Chương 20: Cô chưa đến mức phải bấn loạn vì một cậu học sinh lớp mười.
*
Một chiều muộn cuối tháng Sáu, Trác Khinh tay xách túi quà, tay kia cầm chùm hoa tươi vừa hái bên bờ sông, bước đi trên con đường nhỏ bị ánh tà dương nhuộm thành màu bí đỏ.
Chiều muộn hôm ấy, bản làng nằm lọt giữa chốn núi non và khe suối trở nên dịu dàng đến lạ. Dưới ánh hoàng hôn, những mái nhà màu xanh rêu sẫm trút bỏ vẻ trang nghiêm kính cẩn như cụ già thường ngày, phô ra nét mặt hiền từ nhân hậu.
Trong túi quà cô cầm trên tay, ngoài chiếc khăn lụa mua ở Thổ Nhĩ Kỳ hồi năm ngoái, còn có một tấm thiệp mời viết tay.
Tấm thiệp mời này là do bà nội Lịch Viễn Trăn tận tay trao cho Trác Khinh hôm qua. Người phụ nữ ấy đã tốn không ít tâm tư, biết cô từ nhỏ lớn lên ở nước ngoài nên đã bảo Lịch Viễn Trăn viết thiệp mời theo đúng phom dáng ngỏ lời mời khách của phương Tây, rồi nhờ mẹ Chu Du dẫn đường tới căn nhà của cô.
Lúc ấy, Trác Khinh vừa mới ngủ dậy, đầu tóc bù xù ngơ ngác đỡ lấy mở ra xem. Thế này là có ý gì đây?
Dưới lời gợi ý của mẹ Chu Du, Trác Khinh mới sực nhớ ra chuyện bà nội Lịch Viễn Trăn bảo muốn mời cơm và cô đã đáp sẽ suy nghĩ kỹ.
Nhưng cô đâu có suy nghĩ kỹ càng gì cho cam, thậm chí sang đến ngày hôm sau là cô đã quên bặt chuyện này rồi. Đúng là tội lỗi thật chứ.
Mà cái sự tội lỗi hơn nữa còn ở phía sau cơ. Mẹ Chu Du bảo để làm ra tấm thiệp mời này, bà nội Viễn Trăn còn đặc biệt đem cất nó chung với một gói cánh hoa móng tay phơi khô suốt mấy ngày liền, để đến lúc cô Trác mở thiệp ra là có thể ngửi thấy hương hoa phảng phất. Đúng là thế thật.
Thế nên mới có cái khoảnh khắc lúc này.
Trước khi ra cửa Trác Khinh đã trang điểm nhẹ nhàng, bỏ chiếc khăn lụa Thổ Nhĩ Kỳ rất hợp với phong thái người phụ nữ ấy vào hộp quà.
Thời gian mời cơm ghi trên thiệp là sáu giờ, cách sáu giờ vẫn còn dư dả chút thời gian, Trác Khinh liền ra bờ sông hái ít hoa tươi.
Ngày trước mỗi lần đi thăm bạn bè cô thường ghé qua chợ mua một bó hoa, hoa tươi ngoài chợ toàn là loại hoa nông dân vừa hái ngoài đồng chở thẳng ra chợ sớm từ lúc trời còn tờ mờ sáng, ôm bó hoa còn đọng sương mai bấm chuông nhà bạn, cửa vừa mở ra, mùi bánh mì nướng hòa lẫn tiếng reo hò của bạn bè ùa thẳng vào mặt.
Trác Khinh đứng bên bờ sông, nỗi thương nhớ bỗng trào dâng chẳng vì cớ gì.
Khu chợ sớm nhìn qua cửa kính xe trên đường đi học ca sáng, những quả lê, quả táo, quả dâu tây chất trên chiếc xe rùa màu sắc tươi tắn lần nào cũng làm cô nuốt nước bọt ừng ực; tháng Sáu là mùa đẹp nhất ở Paris, nắng ấm ngập tràn hơn, hoàng hôn dát một lớp ánh kim lên dòng sông Seine, cô ngồi trên bờ đê mà chẳng sao tập trung nổi, làn gió thoảng qua làm những trang sách đặt trên đầu gối tự động lật mở từng trang; vùng ngoại ô Scotland, con đường quê rợp bóng hoa dại không tên dẫn cô tới một trang trại xa lạ, cô đành xả hơi vui đùa cùng đàn cừu trên đồng cỏ, tiếng chuông đeo cổ cừu lách cách ngân vang không ngớt giữa khoảng xanh bao la.
