Chương 5: Cảnh khốn cùng của An Di.
*
An Di bước lên tầng, thấy quầy lễ tân đang bị mấy người vây quanh, tiếng bàn tán xôn xao náo nhiệt. Gia Gia cố chen lời vào nhưng giọng nói yếu ớt của cô hoàn toàn bị lấn át bởi những tiếng trách móc dồn dập như súng liên thanh. Gia Gia vừa cười áy náy vừa ngẩng lên thấy An Di liền nháy mắt ra hiệu. An Di dừng khựng bước chân.
“Sắp xong rồi, sắp xong rồi ạ! Sẽ có điện ngay thôi! Xin lỗi mọi người nhiều, bà chủ bên em đang cùng thợ xắn tay áo tập trung sửa chữa rồi ạ.”
Một người phụ nữ dáng người đậm đà bảo: “Một hai tiếng trước cô cũng nói thế, còn bảo là nhảy cầu dao, gạt lên lại là xong, thế mà giờ bao lâu rồi? Lừa phỉnh ai đấy? Mấy người còn có mở cửa kinh doanh nữa không? Đoàn chúng tôi toàn người có tuổi, thời tiết thế này mà không có điều hòa, nhỡ rét run cầm cập ra đấy có mệnh hệ gì thì mấy người chịu trách nhiệm nổi không? Mau hoàn tiền lại đây!”
Một người đàn ông khác xắn tay chen vào, gân xanh trên cổ nổi phồng lên: “Chúng tôi chẳng cần biết mấy người làm trò gì, đó là việc của mấy người. Hoàn tiền lại đây để chúng tôi đi tìm chỗ khác ở! Cô không quyết định được thì gọi bà chủ mấy người ra đây!”
An Di nghe thấy những âm thanh náo nhiệt bực bội ấy thì đầu óc muốn nổ tung. Cô lập tức xoay gót chân bước về phía gian bếp bên cạnh, băng qua chiếc đảo bếp và bếp xào bằng inox, mở cánh cửa hông rồi đứng bên mép cửa hít một hơi thật sâu làn không khí lạnh giá bên ngoài.
Cánh cửa hông này nằm đối diện với cửa hông của tòa nhà bên cạnh, khoảng cách giữa hai tòa nhà chưa đầy bốn mươi hẻm nhỏ hẹp năm mươi xentimét, chỉ đủ cho một người lách qua. Bình thường cũng chẳng có ai đi lại đường này, mép tường bám đầy rêu xanh.
Gió lạnh thổi tới làm cô đau đầu, đôi chân bắt đầu mất dần cảm giác, nhưng cô vẫn đứng im phăng phắc, thẫn thờ nhìn vào chiếc cửa chống trộm bằng kim loại đối diện.
Trong buổi sáng đầu xuân u uất, cô lại sực nhớ về những ngày hè oi ả như đổ lửa, nhớ về một Bạch Xuyên của mười mấy năm về trước.
Cô như thể cảm nhận được cái nóng rát của ánh nắng mặt trời thiêu đốt trên da thịt, phát ra những tiếng “xèo xèo” cùng cảm giác đau nhói nhẹ. Ánh nắng rọi xuống mặt đất phản chiếu lên không trung, khắp nơi là một màu trắng xóa chói mắt. Tiếng ve sầu trên cây ngô đồng kêu “ve ve” râm ran, con chó dưới bóng cây nằm dật dờ uể ải, lưỡi thè ra dài ngoẵng. Cây kem vừa lấy ra từ tủ đông bốc khói trắng nghi ngút, dòng suối Tam Thanh ở phía nam thị trấn chảy cuồn cuộn, ánh mặt trời đỏ rực treo lơ lửng trên mặt nước. Mấy đứa trẻ nhân lúc người lớn không chú ý liền lao xuống nước, cười nói khặc khặc hô hố.
Những con người cô từng gặp vào mùa hè năm ấy, giờ họ đã đi đâu mất rồi?
