Chương 9: Đảo lộn
*
Lệ Cảnh trở về nhà trong tâm trạng hoảng hốt. Nhũ mẫu Tôn thị thấy sắc mặt chàng bất thường, đưa tay sờ gáy chàng rồi kinh hãi kêu lên: “Ôi trời ơi, sao sau lưng toàn mồ hôi lạnh thế này, mau lau người thay y phục kẻo bị cảm lạnh mất. Thải Thu, đi nấu thêm bát canh gừng đem lại đây.”
Lệ Cảnh ngồi đờ đẫn, mặc cho nhũ mẫu và tỳ nữ hầu hạ.
Tin Sở Vương được Chử Thái Hậu ủy nhiệm làm Bình định Đại tướng quân như một bức màn vô hình, chia cắt phủ Sở Vương với các tông thất khác. Những người kín đáo như Kính Nhân, Kính Thuận thì chỉ đảo mắt liếc nhìn; những kẻ nóng tính như Kính Dũng, Kính Lương, suýt nữa đã lớn tiếng chất vấn.
Kể từ khi Hoài Mẫn Thái tử bị ép chết, ba anh em Kính Nguyên luôn không thể xóa bỏ nỗi lo sợ về sự an nguy của phụ thân họ.
Kính Đình đứng chắn trước mặt Lệ Cảnh, ngăn không cho Kính Hi nói những lời châm chọc: “Hành sự của bậc trưởng bối, hàng vãn bối làm sao biết được, huống chi đây là đại sự quân quốc. Kính Hi, đừng làm chuyện ngu ngốc!”
Cuối cùng chính Kính Tuyên đã đích thân đưa Lệ Cảnh ra cổng cung, trước khi chia tay cậu ta an ủi nhiều lần: “A Cảnh đừng sợ, cha thúc đứng về phía Thái hậu cũng tốt, ít nhất phủ Sở Vương không có gì đáng lo nữa, đây là chuyện tốt.”
Ngừng một lát, cậu ta lại nhẹ nhàng nói: “Nếu là ta, ta cũng sẽ đứng về phía Thái hậu. Hầy, vẫn là cuộc sống của Kính Đình đường huynh ung dung, phụ thân huynh ấy – Tào Vương, chỉ thích nghiên cứu kim thạch, không bao giờ hỏi han chuyện triều chính. Nghe nói mấy ngày trước vừa viết một bài ‘Chu khí cổ minh khảo’, giờ không biết đã khai quật đến đâu rồi.”
Lệ Cảnh nghẹn ngào.
Chàng rất muốn nói rằng phụ thân chàng là người cương trực, sẽ không dính líu vào tranh đấu triều đình, nhưng chàng cũng không có đủ tự tin để đảm bảo cha mình chưa từng âm thầm theo phe Chử Thái hậu, cuối cùng đành cúi đầu thất thểu từ biệt Kính Tuyên.
Nếu trẻ con đã có suy nghĩ như vậy, huống chi là người lớn.
Vốn dĩ tất cả đều là con cháu Lệ thị bị Chử Thái hậu áp chế, nhưng đột nhiên phủ Sở Vương lại trở thành kẻ phản bội tổ tông dị loại, mấy ngày liền Lệ Cảnh đều có thể cảm nhận được những ánh mắt kỳ lạ xung quanh.
Kỳ lạ hơn nữa là Bùi Vương phi, một việc lớn như vậy, bà lại đợi ba ngày sau mới gọi con trai sang đàm đạo vào ban đêm.
Lệ Cảnh đã suy nghĩ kỹ, trả lời trôi chảy: “Thái hậu cử phụ thân làm chủ soái có ba lợi. Lợi thứ nhất, phụ thân nhiều năm cầm quân, thông thạo binh việc, lại được Thái hậu toàn lực ủng hộ, lần này ắt sẽ chiến thắng. Lợi thứ hai, phụ thân là vương gia tông thất, lấy người làm chủ soái đi bình định, danh chính ngôn thuận, khiến lý do nổi loạn của anh em Ninh thị không đứng vững nữa. Lợi thứ ba, nếu phụ thân sẵn lòng hiệu lực cho Thái hậu và được trọng dụng, không những có thể phân hóa đám tông thất, còn có thể an ủi lòng người, khiến mọi người không đến nỗi gây sự vào lúc này.”
