Chương 22: Tham luyến – Dịu dàng, từ bi
*
Sáng hôm sau, Mâu Văn bị Sở Lăng gọi thức giấc.
Sở Lăng diện một chiếc sơ mi kẻ ca rô, tay ôm một quyển sách, hỏi Mâu Văn trông mình có giống một cô nữ sinh theo đuổi tư tưởng tiến bộ hay không. Mâu Văn bảo vậy thì cậu phải thắt thêm một dải băng đô nữa mới đúng điệu.
Đây là buổi hẹn hò chính thức đầu tiên của Sở Lăng và anh A, cô ấy đã mong chờ đến nhường ấy. Mâu Văn mặc áo khoác dài vào rồi tiễn bạn ra tận cổng khu chung cư. Anh A đã đợi sẵn ở đó, trên tay ôm một bó hoa.
Vừa từ Boston trở về nên anh A còn chưa kịp thích nghi với sự chênh lệch múi giờ, đôi mắt hãy còn đỏ hoe, nhưng người lại vô cùng thanh sạch sảng khoái, chẳng thể nào che giấu nổi niềm hạnh phúc khi được đi hẹn hò cùng Sở Lăng.
Bó hoa anh mua hẳn là đã được tự tay chọn lựa kỹ càng từng cành một, bởi mỗi đóa hoa đều đang độ khai hoa rạng rỡ nhất. Sở Lăng đặt những đóa hoa ấy vào vòng tay Mâu Văn, anh A nói với Mâu Văn rằng nhờ cô chăm sóc giùm mấy bông hoa này, lần tới anh nhất định sẽ mời cô dùng bữa.
Mâu Văn liền bảo: “Trời đất ơi! Người đang yêu đương có khác, thật là sến súa quá đi!”
Cô đứng đưa mắt nhìn theo bóng dáng Sở Lăng cùng anh A khuất dần phía xa.
Sở Lăng nhỏ nhắn chỉ cao đến vai anh A cao gầy, cả hai đều khoác trên mình chiếc áo măng tô đen, trên cổ cùng quàng dải khăn kẻ ô đỏ mà anh A đã mua trước đó. Mâu Văn không kìm lòng được mà gửi cho Sở Lăng một dòng tin nhắn: “Sở Lăng ơi, anh A nói chẳng sai chút nào, hai người đúng thật là một đôi trời sinh mà!”
Chẳng lẽ trên thế gian này, không nên có lấy một người được ở bên cạnh người mình thương hay sao?
Mâu Văn chẳng có cho mình một nửa trời sinh, song cô lại có căn nhà đang chờ mình tới xem. Bài đăng trên diễn đàn Thủy Mộc Thanh Hoa đã có hồi âm, bảo rằng khu vực gần cổng Đông trường Thanh Hoa hiện có phòng cho thuê. Mâu Văn vốn rất thích Ngũ Đạo Khẩu, nơi ấy hội tụ cơ man nào là món Hàn ngon miệng, lại còn có những tiệm quần áo thật xinh xắn.
Vừa tới nơi, cô đã thấy có người đang đợi mình. Gã đàn ông nọ tầm chừng ba mươi tuổi, tròng kính cận dày đến gần cả phân, lúc nhìn người khác chỉ vừa chạm mắt một giây đã vội vàng lảng tránh, dáng vẻ cứ lấm la lấm lét. Khi giới thiệu về tình trạng căn nhà, thanh âm anh ta cứ râm ran như tiếng muỗi kêu, hệt như kẻ vô cùng sợ hãi việc phải giao tiếp cùng người lạ.
Căn nhà ấy cũng nằm ở tầng trệt, lúc bước vào Mâu Văn cố ý để cửa mở toang, bấy giờ mới đi theo gã vào trong.
