói vừa trở mình, “Ngày trước khi Thái tử Lương đệ đưa chúng ta đến đây có bảo, Thọ Linh công chúa rất thương xót chúng ta. Chỉ cần chúng ta biết vâng lời, ngoan ngoãn thì có thể cầu xin người cứu giúp tộc nhân.”
“Nàng ta lừa ngươi đấy.” Lý Nhược Lâm chẳng cần nghĩ ngợi, buông lời đập tan ảo tưởng của hắn ngay tức khắc.
Lý Thư Thường ngẩn người ra một chốc, song cũng không vì một lời của chàng mà rơi ngay vào tuyệt vọng. Hắn hãy còn trẻ tuổi, lại luôn được cha anh che chở trong nhà, làm sao thấu được tâm tư của những người nữ nhân chốn thành Lạc Dương kia.
“Nhưng tôi thấy Lương đệ là người tốt mà…”
“Đừng bao giờ tin nữ nhân.” Lý Nhược Lâm trầm giọng ngắt lời hắn, “Bằng không ngươi sẽ phải chết rất thảm đấy.”
“Hả?”
Đôi mắt đầy vẻ hoang mang ấy lấp lánh ánh nước trong đêm tối. Lý Nhược Lâm không chịu nổi sự ngây thơ của hắn, giống như chàng chẳng thể chịu nổi cái vẻ khờ khạo của chính mình ngày trước. Chàng vừa toan trở mình thì lại nghe hắn nói tiếp: “Thế thì tôi tin nam tử vậy.”
“Cái gì cơ?” Lý Nhược Lâm giận đến mức buồn cười, đột ngột quay đầu lại, thì thấy Lý Thư Thường đang nhìn mình đầy nghiêm túc: “Phò mã có dặn tôi phải chăm sóc tốt cho công tử.”
“Tạ Nhân… Lời của Tạ Nhân ngươi cũng đừng có tin…”
Lý Nhược Lâm còn chưa dứt lời, trong khoang miệng khô khốc đắng ngắt bỗng cảm nhận được một vị ngọt ngào. Chàng vội vàng muốn nhổ ra, hóa ra là Lý Thư Thường đã nhét vào miệng chàng một miếng bánh hoa mai đã gần như nát vụn.
“Ăn đi, đây là bánh phò mã cho chúng ta đấy. Lúc đằng kia truyền sai đến bảo muốn treo cổ công tử, tôi đã lén giấu một miếng, tính là để dành cho công tử.”
Lý Nhược Lâm đưa tay đón lấy miếng bánh hoa mai ấy: “Ngươi sợ ta phải làm con ma đói đấy à?”
“Vâng.” Lý Thư Thường gật đầu, “Ăn đi thôi, bọn tôi ai cũng thấy công tử gầy gò quá. Tuy rằng Điện hạ chuộng vẻ mình hạc xương mai, nhưng thân hình như công tử thế này, e là chẳng được dài lâu đâu.”
Mùi hương ngọt dịu của bánh hoa mai vẫn còn vương lại nơi đầu lưỡi. Lý Nhược Lâm đã bỏ đói bản thân suốt ba ngày ba đêm liền, mãi đến tận lúc này, chàng mới cảm nhận được cái đói cồn cào rất thực.
Chàng rúc sâu vào trong chăn nệm, cúi đầu cắn một miếng bánh hoa mai, Lý Thư Thường lại rỉ tai hỏi nhỏ chàng.
“Công tử đã hầu ngủ Điện hạ chưa?”
“Ta chưa.”
“Ồ… Vậy công tử có thể bảo cho tôi biết, có phải công tử đã phạm vào điều kiêng kị của Điện hạ rồi không?”
Lý Nhược Lâm vừa nhai bánh hoa mai, vừa uể oải ậm ừ đáp một tiếng: “Ừ.”
Lý Thư Thường có vẻ hứng chí hẳn lên: “Vậy, là điều kiêng kị gì thế? Công tử bảo tôi với, để sau này tôi có hầu ngủ Điện hạ còn biết đường mà né tránh.”
Hai chữ “hầu ngủ” đột ngột đâm mạnh vào sợi dây thần kinh nhạy cảm của Lý Nhược Lâm, chàng túm chặt lấy cổ tay của Lý Thư Thường: “Lý Thư Thường, sao ngươi có thể thốt ra hai chữ hầu ngủ một cách dễ dàng như thế hả?”
Lý Thư Thường ngơ ngác: “Ơ? Hầu ngủ thì làm sao ạ? Kìa Nhị công tử buông tay ra đã, đau tôi quá.”
Lý Nhược Lâm không kìm được tiếng quở trách: “Ngươi cũng là hậu duệ của dòng dõi thế gia, lại cam tâm hạ mình hầu hạ phận nữ nhi, mặt mũi ngươi để đâu rồi?”