Bùi Vương phi lặng lẽ lắng nghe, đột nhiên cười khẽ: “Đúng, hiện giờ bà ta vẫn cần an ủi lòng người.”
Lệ Cảnh không hiểu được thần sắc của mẫu thân.
Hồi lâu, Bùi Vương phi mới nói: “Đường học sĩ đã dâng tấu chương cáo lão hưu trí, con chuẩn bị một chút, tháng sau không cần đến cung học nữa.”
Lệ Cảnh biết “chuẩn bị một chút” có nghĩa là gì, chàng ngần ngại nói: “Gần đây Kính Đình và Kính Tuyên đều nói con cao lớn hơn, cũng không còn gầy yếu như trước. Lúc này giả bệnh, họ có tin không?”
Bùi Vương phi cười lạnh: “Không tin cũng không sao, cứ nói là con bị người ta liếc mắt nhìn hai ba ngày, trong lòng không thoải mái, không muốn đi nữa.”
Lệ Cảnh lại khẽ xin: “…Về sau không đến cung học nữa, con có thể ra khỏi phủ để xem xét không? Con muốn nghe ngóng dư luận thị dân, hiểu rõ lòng dân hướng về đâu.”
Bùi Vương phi cau mày: “Không được, thân thể con càng kém, tính tình càng cô độc càng tốt. Ta sẽ phái vài người nghe theo lệnh con, để họ thay con dò hỏi dư luận bên ngoài.”
Lệ Cảnh vâng lời.
*
Sau khi tấu chương cáo lão hưu trí của Đường học sĩ được dâng lên, Thái hậu theo lệ giữ lại một chút, khi phê duyệt còn có nhiều thưởng ban phụ thêm.
Ngày cuối cùng ở cung học, Đường học sĩ không giảng bài mà lại uống rượu say mèm, trừng mắt nhìn đám thiếu niên tông thất rất lâu, nhìn đến mức mọi người đều cảm thấy rùng mình, không hiểu vì sao.
Chỉ có Lệ Cảnh, rõ ràng nhìn thấy nỗi sầu thảm nồng đậm trong mắt lão nhân này.
Lúc tan học, Lệ Cảnh và Kính Tuyên bưng những món quà tiễn biệt đã chuẩn bị sẵn mà đuổi theo.
Kính Tuyên trao quà trước, là một bình rượu bạc Tây Vực khảm đá quý, vừa tinh xảo vừa nhẹ nhàng.
Đường học sĩ ha hả cười: “Tuyên Hoàng tử thật hiểu lòng ta. Nếu có ngày lão phu sa cơ lỡ vận, vẫn có thể bán nó đổi lấy rượu uống!”
Tiếp theo, Lệ Cảnh cung kính dâng túi gấm: “Được học sĩ dạy dỗ ba năm, học sinh học được rất nhiều. Sắp phải chia tay, xin kính cẩn chuẩn bị chút lễ mọn, biểu lộ tấm lòng ngưỡng mộ của học sinh.”
Món quà chàng tặng là một phiến nghiên cổ quý hiếm, trên có khắc hai chữ ‘Nam Sơn’.
Đường học sĩ dừng lại một chút: “Hai chữ này có ý gì?”
Kính Tuyên chen vào: “Đương nhiên là chúc học sĩ thọ tỷ Nam Sơn rồi, học sĩ điều này cũng không biết sao!”
Đường học sĩ: “Con đừng chen ngang, để Cảnh Thế tử tự nói.”