Rồi cuối cùng cũng tới tháng Mười hai lạnh giá nhất, tháng này có kỳ nghỉ Giáng sinh cộng dồn với kỳ nghỉ Năm mới, trọn vẹn tám ngày trời, đêm trước kỳ nghỉ, Gia Tu lái xe, cô ngồi ở ghế phụ, băng ghế sau xếp chật cứng sách vở cùng đồ ăn vặt, gấu bông, thường là xe vừa lăn bánh vào nhà xe thì nhận được tin nhắn báo đóng đường bọc núi của Cục Khí tượng Thụy Sĩ.
Đó là khoảng thời gian Trác Khinh hạnh phúc nhất trong năm, nơi thung lũng dãy Alps chẳng còn biết ngày giờ tháng năm, chẳng hay là buổi sáng hay buổi chiều, Gia Tu gạt sạch lớp tuyết phủ trên chiếc ghế dài, cô xách xẻng ra định bụng đắp cho lũ gấu bông một cái khách sạn tuyết, vừa dọn dẹp xong khoảng trống thì Gia Tu đã cất tiếng gọi “Tiểu Ninh”, rồi sau đó, hai người ngồi trên chiếc ghế dài, cô nhấp từng ngụm nhỏ thức uống nóng do Gia Tu pha cho, Gia Tu ngồi đọc sách, chiếc máy pha cà phê bên cạnh nghi ngút khói nóng, nước tuyết tan chảy róc rách dọc theo những khe rãnh chằng chịt, dòng nước mang sắc xanh hồng kỳ ảo chỉ có thể bắt gặp ở dãy Alps.
Đến một năm nọ về sau, cô bảo muốn cùng Gia Tu vào núi, Gia Tu lại bảo không được.
Vì sao? “Vì Tiểu Ninh lớn rồi.” Gia Tu bảo.
Giờ ngẫm lại, giọng điệu Gia Tu lúc thốt ra câu “Tiểu Ninh lớn rồi” đượm đượm nỗi u hoài.
Tính ra, Trác Khinh đã năm năm không cùng Gia Tu vào núi rồi, không đúng, là sáu năm rồi, cô của hiện tại đã bước sang tuổi hai mươi sáu.
Sao lại vô tình sảy chân bước tới tuổi hai mươi sáu thế này? Năm mười mấy tuổi thi thoảng cũng từng mộng mơ tới tuổi hai mươi, nếu cô có thể chạm tới tuổi hai mươi thì cũng sẽ mang dáng vẻ giống như bao người khác, quanh mình sẽ có thêm vài người bạn, danh bạ điện thoại sẽ cùng với tuổi tác và vốn đời mà ngày một dài ra, người quen trên đường du ngoạn, người quen qua mạng internet.
Thế nhưng lại không hề. Đến rồi đi rốt cuộc cũng chỉ vỏn vẹn có Gia Tu và Kiều.
Chợt, một tiếng “Chào chị” khẽ khàng nương theo làn gió chiều dịu dàng luồn vào tai Trác Khinh.
Cô ngẩng đầu lên, lần theo âm thanh ấy. Nơi con ngõ nhỏ rợp dải hoa xương rồng rủ xuống có một chàng thiếu niên dáng người cao ráo đứng đó.
Ngược ánh sáng, chàng thiếu niên từng bước tiến về phía cô, bước đến trước mặt cô. Là Lịch Viễn Trăn.
Cô nhoẻn miệng cười với Lịch Viễn Trăn một cái, nụ cười ấy như thể làm trào ra thứ gì đó, chúng lăn lăn trên mặt cô, theo bản năng cô đưa tay lên quệt, chạm vào là thứ chất lỏng mát lạnh. Ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, chẳng hề có lấy nửa vệt bóng mây.