Bên trong gian bếp phía sau, chiếc máy móc vang lên tiếng “tít tít”. Cô bật nhảy lên, nhận ra đã có điện trở lại. Tạ ơn trời đất! Cô mới bước vào nhà hai bước lại dừng khựng chân, cô chẳng còn chút sức lực nào để trò chuyện với bất kỳ ai nữa.
Cô khép cánh cửa hông lại, khóa chặt, hất mông ngồi xuống chiếc bàn chế biến bằng inox mà thẫn thờ.
Cái lạnh băng của inox nhanh chóng xuyên qua lớp quần áo, mang lại cho cô một cảm giác buốt giá.
Căn bếp tỏa ra một mùi ẩm mốc thoang thoảng hòa lẫn với mùi dầu mỡ tích tụ nhiều năm. Nó đã bị bỏ hoang một thời gian rồi. Từ khi khách sạn chuyển sang đón các đoàn du lịch giá rẻ thì không còn phục vụ bữa sáng nữa, căn bếp này liền chẳng còn đất dụng võ.
Cô đảo mắt nhìn quanh một lượt, thấy những thiết bị sáng bóng rực rỡ. Năm xưa người sắm sửa ra đống đồ này chắc hẳn cũng từng tính chuyện làm ăn lớn lao lắm, giống như đời người vậy: mỗi đứa trẻ ra đời đều được bao bọc trong niềm vui và những lời chúc phúc, cứ ngỡ nó sẽ có một cuộc đời tươi đẹp. Thế nhưng, thế nhưng mà, đời người lại giống như căn bếp bỏ hoang này, tỏa ra mùi ẩm mốc.
Cô lê từng bước chân quay trở lại sảnh lớn. Đèn trong sảnh đã bật sáng, ánh sáng vàng ấm áp mang lại cảm giác dễ chịu. Phía sau quầy lễ tân chỉ còn mình Gia Gia.
Thấy An Di, cô ấy bảo: “Bà chủ ơi, anh Tán thấy chị không có ở đây nên đi về rồi, bảo chị kết bạn WeChat với anh ấy, có việc gì phía sau anh ấy nhắn qua WeChat.”
An Di gật đầu bảo vâng, tựa vào quầy lễ tân, lấy điện thoại ra nhập dãy số Gia Gia đọc, tìm thấy WeChat của Tán Vân rồi gửi yêu cầu kết bạn.
Ảnh đại diện WeChat của anh là con số “24”, hình nền là một màu đen tuyền.
“Mấy vị khách lúc nãy sau đó thế nào rồi em?” Cô hỏi Gia Gia.
“Không sao ạ, có điện cái là họ cằn nhằn xả giận vài câu rồi thôi. Làm khách sạn lâu năm là thế đấy chị, nhiều khách thích trút giận lên đầu mình lắm, đừng chấp làm gì cho mệt người, cứ coi như rùa đọc kinh là xong.”
An Di rất thích tính cách không bao giờ tự làm khổ mình thế này của Gia Gia. Cô bảo: “Dù sao cũng là sai sót của bên mình, nếu khách có bực bội quá thì cứ giảm giá cho họ một chút, hòa khí sinh tài.”
Gia Gia đáp: “Vâng ạ, em biết rồi. Em bảo với họ là khó khăn lắm mới xin được ý kiến bà chủ giảm giá cho đấy, người bình thường là không bớt cho đâu.” Cô ấy lại nhướng mày hỏi: “Thế nào chị, anh Tán nhà em đáng tin đúng không? Vẫn phải để anh ấy ra tay gánh vác, chứ mà chờ cái ông họ Hoàng kia thì hoa râm bụt cũng héo quắt rồi.”
An Di cũng phụ họa theo vài câu.
Gia Gia vẫn chưa hết hứng khởi, tiếp lời: “Hôm nay cũng coi như may mắn cho chúng mình, anh Tán tự nhiên lại ở nhà nên mới xử lý êm đẹp được. Chứ bình thường á, chưa tối om là anh ấy chẳng mò về nhà đâu, lúc đấy thì chị em mình chỉ có nước ngồi khóc, giờ này chắc quầy lễ tân bị vây kín rồi. Ôi chao, may thật đấy! Hồi nãy em còn hỏi anh ấy: ‘Anh ơi, ban ngày ban mặt sao tự dưng lại rảnh rỗi ở nhà thế?’, anh ấy bảo hôm qua bị trật cổ tay nên muốn nghỉ một ngày. Đúng là khéo thật.”