Lệ Cảnh nhỏ giọng đáp: “Lấy từ ‘Tiểu Nhã, Nam Sơn hữu đài’. ‘‘Nam Sơn có đài cao, Bắc Sơn có cỏ tốt. Vui thay bậc quân tử, là gốc rễ nước nhà. Vui thay bậc quân tử, trường thọ chẳng cùng.’” (*).”
Đường học sĩ ngẩn người một lúc, thấp giọng ngâm: “Nam Sơn cỏ la mọc, Bắc Sơn cỏ cải xanh. Vì nước xây nền gốc, Quân tử vui chẳng cùng… Lão phu không xứng với hai chữ ‘quân tử’ rồi.”
Kính Tuyên thấy ông cười đắng đến mức đau lòng, vội vàng an ủi: “Học vấn của học sĩ tốt như vậy, ai ai cũng kính ngưỡng, làm sao lại không xứng với hai chữ ‘quân tử’ chứ.”
Đường học sĩ liếc mắt nhìn hắn: “Xưa nay quân tử coi trọng nhất là quốc gia và bách tính, còn lão phu, không những không thể vì nước vì dân, mà còn chỉ lo bảo toàn thân mình.”
“Lo bảo toàn thân mình cũng đâu có sai, không lo tốt cho bản thân thì làm sao vì nước vì dân được.”
“Tuyên Hoàng tử quá ham chơi rồi, sau này đọc thêm vài quyển sách đi!”
“Học vấn đâu phải chỉ có trong sách.”
“Sau này ra ngoài đừng nói lão phu từng dạy con!”
Lệ Cảnh bỗng nói: “Học sĩ, theo ý ngài, Thái hậu thánh nhân xem trọng nhất là gì?”
Không khí đột nhiên im lặng.
Đường học sĩ nhìn chàng chăm chú một lúc lâu, rồi mới từ tốn đáp: “Cảnh Thế tử hỏi câu này hay lắm. Tất nhiên là danh tiếng, quyền hành… và cả ngôi vị đế vương nữa.”
Hai điều đầu Lệ Cảnh và Kính Tuyên đều hiểu, kẻ địa vị cao quyền lực lớn nào mà chẳng cần danh tiếng và quyền hành. Chỉ có điều thứ ba, lúc bấy giờ cả hai đều nghĩ là ‘Chử Thái hậu mong hoàng đế nghe lời bà ta’.
Mãi đến khi Chử Thái hậu lên ngôi xưng đế, họ mới cuối cùng hiểu ra.
*
Ngày Đường học sĩ lên đường về quê, nghe nói có nhiều môn sinh trẻ đến tiễn đưa, Chu Trực Đoan và Tiền Vân Quy cũng phái người đến tặng lộ phí, chỉ có Vương tướng là hoàn toàn im lặng. Lệ Cảnh rất tò mò không biết Vương sư đệ có tặng hết ruộng vườn quê nhà cho Đường sư huynh không.
Vào ngày cuối cùng ở cung học Giá Tang, Lệ Cảnh khẽ nói với Kính Tuyên: “Từ ngày mai trở đi, ta sẽ không đến nữa.”
Kính Tuyên như đã trưởng thành hơn nhiều, thần sắc như đã hiểu: “Ta biết, thúc cứ ăn uống cho tốt để dưỡng thân, đợi khi chúng ta lớn lên, ta sẽ đưa thúc đi đánh cầu ngựa.”
Lệ Cảnh cảm thấy khó chịu trong lòng, lưu luyến nhìn cung học này thật lâu.
Trước khi rời cung, chàng đi đường vòng đến Mộc Ân Phường, hỏi thăm các cung nhân già khác rồi đến chỗ ở của Lương thiếu giám, dâng cho Lương thiếu giám một túi gấm hoa văn Đường Lệ đựng đầy cá vàng và lạc vàng.