Ánh mắt chàng thiếu niên nhìn cô có chút là lạ. Trác Khinh quệt quệt mặt, bảo là nước sông, tại nước sông bắn lên mặt cô đấy chứ.
Vừa nói cô vừa ghé sát mặt lại trước mặt Lịch Viễn Trăn, hỏi cậu xem nước sông có làm trôi mất lớp trang điểm trên mặt cô không? Cuối cùng, cô còn chêm thêm một câu tại nước sông chảy xiết quá cơ.
Rất lâu rất lâu về sau, tại một ngôi làng vùng miền Nam nước Pháp, cũng vào một chiều gió thoảng qua mặt thế này, Lịch Viễn Trăn cùng vài người khách du lịch bụi trò chuyện về người quan trọng nhất trong cuộc đời mỗi người.
Người quan trọng nhất trong cuộc đời cậu có một tá tật xấu: gan bé tí tẹo, tính tình trẻ con, lắm lúc ngây ngô đến phát ngượng, nhưng cũng có lúc hiểu biết sâu rộng chẳng gì đốn ngã nổi, thi thoảng lại đa mưu đa cảm, sẽ vì giọt nước mắt bất chợt trào ra khỏi mi mà thấy ngượng ngùng, rủa rằng đó là nước sông, rủa do nước sông chảy vội quá bắn văng lên mặt cô.
“Hôm ấy, chị ấy trang điểm nhẹ nhàng, mái tóc chải chuốt gọn gàng, đeo đôi hoa tai ngọc trai, đó là lần đầu tiên tôi nhìn ngắm gương mặt chị ấy kỹ càng đến thế, đến cả nốt ruồi nhỏ xíu màu hồng phấn dưới khóe mắt phải của chị ấy tôi cũng nhìn thấy rõ mồng một. Lúc ấy, trong lòng tôi bất giác nghĩ, lũ Chu Du chắc chắn không biết trên mặt chị ấy có một thứ bé xíu thế này đâu, với cái tính nết của Chu Du mà biết thì đã oang oang từ lâu rồi, tâm trạng tôi cũng chẳng vì cớ gì mà tự dưng thấy vui vẻ vì cái suy nghĩ vừa chợt lóe lên ấy, Chu Du chẳng hề biết trên mặt chị ấy có nốt ruồi nho nhỏ.”
“Chỉ là, lúc ấy, tôi lại lầm tưởng cái nhận thức dễ chịu ấy là cảm giác hả hê khi thấy chị ấy khóc. Hóa ra người giàu có đến mấy cũng có chuyện phiền lòng, ngốc nghếch làm sao. Nếu là hả hê, thì sao lại muốn lau khô giọt nước mắt trên mặt chị ấy đến thế, giọt nước mắt đọng trên mặt làm chị ấy trông có phần tội nghiệp tủi thân, tôi chính là không chịu nổi cái bộ dạng tội nghiệp tủi thân của chị ấy trước mặt mình.”
“Đồng thời, tôi lại vì cái hành động ghé sát mặt lại trước mặt tôi của chị ấy mà thấy bực bội, thầm nghĩ dù có lớn lên ở nước ngoài thì cũng không thể tùy tiện như thế được, hay là cái hành động ấy ở thế giới của chị ấy cũng chỉ là chuyện thường tình? Giống như một cử chỉ xã giao chào buổi sáng mà thôi, khoảnh khắc ấy, hình như có thứ gì đó đang rục rịch cào xé trong lòng, nếu giờ tôi giơ tay ra chạm vào mặt chị ấy thì liệu có làm chị ấy hoảng sợ đến tái mét mặt mày không, tất nhiên rồi, rốt cuộc tôi chẳng làm gì cả, hồi đó, tôi ghét chị ấy lắm.”
Trác Khinh có cái tật, hễ nói dối là mắt lại ngó dọc nhìn ngang, may mà Lịch Viễn Trăn không phải Gia Tu cũng chẳng phải Kiều, cô hắng giọng một tiếng rồi hỏi Lịch Viễn Trăn sao lại xuất hiện ở đây. “Bà nội sợ chị đi nhầm đường.” Lịch Viễn Trăn đáp thế.