An Di nhớ lại dáng vẻ hai tay anh dùng sức vặn ốc vít lúc nãy, trong lòng cảm thấy có chút áy náy. Cô nhìn vào điện thoại thấy Tán Vân đã đồng ý kết bạn. WeChat của anh chẳng có điểm gì màu mè hoa lá cờ, tên nick đơn giản chỉ là “Tán Vân”.
Cô gõ bàn phím gửi lời chào anh, đồng thời đề cập đến chuyện tiền bạc.
Gia Gia nói với cô: “Ơ đúng rồi, em mới nhớ ra! Buổi sáng lúc chị không có ở đây, bên Đội Quản lý đô thị lại gọi điện tới nữa đấy ạ, bảo tuần sau trước thứ Sáu chị nhất định phải qua đó một chuyến, mang đầy đủ giấy tờ hồ sơ đi.”
An Di ngẩng đầu nhìn cô ấy. Cô nhớ lại hồi mới tới đây Gia Gia quả thực có nói với cô chuyện này, cô suýt chút nữa thì quên mất. Trái tim cô lại một lần nữa chìm xuống tận đáy.
“Lần trước em bảo, lúc nào cũng có người tố cáo khách sạn mình đúng không?”
“Vâng ạ, tầm nửa năm một lần, từ hồi em vào làm tới giờ chưa từng ngắt quãng. Chúng em đoán chắc là cùng một người, đối phương biết rất rõ ngọn ngành chuyện nhà mình. Hồi trước sếp Trình còn ở đây, lần nào cũng chửi thề om sọ, bảo chẳng biết đã đắc tội với kẻ nào mà cứ như chó dại bám riết không tha. Người Bạch Xuyên đâu có xấu tính đến thế, chỉ có thể là lỡ đắc tội với ai thôi. Bà chủ ơi, có phải nhà chị từng có hiềm khích với ai không?”
An Di lắc đầu, chính cô cũng không biết. Theo lý mà nói thì căn nhà này mua xong là cho thuê ngay, gia đình cô thậm chí còn chưa từng tới ở, cũng chẳng sinh sống tại đây, làm sao mà đắc tội với ai được cơ chứ? Nhưng nếu không phải là đắc tội với người ta thì chuyện này lại chẳng thể giải thích nổi, thế nên đến chính cô cũng không dám khẳng định nữa.
Nội dung tố cáo cũng chẳng có gì to tát, chẳng qua là hồi căn nhà này mới xây xong, tầng một đại sảnh có khoảng thông tầng. Lúc sửa sang lại, bố cô bảo không gian này lãng phí quá nên mới đổ sàn bê tông ở khoảng thông tầng đó để làm thêm một phòng nữa, chỉ có thế thôi.
Nếu không phải người trong nghề, không phải người từng làm việc với họ thì không thể biết rõ mồng một mười mươi như vậy được.
“Nhiều lần như thế rồi, cứ lặp đi lặp lại một vấn đề, bên Quản lý đô thị nói sao?” An Di hỏi Gia Gia.
Gia Gia nhìn ngó xung quanh, ghé sát đầu lại gần An Di, nhỏ giọng bảo: “Thì biết làm sao được ạ, nếu làm theo quy định thì chắc chắn là không đúng quy chuẩn rồi. Nhưng mở cửa làm ăn kinh doanh nhà nào mà chẳng có chút vấn đề nhỏ. Sếp Trình năm nào cũng phải đi ‘điều đình’ lót tay, việc lớn thì không xảy ra đâu. Em nghe ông ấy bốc phét là thủ tục thì vẫn phải diễn qua một lượt. Bà chủ ơi, chị mới tới đây, phải tìm cách đi ‘bái bến tàu’ (đi ngoại giao chào hỏi các bên) thôi.”