Lý Thư Thường im lặng một lát, bỗng bật cười nhẹ nhõm: “Nhị công tử mới là hậu duệ thế gia chân chính, chứ cha anh tôi đều là quan nhỏ, cái vận số đời này của tôi xem chừng cũng đến hồi kết rồi. Giờ tôi chỉ muốn cứu họ ra khỏi ngục tù, đừng nói là hầu ngủ, Thọ Linh công chúa có muốn đối xử với tôi ra sao cũng được hết. Mà này, làm sao công tử biết được tên tôi thế, tôi đã nói cho công tử nghe bao giờ đâu nhỉ…”
Lý Nhược Lâm chẳng thể nào giải thích cho rõ ràng, bèn lảng tránh không thèm lên tiếng. Lý Thư Thường cũng không gặng hỏi thêm, gạt chuyện đó sang một bên, chỉ nhất mực muốn biết điều kiêng kị của Vương Trác Nghi là gì.
Lý Nhược Lâm nuốt trôi miếng bánh cuối cùng, thu mình rúc sâu vào trong chăn, trầm giọng nói: “Nàng không thích nam tử khóc lóc trước mặt mình.”
Lý Thư Thường lẩm nhẩm nhắc lại đầy nghiêm túc: “Ồ… Điện hạ không thích nam tử khóc nhè. Ơ? Thế ra hôm nay công tử khóc lóc trước mặt người đấy à?”
Lý Nhược Lâm chẳng buồn đôi co với kẻ chưa nứt mắt ra này, song lời nói của hắn lại vô tình khiến chàng nhớ về bản thân khi ở trước mặt Vương Trác Nghi. Cây trâm chàng đâm về phía nàng dẫu không trúng đích, chàng giận đến mức rối hết cả thần trí, giãy giụa điên cuồng, để rồi khi bị trói chặt lại, chàng lại khóc lóc thảm hại trước mặt nàng như một kẻ điên.
Thế nhưng… Chàng thế mà lại không chết.
Kiếp trước Vương Trác Nghi quả nhiên toàn nói càn. Kiếp trước Vương Trác Nghi quả nhiên là một kẻ chuyên nói dối. Lừa gạt tấm chân tình của chàng nhưng lại chẳng thèm màng đến thân xác chàng, sao nàng lại tàn nhẫn đến thế! Sao nàng có thể cạn tình đến vậy! Sao nàng lại có thể nhẫn tâm như thế cơ chứ…
Trong lòng nghĩ vậy, chàng nhắm nghiền hai mắt, giọt nước mắt lăn dài trước mặt Lý Thư Thường. Lần này, chàng quyết không nghe theo lời nàng nữa, chàng nhất định phải nghĩ ra cách khác, sống lại một đời này, chàng phải tự tay đoạt mạng nàng.
Đúng thế, nhất định phải bắt Vương Trác Nghi phải chết.
Dưới bóng trăng bên ô cửa sổ chấn song ở Tố Cư, tấm mành trúc treo cao, Vương Trác Nghi bỗng thấy một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng.
Hàm Chu dời cây đèn nến lại gần, khẽ hỏi Vương Trác Nghi có muốn dùng chút bánh hoa mai không, bởi lẽ sau cả một đêm náo loạn, nàng vẫn chưa ăn gì vào bụng, chỉ toàn uống một bụng rượu nồng.
Vương Trác Nghi vô cớ nhớ lại tấm thân gầy gò trơ xương của Lý Nhược Lâm, ngay lập tức chỉ muốn tự tát cho mình một cái.
Lụy vì tình ái từng suýt lấy đi mạng sống của nàng, khi được làm lại từ đầu, nhờ có lòng căm hận mà nàng đã chiến thắng được sự nông nổi của bản thân trong chuyện nam nữ. Thế nhưng kiếp này thù hận đã tiêu tan, Lý Nhược Lâm vẫn quỳ trước mặt nàng, khuôn trăng như họa, vóc dáng tựa liễu rủ, nàng thực sợ bản thân sẽ lại thua cuộc.
“Không ăn nữa, đi ngủ thôi.” Vương Trác Nghi trùm chăn kín đầu.
Hàm Chu thổi tắt đèn, khoảng trời phương đông đã lặng lẽ hửng sáng. Suốt mấy đêm liền, Vương Trác Nghi cứ trằn trọc băn khoăn, chẳng được một giấc tròn canh.
Những ngày sau đó, Vương Trác Nghi ép bản thân phải quên Lý Nhược Lâm đi, xem như chàng chưa từng tồn tại trên cõi đời này.