Đó là một căn nhà cũ kỹ và tồi tàn, trong gian phòng ngủ phụ định cho thuê có kê chiếc giường tựa hồ như sắp rã rời tới nơi, phía phòng bếp đặt một chiếc bàn ăn mà mặt bàn đã bị phủ kín bởi một lớp dầu mỡ cáu bẩn. Mâu Văn đi xem nhà với một tâm thế khá cởi mở, vừa quan sát cô vừa thầm nghĩ nếu mình thuê lại nơi này, bản thân có thể sửa sang chỗ này hay bài trí lại chỗ kia, chắc chắn sẽ ấm cúng lắm.
Cái thái độ tích cực ấy của cô chỉ duy trì được cho tới khi bước vào phòng vệ sinh, khoảnh khắc trông thấy chiếc bồn cầu đã chẳng còn nhận ra màu sắc nguyên bản, bám đầy những vệt ố vàng cáu cặn, cô suýt chút nữa là nôn thốc nôn tháo.
Thế nhưng cô vẫn giữ lấy sự lịch thiệp, bảo với gã rằng mình xem xong rồi, để cân nhắc thêm đã rồi tính sau, đoạn vội vã rời đi.
Sau khi xem qua căn nhà này, Mâu Văn mới thấu hiểu được thuở ấy Sở Lăng đã phải hao tốn bao nhiêu tâm sức mới tìm được nơi mà hai người đang ở. Cho dù có phải ở ghép với người khác, cô cũng chẳng thể nào cam lòng làm phận bảo mẫu đi cọ rửa bồn cầu mỗi ngày cho được!
Cứ hễ nghĩ đến chiếc bồn cầu kia, Mâu Văn lại cảm thấy một nỗi ghê tởm trào ngược.
Từ thuở nhỏ cô đã là người “ưa sạch mắt”, giống như lời của Cát Vân Thanh hay bảo: “Cái con bé Văn Văn nhà mình chẳng thể nào nhìn thấu những thứ dơ bẩn.” Những kiểu nhà xí lộ thiên nơi vùng thảo nguyên, cô dù thế nào cũng chẳng bao giờ chịu đặt chân vào; đồ đạc trong nhà dẫu có thể cũ kỹ, nhưng tuyệt nhiên không được phép bám bẩn.
Chính vì lẽ đó, cha mẹ cô luôn hết mực để tâm, giữ cho cửa nhà lúc nào cũng tinh tươm, sạch bóng.
Chiếc bồn cầu ấy khiến Mâu Văn muốn suy sụp, nhưng hễ nghĩ đến việc sắp được gặp Tạ Sùng là lòng cô lại rộn ràng niềm vui.
Trong tâm khảm Mâu Văn, Tạ Sùng chính là “một mặt khác” của bản thân cô, là phương trời mà cô luôn hằng ao ước. Cô dành tình cảm cho Tạ Sùng, và cũng xem anh như kim chỉ nam cho chính mình. Có bận nọ Sở Lăng hỏi cô sau này muốn sống một cuộc đời như thế nào, cô liền buột miệng đáp: “Sống một cuộc đời giống như một vị khách hàng nọ của mình vậy.”
Giờ đây cô đang chuẩn bị đi gặp gỡ “một cuộc đời khác” ấy, tâm trạng cô thoắt cái đã trở nên rạng rỡ hẳn lên. Cô mải mê mua sắm trong siêu thị, chẳng biết tự lúc nào lại khẽ ngân nga câu hát. Đồ đạc trong chiếc xe đẩy cứ thế đầy dần lên, cô còn phải ngồi thụp xuống để kiểm tra lại thật kỹ, vì e rằng sẽ bỏ sót món gì đó.
Lúc thanh toán, cô lấy thẻ thành viên ra để tích điểm, trong khi đang cúi đầu gom đồ nơi quầy thu ngân thì bỗng nghe thấy tiếng một người cất lời: “Thanh toán bằng tiền mặt, tích điểm vào thẻ thành viên.”