Ra khỏi con ngõ nhỏ, vòng qua căn nhà sàn bằng trúc hình tròn kia, Trác Khinh liền trông thấy bà nội Lịch Viễn Trăn đang đứng chờ ở đó, bên cài tóc của người phụ nữ ấy còn cài chiếc trâm bạc cài hoa. Trâm cài hoa phối cùng trang phục dân tộc, đẹp đẽ đến mức làm cô ngẩn ngơ nhìn ngắm.
Lịch Viễn Trăn hôm nay cũng mặc rất chỉnh tề, áo sơ mi trắng kết hợp cùng quần bò xanh thẫm, sơ mi nhìn cái biết ngay là đã qua là lượt, chiếc sơ mi là phảng phiu càng tôn lên vóc dáng chuẩn người mẫu của Lịch Viễn Trăn thêm phần góc cạnh, dáng vẻ khôi ngô tuấn tú làm cô suốt cả đoạn đường cứ không kiềm nổi mà liếc mắt nhìn cậu.
Ánh mắt một lần nữa lại tơ vương về phía Lịch Viễn Trăn. May mắn thay, đây cũng chỉ là một cậu bé đang học lớp mười, cô chưa đến mức phải bấn loạn vì một cậu học sinh lớp mười.
Đang mải suy ngẫm thì Lịch Viễn Trăn ngoảnh đầu lại. Đôi mắt còn trong trẻo hơn cả dòng suối Sóc Sơn, sống mũi cao rạ thẳng tắp hơn cả đỉnh tuyết dãy Alps, hàng mi dài cong vút như biểu tượng u buồn dưới ngòi bút nhà thơ, đường viền xương hàm tuyệt mỹ hứng trọn mọi sự sủng ái của tạo hóa, bước ra sống động hệt như chàng thiếu niên bước ra từ dưới cây anh đào trong trang tranh manga.
Trác Khinh trong lòng gào to một tiếng ‘Dừng’! Vội vàng xua xua tay với Lịch Viễn Trăn như đuổi tà, miệng làu bàu bảo cậu đứng chần chẫn ở đó làm che mất tầm mắt cô ngắm người đẹp rồi.
Đặt bó hoa và hộp quà vào tay người đẹp, lấy ánh mắt ra hiệu bảo Lịch Viễn Trăn dịch giùm, tốn mất gần năm phút đồng hồ, Trác Khinh mới thuyết phục được bà nội Lịch Viễn Trăn nhận chiếc khăn lụa Thổ Nhĩ Kỳ. Chiếc khăn lụa quả nhiên hợp với bà nội Lịch Viễn Trăn vô cùng.
Bà nội Lịch Viễn Trăn đã đóng cửa tiệm tạp hóa từ sớm, đi hết lối đi nối giữa tiệm và căn nhà trong, khoảng sân ngập tràn sắc hoa đỏ, vàng, tím, xanh khiến Trác Khinh sững sờ đứng ngơ ra tại chỗ.
Lịch Viễn Trăn nhận lời gửi gắm của bà nội mà giải thích cho cô, đó là hoa móng tay, nhờ thổ nhưỡng khí hậu nên hoa móng tay ở đây cành lá nhỏ hơn nhưng bông lại to hơn, hoa móng tay là một vị thuốc Đông y khá tốt, lại còn có thể dùng để nhuộm buộc.
Còn về cớ sao lại trồng nhiều hoa móng tay trong sân nhà đến thế? “Gần đây có xưởng nhuộm buộc, họ thu mua giá cũng khá.”
Nghĩa là phẩm nhuộm tự nhiên đấy, Trác Khinh nhớ lại cách đây không lâu từng thấy một giỏ to hoa móng tay trên sồ sau xe đạp của Lịch Viễn Trăn, xem chừng là mang tới xưởng nhuộm buộc bên đó.
Phẩm nhuộm tự nhiên giá trị lắm chứ bộ, Trác Khinh tiện miệng hỏi một câu: “Nhiều hoa thế này chắc bán được khối tiền đấy nhỉ.”