Thế nhưng ba ngày sau, Tạ Nhân đến gặp nàng báo rằng Lý Nhược Lâm đã tuyệt thực rồi.
Vương Trác Nghi nghe xong mà đầu nhức như búa bổ.
“Chẳng hiểu rốt cuộc chàng ta muốn cái nỗi gì nữa?”
Tạ Nhân đang vội vã tới nha môn Độ Chi Tào. Tây Sơn không giống như Thọ Khâu Lí, tuy không cần phải vào triều bái kiến mỗi ngày, song đường tới công sở xa xôi nên y buộc phải đi sớm. Ngày thường vào giờ này y đến thỉnh an Vương Trác Nghi thì nàng vẫn chưa thức giấc, hôm nay nàng lại chải chuốt gọn gàng, ngồi ở Tố Cư đợi y từ bao giờ.
Tạ Nhân nhìn thấu vẻ hoang mang khôn giấu của nàng, trái lại giọng y càng thêm bình thản: “Cậu ấy cứ ở suốt bên Đồng Kính Đài khóc lóc ăn năn, tha thiết muốn được cầu kiến Điện hạ.”
“Huynh cứ bảo với chàng ta là được, nhưng trước hết phải quất chàng ta một trăm roi đã.”
“Là tội danh gì ạ?”
Vương Trác Nghi tùy miệng đáp: “Tội làm loạn khiến ta nhức cả đầu.”
Tạ Nhân khẽ mỉm cười, bình thản nói: “Điện hạ, một trăm roi sẽ chết người đấy.” Vương Trác Nghi mất đi kiên nhẫn với Tạ Nhân, quay mặt đi buông lại một câu: “Bảo Ngô Doanh dẫn người đi đổ thức ăn cho chàng ta.”
Tạ Nhân chắp tay vâng lệnh: “Thần tuân chỉ.” Ngẩng đầu lên, y thậm chí còn đỡ lời giúp nàng một câu: “Thần vốn cũng có ý này, trong Minh Nguyệt Viên của Điện hạ mà có người chết đói, truyền ra ngoài rốt cuộc cũng chẳng hay ho gì.”
Vương Trác Nghi không nói thêm gì nữa, mượn bậc thang Tạ Nhân đưa ra mà xuống. Cứ như thế, hai bên miễn cưỡng bình yên vô sự trải qua thêm vài ngày.
Khoảng thời gian ấy, vết thương ở eo của Vương Trác Nghi vẫn chưa lành hẳn, lại vì chuyện của Lý Nhược Lâm mà gánh thêm chứng nhức đầu. Nàng dứt khoát không rời Minh Nguyệt Viên, triệu ngự y đến ở hẳn trong viên để điều dưỡng vết thương cho mình. Tạ Nhân cũng không trở về phủ công chúa ở Thọ Khâu Lí, mỗi ngày sau khi tan triều liền tới nha môn Độ Chi Tào vùi đầu bên bàn án cho đến lúc trời sập tối, mới nương theo ánh hoàng hôn nhập nhoạng rời Thừa Minh Môn đi về phía tây, một mình lên Tây Sơn.
Trong triều nghe tin Vương Trác Nghi bị thương, trên từ Kiến Nguyên Đế hạ chiếu vấn an, dưới đến hậu bối không có chức vị của hai tộc Tạ, Tiêu đích thân tới thăm hỏi, khiến cho đường núi Tây Sơn suốt mấy ngày liền xe ngựa tấp nập, nghẽn cả lối đi.
Ban đầu Vương Trác Nghi chẳng muốn tiếp bất cứ ai, chỉ đẩy Tạ Nhân ra gánh vác việc tiếp đón, còn bản thân thì tĩnh dưỡng ở Tố Cư, cho đến tận khi Tống Nùng kéo lê thân mình nặng nề quỳ rạp ở bên ngoài.
Ngày hôm ấy là ngày thứ mười lăm sau ngày sinh thần của Vương Trác Nghi, tiết trời đã cận kề trừ tịch, nàng cũng đã miễn cưỡng có thể gượng dậy bước đi. Vừa qua giờ Ngọ, nàng đang ở trong Tố Cư xem kinh văn do Trưởng công chúa Xương Bình chủ trì dịch thuật. Tống Nùng là do đích thân Ngô Doanh đưa tới, Vương Trác Nghi vốn định quở trách Ngô Doanh vì tội tự tiện chủ trương, song ông lại phân trần: “Lương đệ bảo người đến để thỉnh tội với Điện hạ, không vào Tống Viên mà chỉ xin quỳ đợi bên ngoài khuôn viên. Nhưng nô tài nghĩ, mấy ngày này người qua kẻ lại trên đường Tây Sơn đông đúc, nếu để người ta nhìn thấy nội phụ của Đông Cung quỳ thỉnh tội, e là thể diện của Thái tử sẽ khó coi.”