Lệ Cảnh có phần ngượng ngùng: “Sáng nay thức dậy đã thấy không được khỏe, vừa rồi càng cảm thấy khó chịu, e rằng từ ngày mai trở đi tiểu nhi lại phải cáo bệnh, không biết bao lâu mới có thể quay lại. Nhũ mẫu nói, mọi lễ nghĩa đều không bằng tiền bạc thuận tiện. Đây coi như món quà tiểu nhi dâng cho thiếu giám trước lễ, chúc thiếu giám khỏe mạnh trường thọ, vạn sự thuận lợi.”
Đôi mắt của Lương thiếu giám đen thẫm, khiến Lệ Cảnh nhìn mà cảm thấy hoang mang.
Hồi lâu, Lương thiếu giám mới dời ánh mắt đi, như thường lệ nửa tỉnh nửa mê dựa vào giường: “Chuyến này thế tử đến tặng tiền, Bùi Vương phi không biết phải không?”
Lệ Cảnh ấp úng: “Mẫu, mẫu thân không biết, chuyện nhỏ này tiểu nhi tự mình có thể quyết định được…”
Lương thiếu giám: “Lão nô chỉ là một mạng hèn, thế tử không cần nhớ thương nhiều.”
Lệ Cảnh bưng túi gấm nặng trĩu, nghiêm sắc nói: “Phụ thân ở nhà thường nói duyên phận với cha mẹ mỏng manh, ngoài tiên đế và Thái hậu ra, từ nhỏ phần lớn nhờ vào sự thương yêu chân thành của thiếu giám, không chỉ đốc thúc người đọc sách tập võ, mà còn dạy bảo người cách làm người, cách xử thế. Trong lòng phụ thân, chỉ xem thiếu giám như bậc trưởng bối trong nhà.”
“…” Lương thiếu giám khép mắt lại, “Thế tử, nếu thân thể người không thoải mái, xin hãy sớm trở về đi.”
Lệ Cảnh đặt túi gấm xuống đờ đẫn, vừa quay người đi được mấy bước, bỗng nghe thấy phía sau truyền đến: “Thế tử!”
Chàng dừng bước, quay đầu lại.
Lương thiếu giám không biết từ khi nào đã ngồi thẳng người, đôi mắt đục ngờ như lấp lánh ánh nước.
“Thiếu giám có việc gì chăng?” Lệ Cảnh cẩn thận hỏi.
Lương thiếu giám thấp giọng nói: “Mấy ngày trước, Thái hậu phá lệ tiếp kiến một người tên là Nghiêm Tuấn Huy. Người này vốn là một kẻ vô lại ở địa phương, thường ngày chỉ ăn không ngồi rồi, sống bằng cách lừa gạt tiền bạc của thương nhân và bình dân.”
“Thế nào gọi là lừa gạt?” Lệ Cảnh dù sao vẫn còn nhỏ tuổi, đối với những điều này hoàn toàn không có khái niệm.
“Đó là tống tiền cưỡng đoạt.” Lương thiếu giám kiên nhẫn giải thích: “Trước tiên nhắm vào những gia đình có của cải nhưng không có chỗ dựa, sau đó dụ dỗ kẻ hầu trong nhà đó ra ngoài vu cáo cho chủ nhà đủ thứ tội danh. Tốt thì tốn tiền tiêu tai; nếu lòng dạ ác độc hơn, để tránh sau này gia đình đó tìm cách trả thù, thì họ luôn tìm cách làm cho gia đình đó tan cửa nát nhà, vĩnh viễn không còn lo ngại. Những ngày này, những người như vậy, Thái hậu gặp không phải là lần đầu.”
Lệ Cảnh sửng sốt: “Làm sao Thái hậu lại gặp những kẻ xấu như vậy, tại sao chứ?”
Lương thiếu giám thần sắc mệt mỏi: “Làm sao gặp? Tất nhiên là có người tiến cử. Tại sao ư? Tất nhiên là những người này có ích.”
Lệ Cảnh trong lòng hiện lên hai chữ trong sách: “Thái hậu muốn dùng ‘ác quan’ sao?”