Ai ngờ…
“Thu nhập cả năm cộng lại chắc mua được tầm nửa chiếc khăn lụa Thổ Nhĩ Kỳ.” Lịch Viễn Trăn thản nhiên buông một câu nhẹ hẫng.
Hả? Trác Khinh ra sức dằn câu “Bốc phét, vớ vẩn, lắm hoa thế này sao lại chỉ đáng giá nửa chiếc khăn lụa Thổ Nhĩ Kỳ chứ?” không cho thốt ra khỏi họng, dẫu đó là suy nghĩ thật lòng của cô, nhưng trong hoàn cảnh thế này rất dễ biến thành kiểu xơi bánh ngọt thay cơm.
Vừa rồi Trác Khinh đã lỡ miệng, bảo chiếc khăn lụa Thổ Nhĩ Kỳ tặng bà nội Lịch Viễn Trăn không đắt đâu, có hơn ba trăm đô la Mỹ thôi, may mà Lịch Viễn Trăn chắc là chưa dịch câu ấy ra, bằng không với tính cách của người phụ nữ ấy thì đời nào chịu nhận.
Có điều, sao cậu học sinh lớp mười này cứ nói năng đâm xông chọc ngoáy với cô thế nhỉ? Cô đâu có cố tình khoe khoang trước mặt cậu đâu.
Cô bực bội lườm Lịch Viễn Trăn một cái. Lịch Viễn Trăn mặt mày lạnh tanh.
Trong nhà trong cất lên tiếng gọi người.
Liếc Lịch Viễn Trăn một cái, cô thầm nghĩ cậu học sinh lớp mười sẽ sớm biết cô Trác đến từ đô thị phồn hoa này chẳng hề dễ bắt bạt chút nào, cô chính là vị khách quý được chủ nhà này trọng thị mời tới cơ mà, mấy cái nghi thức bàn ăn kiểu rót nước bưng trà đổi bộ bát đũa mới chắc chắn sẽ làm cho phận làm con cháu nhỏ tuổi nhất cái nhà này bận túi bụi không ngơi tay, một mặt lại còn phải đáp ứng đủ loại “tò mò” của khách quý, nếu khách quý trong lòng không vui mà làm đổ ly nước, phận làm con cháu chỉ có nước ngậm đắng nuốt cay chẳng dám hoạnh hoẹ.
Mười phút đầu tiên, Trác Khinh quả thực đã khiến Lịch Viễn Trăn chẳng được nghỉ ngơi lấy một giây: Vừa rót cho cô ly nước xong, cô lại yêu cầu đổi sang nước ngọt, nhấp một ngụm nước ngọt thấy vị hơi lạ lạ, thôi lại đổi về nước lọc đi, nếu có thể thì gọt hoa quả thành từng miếng vuông nhỏ giùm, hôm nay cô có thoa son môi, hoa quả cắt miếng dài sẽ dính vào son, cô không muốn để lại ấn tượng xấu cho chủ nhà.
Dĩ nhiên rồi, tất cả những điều trên đều diễn ra dưới bề ngoài trông có vẻ vô cùng vui vẻ hòa thuận, Lịch Viễn Trăn tự nhiên không đời nào dịch mấy lời cô cố tình gây khó dễ cho bà nội cậu nghe làm gì, việc gì phải làm hỏng niềm vui của bà.
Trước mặt bà nội, cậu học sinh lớp mười cực kỳ chu đáo và biết điều.
Lịch Viễn Trăn mặt không biến sắc hoàn thành đủ mọi việc Trác Khinh yêu cầu, mười phút trôi qua Trác Khinh thấy nhạt nhẽo quá chừng. Đã nhạt nhẽo lại còn trông cô trẻ con dở hơi.