Cô ngước mắt lên thì bắt gặp Tạ Sùng.
Cô chẳng thể ngờ rằng anh lại tìm đến tận nơi này để gặp mình.
Cô mừng rỡ hỏi: “Sao anh lại tới đây? Sao anh biết tôi đang ở chỗ này vậy?”
“Tôi chỉ cần dùng tới đầu ngón chân cũng có thể nghĩ ra được là cô sẽ ghé qua đây mua sắm trước tiên rồi.”
Vì cô định đến nhà anh nấu cơm, ắt hẳn đã soạn sẵn thực đơn và cần phải đi mua sắm trước; mà nếu đi mua đồ, cô nhất định sẽ tìm tới Siêu thị Kho bãi Thành thị Nông thôn vì nơi đó rẻ hơn những siêu thị khác; mua xong rồi cô sẽ ra chờ xe buýt chứ chẳng đời nào bắt taxi… Những chuyện này Tạ Sùng chỉ cần tùy tiện ngẫm qua là rõ mười mươi, một “Mâu Văn Grandet” chắc chắn sẽ hành xử đúng như thế thôi.
Lúc thanh toán, Tạ Sùng đưa tiền mặt trước, người thu ngân hết nhìn Tạ Sùng lại nhìn sang Mâu Văn rồi buông một câu: “Thật là xứng lứa vừa đôi, tình cảm khăng khít quá nha.”
Mâu Văn sợ Tạ Sùng sẽ phật ý nên định bụng giải thích, nhưng anh đã xách đồ bước đi rồi. Mâu Văn lẽo đẽo theo sau, toan xách giúp anh một túi đồ, nhưng Tạ Sùng lại né tránh tay cô và bảo: “Tôi giao cho cô một nhiệm vụ này.”
“Nhiệm vụ gì vậy?”
“Cô mua giúp tôi một củ khoai lang nướng được không?”
“Anh sao vậy?”
“Tôi muốn đánh rắm.”
Sáng sớm vừa mới mở mắt ra, Tạ Sùng đã cảm thấy đường tiêu hóa chẳng mấy dễ chịu, cứ như thể bụng đang bị đầy hơi vậy. Dựa theo mớ kinh nghiệm sống nghèo nàn của mình, anh cho rằng lúc này hẳn là nên ăn chút khoai lang để dễ bề… xả bớt hơi ra ngoài. Mâu Văn nghe anh nói thế, ban đầu còn cố nén nhịn được vài giây, nhưng rồi rốt cuộc cũng chẳng thể kìm lòng nổi mà ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Tạ Sùng lườm cô một cái: “Cô cười cái gì vậy?”
Mâu Văn quệt đi giọt nước mắt vì cười quá độ, đáp: “Không có gì đâu, để tôi đi mua cho anh ít thuốc uống nhé.”
Cô dẫn Tạ Sùng đi tới một phòng khám nhỏ nằm phía sau siêu thị.
Phòng khám là do một vị bác sĩ giàu thâm niên đã về hưu mở ra. Trước kia Mâu Văn từng bị cơn sốt cao đeo bám chẳng dứt, Sở Lăng đã dắt cô tới đây tiêm một mũi thuốc vào mông, tốn mười sáu tệ mà khỏi hẳn. Kể từ dạo đó, vị bác sĩ già ấy đã trở thành bậc “Thần y Bắc Kinh” trong lòng Mâu Văn. Cô dắt Tạ Sùng đi gặp vị bác sĩ, trước lúc bước vào cửa, Tạ Sùng còn thốt lên: “Tôi với cô không oán không thù, cớ sao cô lại muốn hại tôi?”
“Anh im miệng đi.” Mâu Văn dứt khoát đẩy mạnh anh vào trong.