An Di gật đầu nhận lời, trong lòng lại hoàn toàn mờ mịt. Đối với mấy chuyện ăn uống nhậu nhẹt, tâng bốc nịnh hót để kết giao này cô hoàn toàn mù tịt, cũng chẳng biết phải bắt đầu từ đâu. Nhưng cô không có sự lựa chọn, không biết cũng bắt buộc phải học.
Phiên chợ bên ngoài đã tản. Mấy người công nhân vệ sinh mặc áo gile màu cam cầm chổi dọc theo con phố quét rác. Một bác gái có tuổi đang nhặt rác bên ngoài khách sạn, khom lưng nhặt hai chiếc vỏ chai nước khoáng. Thấy An Di đang nhìn mình, bác gái nở nụ cười lấy lòng, giơ chiếc chai lên ra hiệu, ý muốn hỏi: Đây có phải chai của cô không?
An Di lắc đầu. Bác gái mãn nguyện nhét chiếc chai vào chiếc bao tải rứa trong tay, tấm lưng còng chầm chậm bước đi xa dần.
“Em có biết sếp Trình hồi trước đi ‘điều đình’ như thế nào không? Là hẹn người ta tới đây, hay tới văn phòng người ta, hay là hẹn ra ngoài ăn cơm?” Cô đứng đó trò chuyện bâng quơ với Gia Gia.
Gia Gia lập tức hào hứng: “Bây giờ làm gắt lắm chị ơi, ai mà dám ở văn phòng hay trên địa bàn của mình cơ chứ, thế thì ngu quá. Em nghe sếp Trình nổ là lần trước người ta sắp tới chỗ mình kiểm tra, trong túi ông ấy đã thủ sẵn đồ rồi. Ông ấy ra con đường người ta bắt buộc phải đi qua để chờ, thấy xe người ta tới liền chặn lại, quăng cái phong bì trong tay vào trong xe người ta rồi bảo: ‘Sếp ơi, đây là tài liệu sếp cần ạ’. Thế là hai bên tự hiểu với nhau rồi. Bà chủ ơi, chị mau học hỏi đi thôi, sao mà đến cả em cũng không bằng thế này?”
An Di cảm thán một câu: “Giỏi thật đấy.”
Tầm năm sáu giờ chiều, cơn gió tây bắc thổi suốt cả ngày rốt cuộc cũng ngừng hẳn. Mây chì giăng trên trời bị thổi tản đi, biến mất không còn dấu vết. Bầu trời nhìn qua còn sáng xẻo hơn cả ban ngày, dự báo ngày mai trời sẽ hửng nắng.
An Di bước ra khỏi khách sạn, đi dạo theo phố Phi Hạc về phía tây để ăn tối. Cô đi qua một tiệm trà sữa Mixue/CoCo, vài cửa hàng quần áo trẻ em và một tiệm đồ chơi, rồi bước vào tiệm ăn vặt nhà họ Hứa.
Căn tiệm không lớn, rộng chừng vài mươi mét vuông, kê năm sáu chiếc bàn ăn màu đỏ. Ở một góc bàn có dán chiếc biển số màu xanh tròn tròn ghi 1, 2, 3… Phía sau tiệm là căn bếp, tiếng vá chảo va chạm và tiếng quạt thông gió gầm rú từ căn bếp truyền ra đằng trước nghe rõ mồng một mười mươi. Vì diện tích tiệm nhỏ nên các kho kho bia, nước ngọt cùng đũa dùng một lần và khăn giấy không có chỗ để, đành chất đống chật chội ở lối nối giữa gian bếp và mặt tiền.
Trên tường lắp mấy chiếc quạt điện. Mặt sàn mài đá chẳng biết là do dính dầu mỡ hay do dùng lâu năm bị mài mòn mà trông xám xịt.
Lúc này trong tiệm không có khách. An Di bước vào, chị chủ tiệm đang dọn bàn thấy cô liền dùng tiếng địa phương xởi lởi chào hỏi: “Đến rồi đấy à, ngồi đi em.”
An Di mỉm cười, đi tới chiếc bàn nằm sát gian bếp nhất, ngồi xuống ở vị trí đối diện với cửa tiệm. Lần nào tới cô cũng ngồi ở vị trí này.