Lương thiếu giám thở dài: “Thái hậu nương nương đã không ngừng triệu kiến những người này, có lẽ việc dùng họ cũng không còn xa.”
Lệ Cảnh tuy còn nhỏ, nhưng cũng mơ hồ cảm nhận được nỗi sợ hãi phi nhân ẩn giấu dưới hai chữ ‘ác quan’.
Lương thiếu giám thở ra một hơi dài, lại nói: “Lão nô vào cung từ năm tám tuổi, hầu hạ trong cung suốt một đời, Sở Vương là người quý tộc hiền hậu nhất mà lão nô từng thấy. Lão nô không thân không thích, được hầu hạ người mười mấy năm, là phúc phận, cũng là duyên phận… Thế tử à, người có biết chuyến này đến đưa tiền cho lão nô, người lộ ra bao nhiêu sơ hở không?”
Lệ Cảnh bưng túi gấm, ngơ ngác lắc đầu.
“Người sáng nay phát hiện thân thể không khoẻ – nếu là tình trạng nặng, lẽ ra phải cáo ốm ngay, không nên cố gắng đến cung học; nếu là tình trạng nhẹ, sao lại nghĩ đến việc ngày mai sẽ xin cáo ốm, mà còn là cáo ốm dài ngày. Nếu lúc rời phủ không nghĩ đến việc xin cáo ốm dài ngày, làm sao lại mang theo cả một túi vàng vào cung?”
Lệ Cảnh biết mình làm việc không ổn, xấu hổ cúi đầu.
Lương thiếu giám ra hiệu cho chàng lại gần, khẽ nói: “Nghe nhiều lời Vương phi, học nhiều nhìn nhiều, đừng làm ra vẻ thông minh dưới con mắt của Thái hậu, tài năng của bà ta, người thường không thể chống lại được.”
“Ngay cả Vương tướng cũng không thể sao?” Lệ Cảnh đột nhiên hỏi.
Lương thiếu giám bình tĩnh đáp: “Vương Muội cũng không thể, ngày chết của ông ta không còn xa.”
Ông nắm lấy bàn tay nhỏ của Lệ Cảnh, mắt lộ vẻ thương yêu lo lắng: “Tấm lòng chân thành của phụ thân người đã giúp người an toàn thuận lợi trước mặt Thái hậu cho đến nay. Nhưng thời thế sắp thay đổi rồi, lòng quá mềm dễ hỏng việc, người phải nhớ kỹ!”
*
Dường như để chứng minh lời đoán của Lương thiếu giám, ngày hôm sau ngự sử Lam Triệu Kỳ đã công khai tố cáo tể tướng Vương Muội, rằng: “Trong lúc thiên hạ biến động như thế này, Vương Muội với tư cách là tể tướng không nghĩ đến cách bình loạn tảo tặc, ngược lại liên tục yêu cầu Thái hậu trả lại chính sự, ắt có lòng khác, e rằng đã sớm cấu kết với giặc phản loạn.”
Với tư cách là thuộc hạ cũ của Vương Muội, việc Lam Triệu Kỳ đột nhiên lật mặt tố cáo khiến triều đình xôn xao. Chử Thái hậu thậm chí lười tạo ra vẻ mặt ‘không tin, ngạc nhiên’, lập tức chuẩn tấu giam Vương Muội vào ngục, ra lệnh cho tam ty hội thẩm.
Quần thần tranh nhau biện hộ cho ông, Chu Trực Đoan và ngự sử đại phu Tề Chánh Tiên đều sẵn sàng lấy thân gia tính mạng đảm bảo Vương Muội tuyệt đối không có ý đồ mưu phản, ngay cả Trần Lệnh Tắc đang ở biên ải tây bắc xa xôi cũng sai người cưỡi ngựa nhanh dâng tấu xin tha cho Vương Muội.
Lão Vương thì khá cứng rắn, tuyên bố không ai được xin tha cho mình, phụ tá đế hậu hai mươi năm, thủ đoạn tàn nhẫn của Chử Thái hậu lẽ nào ông không rõ? Xưa nay làm đại thần quyền thế, ai cũng đã treo nửa cái mạng vào thắt lưng rồi.