Vị bác sĩ già đang lúc có mặt ở đó, ông tiến hành thăm khám cho Tạ Sùng rồi hỏi han kỹ lưỡng về các triệu chứng, đoạn đi vào gian phòng phía trong. Hai phút sau ông trở ra, trên tay cầm hai gói giấy trắng nhỏ, bên trong mỗi gói bọc vài viên thuốc, rồi ân cần dặn dò Tạ Sùng mỗi lần dùng một gói, chia ra hai buổi sáng tối.
“Bao nhiêu tiền ạ?” Tạ Sùng hỏi.
“Bốn tệ rưỡi.” Vị bác sĩ đáp.
Tạ Sùng chưa từng đi khám cái bệnh nào giá “bốn tệ rưỡi” cả, à không, thực ra là đã từng rồi. Thuở còn thơ dại mỗi bận đau ốm, bà nội vẫn thường dắt anh tới những “phòng khám nhỏ” tựa như thế này, chỉ cần tiêm một mũi hay uống vài viên thuốc là xong. Thuốc khi ấy cũng được gói ghém cẩn thận như thế, cứ mang về uống vào là người lại khỏe khoắn.
Anh trả tiền xong xuôi, vừa mới bước chân ra khỏi cửa thì Mâu Văn đã cầm lấy một gói thuốc rồi xé mở, ra lệnh cho anh “há miệng ra”. Tạ Sùng còn chưa kịp hiểu ý cô là gì thì cả lòng bàn tay cô đã áp sát lên khuôn miệng anh, dùng “chưởng phong” đẩy thuốc vào tận sâu trong cuống họng, đoạn cô hất cằm anh lên, ép anh phải nuốt xuống cho bằng được.
Tạ Sùng không khỏi bàng hoàng, bấy giờ Mâu Văn lại đắc ý bảo: “Hồi nhỏ tôi nuôi mấy chú chó nhỏ cũng toàn cho uống thuốc kiểu này đó, hì hì. Mấy con cừu non mà đổ bệnh cũng đều ăn như thế cả.”
Dứt lời, nhận thấy ánh mắt của Tạ Sùng dường như muốn lóc thịt mình ra tới nơi, cô bèn nhe răng cười với anh: “Heo con cũng ăn theo kiểu đó luôn á. Hì hì.” Mấy câu sau này đơn thuần chỉ để chọc tức anh thôi.
“Làm sao cô có thể tìm được cái nơi này ở Bắc Kinh hay vậy?” Tạ Sùng cảm thán: “Bắc Kinh sao lại vẫn còn tồn tại những nơi như thế này nhỉ?”
Mâu Văn đáp: “Ở Bắc Kinh này, những nơi anh không biết tới còn hằng hà sa số. Tuy anh là dân Bắc Kinh chính gốc, nhưng nói thật lòng, anh chẳng hề hay biết những người khác đang sinh sống ra sao đâu.”
“Cô đã từng khám bệnh gì ở đây rồi?” Tạ Sùng hỏi.
“Bị sốt thôi.” Mâu Văn đáp: “Cơn sốt cao dai dẳng chẳng chịu lui, mà đi bệnh viện thì vất vả gian nan quá. Sở Lăng, chính là cô bạn thân của tôi đã dắt tôi tới đây đó. Còn ai đã dắt Sở Lăng tới ư? Là một người bạn học của cậu ấy… Tất thảy đều là sự truyền thừa của giới Bắc phiêu cả đấy.”
“Cô mà cũng biết đổ bệnh sao?” Tạ Sùng thốt lên: “Trông cô hệt như một con bê con khỏe khoắn vậy.”
“Mẹ tôi bảo: Hễ còn ăn cơm gạo ngũ cốc thì ai mà chẳng có lúc ốm đau.”
Tạ Sùng khẽ “ừm” một tiếng.