Chị chủ tiệm hỏi cô: “Hôm nay ăn gì em?”
“Cho em một đĩa bún xào khô nhé.”
Chị chủ tiệm đáp một tiếng, quay người đi vào gian bếp phía sau dặn dò người chồng đang cầm chảo. Rất nhanh sau đó, tiếng quạt thông gió lại rầm rộ vang lên.
Bún xào khô là món ăn vặt phổ biến nhất ở Đạo Nam), dùng loại bún sợi nhỏ mảnh như sợi tóc, đồ xào kèm rất phong phú: đậu phụ rán thái sợi, cà rốt, bắp cải, trứng gà, thịt lợn thái sợi và giá đỗ, dặm thêm chút xì dầu, màu sắc và hương vị đều trọn vẹn.
Các tiệm ăn vặt địa phương còn thích ăn kèm với mấy món nhắm như đầu vịt, đậu phụ om. An Di không quen ăn nên chưa bao giờ gọi mấy món ăn kèm này.
Mặc dù trời vẫn chưa tối hẳn nhưng đèn đường bên ngoài đã thắp sáng, tỏa ra ánh vàng cam dịu nhẹ.
Cô cúi đầu lướt điện thoại, thấy bố cô gửi cho cô một tin nhắn. Cô bấm vào xem: “Có một khoản lãi ngân hàng phải trả trước thứ Sáu này, con xem bên đó có gom nổi hai vạn gửi cho bố không, tìm cách gom giúp bố nhé.”
Trái tim cô lỡ mất một nhịp. Cô tắt màn hình điện thoại, trút ra một hơi thở dài thượt, cảm thấy tim mình đập thổn thức khó chịu, lồng ngực ngột ngạt.
“Có rồi đây, có rồi đây! Cô em ăn lúc còn nóng nhé, hôm nay lạnh nhỉ?” Chị chủ tiệm bưng đĩa bún lên, mỉm cười xởi lởi với cô. An Di nhìn gương mặt tròn trịa đã chẳng còn thấy đường viền xương hàm của chị mà thấy sống mũi cay xè, cô gượng cười đáp lại đối phương một cái.
Mùi thơm của trứng gà và xì dầu xộc vào mũi làm cô thấy ngấy ngấy. Cảm giác thèm ăn của cô biến mất sạch sẽ, nhưng cô vẫn cầm đũa lên gượng ép bản thân gắp bún nhét vào miệng.
Bố mẹ cô là những người rất tốt. Thời trẻ họ chịu thương chịu khó lại có gan làm giàu, hai bàn tay trắng dắt díu nhau chạy lên vùng phương bắc xa xôi lập nghiệp rồi cắm rễ ở đó, kiếm được rất nhiều tiền. Họ đã cho An Di một cuộc sống từ nhỏ chẳng phải lo nghĩ chuyện cơm áo gạo tiền, cô muốn gì hầu như đều được đáp ứng. Giống như những bậc cha mẹ sành điệu nhất thời bấy giờ, họ đã đưa con sang nước ngoài du học từ hồi cấp ba.
Họ cũng là những người bố người mẹ tuyệt vời, chưa từng ép buộc con cái làm điều gì. Dù bận rộn với sự nghiệp nên thời gian dành cho An Di có ít hơn một chút, nhưng điều đó hoàn toàn có thể cảm thông được.
Chỉ là những năm gần đây thời vận không may, cộng thêm môi trường kinh tế chung sa sút, việc đầu tư thất bại đã dồn cả gia đình cô vào đầm lầy. Họ bắt đầu vái tứ phương trong lúc nguy cấp, và thứ áp lực khổng lồ ấy đã làm thay đổi tất cả mọi người.
Trong lúc An Di đang cắm cúi ăn cơm, từ ngoài cửa có một gia đình ba người bước vào. Ở giữa là một bé gái khoảng bốn sáu tuổi, để kiểu tóc búp bê. An Di ngẩng đầu nhìn qua một cái, người đàn ông đó nhìn thấy cô liền mỉm cười chào hỏi: “Sếp An, đang ăn cơm đấy à?”