Thu quân xả hơi. Trác Khinh bắt đầu ngắm nghía bố cục không gian xung quanh, chiếc bàn vuông nhỏ đủ cho bốn người ngồi đặt trên một thềm đá, chỗ họ dùng bữa nằm ở khúc giao giữa nhà trong và ngoài sân, trông từa tựa như chiếu tatami kiểu Nhật, mái hiên nhô ra hẹp hẹp che mưa che nắng, từ mái hiên rủ xuống bức mành trúc có thể kéo lên hạ xuống, lúc này, mành trúc chỉ cuộn lên một phần tư, qua khe hở của mành trúc có thể nhìn thấy những bông hoa móng tay ngoài sân.
Không gian sinh hoạt cực kỳ khiêm tốn, nhưng may sao lại sạch sẽ và thoáng đãng.
Mấy món ăn bày trên mặt bàn vuông ngoài đĩa hoa quả gọt sẵn với trứng luộc ra, thì những món còn lại Trác Khinh chưa từng trông thấy bao giờ.
Dưới sự ra hiệu của bà nội, Lịch Viễn Trăn lần lượt giới thiệu từng món ăn, đều là đặc sản địa phương: chả giò kiều mạch, chả rau dại chiên giòn, bánh nếp hấp nhân đậu lạc vừng, măng núi xào, và gà đồi hầm củ mài. Giới thiệu xong, cậu học sinh lớp mười mang theo chút hờn dỗi bảo: “Vốn dĩ bà nội cứ muốn nuôi nó mãi cơ.”
Nuôi nó? Rất nhanh sau đó, Trác Khinh đã hiểu từ “nó” trong miệng Lịch Viễn Trăn là cái gì, cô vuốt vuốt mặt, nếu mà biết bà nội Lịch Viễn Trăn thịt con gà này thì cô đã chẳng đến.
Thế nhưng… sao trong mắt cậu học sinh lớp mười lại thành ra lỗi của cô thế này, cô cũng đang áy náy bực mình vì không giữ nổi mạng cho con gà đây này.
Đúng lúc ấy, bà nội Lịch Viễn Trăn cười tủm tỉm đẩy đĩa có chiếc đùi gà sang trước mặt Trác Khinh, cô hậm hực đỡ lấy, lập tức làm cho Lịch Viễn Trăn một nét mặt kiểu “thịt gà thơm nức mũi nhé”.
Hình như, thịt gà thơm thật sự luôn ấy.
Thịt gà thơm ngọt, món chả rau dại chiên giòn cắn vào ngập mùi cỏ xuân tươi mát, bánh nếp hấp ngon chuẩn tầm đầu bếp Michelin, rồi lại nhét thêm cái chả giò vào miệng: Mẹ ơi là mẹ.
Nhấp ngụm nước, cô sốt sắng bảo Lịch Viễn Trăn dịch giùm: Làm cách nào mà làm ra được thế này, tay nghề thế này sắp đuổi kịp đầu bếp Michelin tới nơi rồi.
Vốn dĩ Trác Khinh đến đây chỉ với tâm lý đi cho tròn vai, đây là một người phụ nữ kiên cường, tình cảm nồng hậu khó lòng từ chối, theo kế hoạch, cô ăn chút đồ ở đây rồi ngồi lại tầm mười lăm phút là về.
Nào ngờ… hai lần mười lăm phút trôi qua, Trác Khinh vẫn ngồi chần chẫn trên ghế đẩu nhai ngấu nghiến những món ăn bà nội Lịch Viễn Trăn đưa cho, vừa ăn vừa nghe bà nội Lịch Viễn Trăn trò chuyện, Lịch Viễn Trăn ngồi một bên làm phiên dịch viên cho cả hai.
Mành trúc lại được kéo cao lên thêm chút, một mảnh trăng lưỡi liềm nhô ra khỏi bờ tường, Lịch Viễn Trăn mang tới một hũ dầu, mùi hương dễ chịu vô cùng, cô hỏi đó là tinh dầu à, hay lại là món đồ ăn địa phương kỳ diệu nào đó như cái chả rau dại kia? “Không phải, đây là nước đuổi muỗi.” Lịch Viễn Trăn cất giọng hắt hủi cẳn nhẳn.