Anh cảm thấy bản thân đã nhẹ nhõm hơn đôi chút, chẳng phải nhờ vào linh đan diệu dược gì, mà là bởi anh cứ tay xách nách mang bao nhiêu thứ đồ đạc, đi tới rồi lại đi lui, thì dẫu có tích thực đầy bụng đến đâu cũng đến lúc phải tiêu hóa cho bằng hết. Anh xếp đồ đạc lên xe, rồi chở Mâu Văn hướng về phía Vạn Liễu mà đi.
Mâu Văn chợt hỏi: “Tôi đến nhà anh lúc này có tiện không?”
“Không tiện, cô xuống xe đi.” Tạ Sùng đanh mặt lại nói, đoạn hỏi ngược lại: “Mà sao lại không tiện cho được?”
“Ngộ nhỡ nhà anh đang có bạn bè ở đó thì sao?”
“Có bạn tôi đã báo trước cho cô hay rồi.”
“À.”
Cả hai chẳng ai nói với ai thêm lời nào nữa. Lúc dừng chờ đèn giao thông, Tạ Sùng khẽ liếc nhìn Mâu Văn một cái, thấy cô đang đăm đắm dõi mắt ra ngoài cửa sổ, chẳng rõ đang suy tính điều gì. Anh vốn chưa từng đối đãi với một người con gái dành tình cảm cho mình bằng tư cách bạn bè, thế nên cũng chẳng biết phải hành xử thế nào mới là đúng đắn.
Đối với Mâu Văn, sâu thẳm trong lòng anh vẫn luôn canh cánh một nỗi áy náy sâu sắc.
Anh chợt nhận thức được rằng bản thân mình đã quá đỗi tham lam, và cũng thật sự nhẫn tâm.
“Tôi xin lỗi.” Anh cất lời.
“Sao cơ?” Mâu Văn hỏi lại.
“Không có gì đâu.”
Tiếng chuông điện thoại của Mâu Văn lại một lần nữa reo vang, cô nhấn nút nghe, đầu dây bên kia chính là gã thanh niên đã gặp lúc đi xem nhà hồi buổi sáng.
Gã ướm hỏi liệu có phải cô đã ưng ý căn nhà nọ rồi chăng? Mâu Văn đáp là không, cô chẳng hề vừa mắt chút nào.
Âm lượng từ chiếc điện thoại của cô vốn dĩ không hề nhỏ, những lời đối phương nói Tạ Sùng đều có thể nghe ra rành mạch, song anh vẫn cứ giữ nguyên vẻ mặt lạnh nhạt mà lắng nghe.
Đối phương lại gặng hỏi Mâu Văn, liệu có phải là vì vấn đề tiền nong hay không?
Mâu Văn đáp rằng không phải, rồi bảo thôi chào nhé.
Ngay khoảnh khắc cô định cúp máy, kẻ nọ liền vội vã can ngăn: “Cô đừng vội cúp máy mà, hay là cô chẳng cần phải đưa tiền đâu, hai ta cứ ngủ chung một phòng, tiền thuê nhà để tôi gánh hết cho…”
Tạ Sùng đột ngột giật phắt lấy điện thoại của Mâu Văn rồi lớn tiếng mắng chửi: “Con mẹ mày! Mày vừa thốt ra cái thứ gì đó? Thằng khốn này, mày cứ liệu hồn mà đợi đó, tao nhất định sẽ tới dỡ nát cái nhà của mày ra!”
Đầu dây bên kia vội vã cúp máy trong nỗi kinh hoàng. Mâu Văn giành lại chiếc điện thoại, chỉ thấy gương mặt Tạ Sùng đã vì quá tức giận mà tái mét cả đi.
“Ai vậy? Chuyện này là sao hả? Cô đang làm cái gì vậy?” Tạ Sùng giận đến mức xây xẩm mặt mày, hai tay đập mạnh lên vô lăng: “Cái thằng ngu xuẩn đó đang lảm nhảm cái gì thế? Nhà đang ở yên lành, tại sao cô lại phải đi tìm nhà khác? Rốt cuộc là cô đang làm cái trò gì vậy? Giờ cô nói cho tôi hay cái thằng khốn đó đang ở đâu ngay!”