Vương Trác Nghi không tỏ thái độ gì, Ngô Doanh dứt khoát lại lấn tới một bước, khẩn khoản thưa: “Điện hạ vốn yêu thương Tống Lương đệ như thế, vết thương ở eo này cũng là vì cứu nàng ta mà chịu, nô chỉ sợ xử lý không khéo sẽ bị Điện hạ trách tội, thành thử mới đành đưa người vào đây trước để xin ý chỉ của Điện hạ.”
Vương Trác Nghi bước tới bên dưới tấm mành trúc, Tống Nùng đang quỳ trên một khoảng đất trống vừa mới được quét sạch tuyết, vị trí ấy vừa vặn có thể nhìn thấy ô cửa sổ của Tố Cư. Vương Trác Nghi vừa đứng dưới mành, ánh mắt hai người liền chạm nhau.
Tống Nùng không hề lên tiếng, vẫn giữ đúng lễ nghĩa mà lặng lẽ quỳ đó. Vương Trác Nghi cách một lớp mành hỏi nàng ta: “Lại là Vương Hiến ép tỷ đến đây sao?”
Nghe thấy lời này, gương mặt phẳng lặng như tờ của Tống Nùng bỗng chốc rạng rỡ nụ cười: “Trác Nghi.”
Trác Nghi. Nơi không có người, Tống Nùng vẫn gọi Vương Trác Nghi như thế, và Vương Trác Nghi cũng ngầm cho phép nàng ta vượt lễ nghi, dung túng cho nàng ta bỏ đi họ tộc hoàng gia của mình, cứ như thể hai người họ chẳng phải phận quân thần, mà là bằng hữu thân thiết. Kiếp trước, cách gọi này đã hoàn toàn chấm dứt kể từ sau đêm tiệc sinh thần ở Minh Nguyệt Viên, bởi lẽ nàng đã quyết định phải trở thành một kẻ tàn độc vô tiền khoáng hậu. Một khi đã không được phép để lộ sơ hở, thì làm sao có thể có bằng hữu cho được. Thế nên sau bữa tiệc sinh thần ấy, Vương Trác Nghi không còn thân cận với Tống Nùng nữa. Hai người họ rạn nứt rồi dần xa cách, ai nấy tự tranh đoạt sống chết phú quý cho riêng mình. Tống Nùng đứng về phía phu quân Vương Hiến, còn Vương Trác Nghi thì nắm chặt quyền lực và tiền tài trong tay, tuyệt đối không buông lỏng nửa phân. Trong ván cờ tranh đấu của con cháu hoàng gia, hai người họ đều từng hạ thủ với đối phương, đến cuối cùng thành vương bại khấu, Vương Trác Nghi trơ mắt nhìn Tống Nùng cùng bầy con thơ đi vào cõi chết, dường như cũng chẳng có điều gì để oán thán.
Vậy còn kiếp này thì sao? Phải đối đãi thế nào đây? Điều này xem ra cũng là một nan đề giống như việc đối xử với Lý Nhược Lâm vậy, song lại có đôi chút khác biệt.
Dẫu sao nàng ta cũng là một nữ tử, một nữ tử kiên cường lại cố chấp. Nếu như Vương Trác Nghi của kiếp trước còn đem lòng kiêng dè sự cố chấp của nàng ta, thì ở kiếp này, nàng lại cam lòng đứng ngoài thưởng ngoạn nó.
Nghĩ ngợi một hồi, Vương Trác Nghi tựa mình ngồi xuống bên bậu cửa sổ, hướng mắt nhìn về phía phần bụng nhô cao của Tống Nùng mà bảo: “Đường Tây Sơn khó đi như thế, tỷ cũng chẳng biết tự lượng sức mình gì cả.”
Tống Nùng khẽ rủ hàng mi, thấp giọng đáp: “Ta chỉ sợ muội vẫn không chịu gặp ta.”
Vương Trác Nghi khẽ thở hắt ra một hơi, nửa ngày sau mới tìm được một ngữ điệu nghe qua không quá khiên cưỡng: “Tỷ lo xa quá rồi, vào trong ngồi đi.”
Tác giả có lời muốn nói:
Sau chương này mình sẽ cập nhật cách ngày để hãm lại số chữ trên bảng xếp hạng. Từ thứ Năm tuần sau bắt đầu khôi phục lịch đăng hằng ngày, đến lúc đó hẳn là ai nấy đều sẽ hỏi Lý Nhược Lâm tốt ở điểm nào.
Cái nét cuốn hút của Lý Really (Lý Nhược Lâm), chỉ có Vương Joey (Vương Trác Nghi) của kiếp đầu tiên mới thấu tỏ.