Cái kiểu đáp lời ấy của Lịch Viễn Trăn khiến Trác Khinh thấy cô với cậu hình như lại trở nên rất đỗi thân thiết rồi. Đúng là cái chấp niệm đáng sợ, sao cô cứ muốn trở nên thân thiết với Lịch Viễn Trăn hoài thế không biết.
Trác Khinh đỡ lấy chiếc ly từ tay bà nội Lịch Viễn Trăn. Nhìn dòng chất lỏng màu trắng tựa như sữa tươi trong ly, Lịch Viễn Trăn bảo đó là rượu gạo trắng do bà nội tự cất.
Mẹ Chu Du từng nhắc tới, rượu gạo trắng do bà nội Viễn Trăn cất với hoa móng tay bà cấy trồng thì khắp vùng quanh đây bán kính mười dặm chẳng có ai bì kịp.
Lịch Viễn Trăn tiếp tục chuyển lời bà nội: “Rượu gạo trắng giúp chống ngấy, uống chút không sao đâu, cho dù chưa từng uống rượu bao giờ thì uống cái này cũng chẳng say nổi đâu.”
Trác Khinh bình thường vẫn uống rượu, những dịp lễ tết hay ngày đông giá rét cô sẽ nhấp tiểu nửa ly rượu vang đỏ, nếu có Gia Tu ở đó cô có thể uống thêm chút nữa, mượn cồn rượu xả hết những bất mãn cùng oán thán thường ngày cho Gia Tu nghe, có khi càm ràm suốt mấy tiếng đồng hồ Gia Tu vẫn kiên nhẫn lắng nghe.
Nhấp một ngụm rượu nhỏ trong miệng. Thật kỳ diệu, vị rượu ngọt lịm, cái ngọt ấy lại mang theo một làn sóng xộc lên, khiến cô tưởng như mình vừa chui tọt vào một đường hầm thời gian hình ống, trong chớp mắt đã quay ngược trở về những ngày tháng thời thiếu nữ.
Con tim muốn trao yêu thương cho một người cần cả một chặng đường dài lâu, nhưng vị giác yêu thích một hương vị lại chỉ cần khoảnh khắc tíc tắc mà thôi.
Cô nhoẻn miệng cười. Cười hỏi Lịch Viễn Trăn giờ tính sao đây?
Dưới ánh đèn vàng cam, chàng thiếu niên trầm mặc như bờ cõi, giọng nói trầm thấp: “Tính cái gì mà tính?”
“Tệ thật đấy, sau này chị chắc chắn sẽ biến thành một con ma bợm nhậu mất thôi.”
Lần tới, nếu Gia Tu lại hỏi cô vùng Sóc Sơn này có gì hay?
“Có chứ, có hay chứ.”
Trước đây, vì cô suốt mấy tháng liền không rời khỏi Sóc Sơn, Gia Tu đã bao lần hỏi cô ở đó có cái gì tốt đẹp mà giữ chân cô dữ thế, cô lúc nào cũng đáp, chẳng có gì cả, Sóc Sơn chẳng có cái gì hay ho hết. Đôi khi, ru rú một chỗ đơn thuần chỉ vì lười mà thôi.
Dưới sự dồn dập của thứ hương vị vừa ngọt vừa xộc ấy, Trác Khinh vẫy tay ra hiệu bảo Lịch Viễn Trăn lại gần cô chút. Lịch Viễn Trăn đứng im bất động.
Ừm, tốt lắm, tuyệt lắm. Bây giờ cô đang có chỗ dựa lưng vững chắc cơ mà, cô bèn trút hết vẻ tủi thân nhìn về phía bà nội Lịch Viễn Trăn.
Dưới uy lực của bà nội, chàng thiếu niên mặt mày phụng phịu miễn cưỡng nhích về phía cô một tẹo.
“Cậu học sinh lớp mười ạ,”
Trác Khinh cười tủm tỉm thì thầm bên tai Lịch Viễn Trăn, “Sau này nếu chị rời khỏi đây, chắc chắn sẽ mang theo một đống rượu gạo trắng do bà nội em cất đi cùng. Mà không đúng, chị phải điều hẳn một chiếc xe tải tới đánh sập chuyển sạch hầm rượu nhà em mới được.”