Mâu Văn cũng đang trong cơn giận ngút trời, Tạ Sùng lại còn mắng cô, anh mắng cái gì cơ chứ?
Cô giật lại điện thoại rồi gọi ngược trở lại, vừa mới kết nối đã tuôn ra một tràng: “Nếu anh có tiền thì trước tiên hãy đi bệnh viện mà chữa cái đôi mắt lác của anh đi! Rồi sẵn tiện thay luôn cái bồn cầu dội nước chẳng trôi nơi nhà anh nữa! Còn không được nữa thì anh làm ơn soi gương lại mình đi! Xem bản thân mình là cái loại đức hạnh gì! Cái mặt anh trông đã thấy thất đức rồi, chẳng ngờ cái nết của anh còn thất đức hơn! Anh thử gọi cho tôi lần nữa xem! Tôi sẽ tạt thẳng cái thứ nước bẩn trong bồn cầu nhà anh vào mặt anh đó! Đồ ngu!”
Cô mắng xong mà lồng ngực vẫn còn phập phồng vì giận dữ, Tạ Sùng đứng bên cạnh chẳng dám hé môi. Anh thật sự chẳng ngờ khi Mâu Văn nổi trận lôi đình lại đáng sợ đến nhường ấy. Xưa nay, anh vốn chưa từng thấy cô nổi nóng bao giờ.
Cơn giận này trút ra thật đúng lúc, khiến lòng dạ cả hai bỗng chốc trở nên thông suốt, nhẹ nhõm hẳn đi. Họ đưa mắt nhìn nhau, rồi chẳng ai nhịn được nữa, đồng thanh bật cười thành tiếng.
“Chuyện này là sao vậy?” Tạ Sùng hỏi: “Tại sao cô lại phải đi tìm nhà lần nữa?”
“Sở Lăng, cô bạn cùng phòng của tôi đã có người yêu rồi, cậu ấy định dọn về sống chung với bạn trai. Cậu ấy bảo sẽ đưa tôi theo cùng thuê một căn hộ nhỏ hai phòng ngủ, nhưng tôi chẳng muốn làm ‘kẻ phá bĩnh’ chút nào. Thế nên mới tính chuyện tự mình đi tìm chỗ ở mới.”
“Tìm ở nơi nào?”
“Trên trang mạng cộng đồng Thủy Mộc Thanh Hoa.”
“Sau đó thì sao? Ở ghép với người lạ ư? Đàn ông cũng được sao?” Tạ Sùng chẳng thể nào hiểu nổi, cớ sao lại phải làm như vậy? Chẳng lẽ không thấy nguy hiểm hay sao? Làm sao cô biết được gã đàn ông kia là người hay là quỷ?
Thế nhưng thực tại vốn dĩ là như thế, khi ở ghép người ta thường ưu tiên cho người cùng giới, song nếu đối phương là kẻ đàng hoàng thì cũng chẳng có gì đáng ngại. Cô hỏi Tạ Sùng: “Lúc anh đi du học nơi xứ người, anh không ở chung với người khác sao? Chẳng lẽ anh còn phải kén chọn bạn cùng phòng là nam hay nữ à? Anh…”
“Tôi đâu có ở ghép. Nhà tôi đã mua sẵn bất động sản bên Luân Đôn rồi.”
Mâu Văn bỗng chốc lặng thinh, cô nhận ra việc mong cầu Tạ Sùng thấu hiểu hoàn toàn mình là điều bất khả thi. Anh vốn dĩ chẳng mảy may hiểu được những lẽ này, bởi lối tư duy giữa anh và cô vốn đã chẳng hề tương đồng.
“Để tôi đi cùng cô.” Tạ Sùng bất chợt lên tiếng.
“Sao cơ?”
“Khi nào cô đi xem phòng, cứ để tôi đi cùng cho.” Tạ Sùng nói: “Cô tuyệt đối đừng có đi một mình. Cho dù là hai người con gái đi chung cũng không nên đâu. Cứ như tình cảnh ngày hôm nay, ngộ nhỡ trong nhà kẻ đó có ẩn nấp vài ba gã đàn ông lực lưỡng, thì dẫu cô có là đệ nhất Ba Đồ Lỗ của vùng Nha Khắc Thạch đi chăng nữa, cũng sẽ gặp chuyện chẳng lành thôi, cô hiểu không?”
“Đệ nhất Ba Đồ Lỗ của Nha Khắc Thạch sao?”
Tạ Sùng nhận thức được mình vừa lỡ lời, bèn vội vã chuyển chủ đề: “Cô vẫn còn viên bánh sữa chứ? Cho tôi xin một ít, những lúc tắc đường buồn chán có thể mang ra nhấm nháp.”
“Viên bánh sữa của đệ nhất Ba Đồ Lỗ vùng Nha Khắc Thạch này sao?”
Mâu Văn vung nắm đấm định nện cho anh một trận, anh chỉ giả lả rụt cánh tay lại, làm bộ làm tịch như đang sợ hãi lắm. Mâu Văn mỉm cười nhìn ngắm góc nghiêng gương mặt anh. Cô chợt nhận ra mình đem lòng cảm mến Tạ Sùng, tuyệt nhiên chẳng phải vì dung mạo hay sự giàu sang, mà chỉ đơn thuần là vì chính con người anh đó thôi.
Tạ Sùng quả thực là một người đàn ông thiện lương.
Những thói đời nhỏ nhen hay sự vẩn đục thường thấy ở những gã đàn ông ngoài kia, nơi Tạ Sùng tuyệt nhiên chẳng hề vướng bận chút nào. Anh chính là một bậc chính nhân quân tử, đường đường chính chính, khoáng đạt hào sảng, và lại vô cùng minh bạch rõ ràng.
Cô nhất định phải dụng tâm nấu một bữa cơm thật ngon lành để chiêu đãi con người tốt bụng ấy.
Lần này, cô định sẽ vì Tạ Sùng mà bày biện một bàn tiệc “hội tụ tinh hoa trời nam biển bắc”, một sự giao thoa phong vị giữa những thức quà của núi rừng và vị mặn mòi nơi đại dương sâu thẳm.
Cô sẽ làm món gà hầm nấm rừng, cá đù vàng kho hành, bạch tuộc xào cay, gỏi sứa thái sợi, khoai tây bào sợi xào lướt cùng ớt khô, dưa leo đập dập trộn gia vị, rồi sau cùng là nấu một nồi cơm trắng gạo mới thơm lừng lẫy cả gian bếp.
Khi cô đứng giữa gian bếp, xướng lên tên của từng món ăn cho Tạ Sùng nghe, anh suýt chút nữa đã vỗ tay tán thưởng cô. Hôm ấy anh không phải làm việc, bèn xắn tay áo lên phụ cô một tay.
Thuở nhỏ, mỗi khi phụ giúp bà nội hay bà ngoại, Tạ Sùng thường phải đứng trên một chiếc ghế đẩu bằng gỗ nhỏ xíu, có như vậy anh mới cao hơn được cái bệ bếp. Vừa lột tỏi, anh vừa hồi tưởng lại khung cảnh năm nào, rồi chợt nhận ra mình dường như đã bao năm dài chẳng còn được sống những ngày tháng như thế nữa.
Kể từ dạo mới vừa bước qua tuổi lên mười, anh đã bắt đầu cuộc sống đơn độc một mình. Dẫu sao anh cũng có tiền, hàng quán khắp đất Bắc Kinh này anh muốn ghé đâu tùy ý, về tới nhà là lăn ra ngủ, rồi cứ thế mà lẳng lặng trưởng thành.
Ngay lúc này đây, trong gian bếp của anh, Mâu Văn đang thoăn thoắt thái từng sợi khoai tây. Kỹ thuật dùng dao của cô vô cùng điêu luyện, lưỡi dao đưa xuống mặt thớt nhanh như chớp, theo sau những tiếng “lộc cộc” giòn tan, từng sợi khoai tây đều tăm tắp cứ thế hiện ra, xếp hàng ngay ngắn.
Cô tự hào ngắm nghía thành quả của mình: “Đúng là một đôi tay tài hoa mà!”
Lòng cô tràn đầy sự đắc ý và tự tại.
Cô lẩm bẩm một mình: “Khoai tây thái đẹp thế này, nếu mà tráng thêm mấy xấp bánh nướng để cuốn ăn kèm thì tuyệt biết mấy! Phải rồi, tráng bánh thôi!”
Cô vỗ tay tán thưởng quyết định của chính mình, rồi vừa xoay người lại đã bắt gặp Tạ Sùng đang chăm chú nhìn mình. Có lẽ anh đã đứng đó quan sát cô từ rất lâu rồi, Mâu Văn có một linh cảm mãnh liệt như thế, rằng anh đã dõi theo cô tự nãy giờ.
Ánh mắt anh nhìn cô sâu thẳm khiến cô bỗng thấy bồn chồn, bèn lắp bắp hỏi: “Tráng… tráng bánh ăn nhé?”
Tạ Sùng thu hồi ánh mắt: “Ăn chứ.”
“Anh có thích ăn không?”
“Lâu lắm rồi tôi không ăn.”
“Đã bao lâu rồi?”
“Chắc cũng đã hai mươi năm rồi.” Tạ Sùng khẽ đáp: “Kể từ ngày những người lớn trong nhà khuất núi, tôi chưa từng được thưởng thức lại phong vị bánh tráng tại chính gian bếp nhà mình, mà mỗi lần ra ngoài dùng bữa, tôi cũng chẳng hề nghĩ tới việc gọi món này.” Thanh âm anh trầm xuống, nét mặt thoáng hiện vẻ u buồn.
Mâu Văn bước đến trước mặt anh, khẽ vỗ vỗ lên vai anh mà rằng: “Ôi, tôi xin lỗi nhé…”
Tạ Sùng ngoảnh đầu lại nhìn cô.
Mâu Văn tựa như một ngọn lửa rực cháy, không chỉ thiêu đốt gian bếp vốn dĩ lạnh lẽo của anh mà còn sưởi ấm và vỗ về cả con người anh trong bầu không khí nồng đượm ấy.
Anh đưa tay xoa nhẹ lên mái tóc Mâu Văn, mỉm cười bảo: “Ba Đồ Lỗ.”
Bàn tay anh thật mực dịu dàng, Mâu Văn liền bắt chước chú cún nhỏ mà nghiêng đầu nương theo: “Anh xoa thêm vài cái nữa đi, hay là anh xoa bóp đầu cho tôi luôn nhỉ?”
Tạ Sùng bật cười ha hả, rồi túm lấy cổ áo cô mà xách cô ra xa một chút.
“Cô đừng đi thuê nhà nữa.” Anh nói.
Thanh âm trong bếp đang lúc ồn ã khiến Mâu Văn nghe chẳng rõ lời, cô bèn cao giọng hỏi lại: “Gì cơ?”
“Tôi bảo là, cô đừng có đi thuê nhà nữa.” Tạ Sùng lặp lại.
Chú thích:
Bắc Phiêu là từ lóng chỉ những người từ nơi khác đến Bắc Kinh làm việc nhưng không có hộ khẩu tại đây.

Ảnh bảo chưa iu mà ảnh cỡ này hèn gì khi ảnh biết mình iu rồi là ảnh cứ thằng rác rưởi nào miết luôn🤣🤣