Lần này, Lệ Cảnh không đi hỏi Bùi Vương phi, mà Bùi Vương phi cũng không đến tìm con trai.
Lệ Cảnh lặng lẽ đếm từng ngày, đếm đến ngày thứ hai mươi thì tin thắng trận ở Dương Châu truyền về, Chử Thái hậu hạ chỉ xử trảm Vương Muội tại đình trạm ngoại ô kinh thành và tịch thu tài sản.
Một đời quyền tướng chỉ để lại câu thơ “Một thời hoa nở một thời mộng, dừng bước nhân gian sáu chục xuân”, rồi đưa cổ chịu chém.
Lệ Cảnh ngồi một mình trong thư phòng, mở sách ra, bên trong kẹp một mảnh giấy viết hai mươi ngày trước, ‘Ngày thắng trận Dương Châu, là ngày Vương Muội chịu chết, tam ty hội thẩm chỉ là bày trò’ – tiểu thiếu niên hài lòng khẽ nhếch mép, mặc dù chàng vẫn chưa biết Vương sư đệ có tặng gia sản cho Đường sư huynh hay không.
Sau đó, Lệ Cảnh lại viết một mảnh giấy khác, ‘Trong mười ngày, Lam Triệu Kỳ sẽ kế nhiệm tể tướng’.
— Chỉ sau sáu ngày, Chử Thái hậu bổ nhiệm Lam Triệu Kỳ làm Đồng trung thư môn hạ bình chương sự.
Triều thần phần nhiều không hài lòng, cho rằng phẩm hạnh, tài học và kinh nghiệm của Lam Triệu Kỳ đều không đủ để đảm nhận chức vị tể tướng, tuy nhiên tất cả những ý kiến phản đối đều bị Chử Thái hậu áp chế một cách mạnh mẽ.
Lệ Cảnh lại lấy mảnh giấy này ra từ trong sách rồi đem đốt đi.
Không lâu sau khi Lam Triệu Kỳ nhậm chức tể tướng, một tiếng sét khác nổ ra – Tào Vương khởi binh nổi loạn.
Lệ Cảnh vẫn còn trong mơ.
Tào Vương cũng là một kỳ nhân trong các tông thất thân vương, không thích rượu chè sắc đẹp hay săn bắn, không bàn thơ từ ca phú, chỉ có một người vợ hung hãn, hai người thiếp già và ba người con. Thời trẻ ông chỉ biết ưng thuận vâng lời, đến trung niên lại đột nhiên mê mẩn đồ kim thạch khắc minh, vốn dĩ làm thứ sử ở Thanh Châu phồn thịnh rất tốt, nghe nói Khánh Châu có mấy ngôi mộ thời Chu cổ liền tha thiết xin Chử Thái hậu điều ông đến đó. Điều này khiến Tào Vương phi tức giận dẫn con cái trở về kinh thành, không muốn theo ông ăn cát uống gió. Những năm gần đây Tào Vương viết sách lập thuyết, lại có thành tựu đáng kể.
Nổi loạn ở Khánh Châu có điều tốt và điều xấu.
Điều tốt là Khánh Châu ở nơi hẻo lánh, phòng thủ của các châu huyện địa phương yếu ớt, sau khi Tào Vương nổi dậy gần như không gặp kháng cự, trong vòng nửa tháng quân đội đã chiếm giữ toàn bộ Khánh Châu, thẳng tiến về Kinh Triệu, mũi nhọn chỉ về Đông Đô.
Điều xấu là Khánh Châu đất ít người thưa, dân chúng nghèo khó, xa không bằng Dương Châu tiền lương phong túc, dân cư đông đúc, từ triều đình xuống dưới, kể cả Chử Thái hậu đều không hiểu nổi làm sao Tào Vương lại có thể trong một đêm có được lương thực dồi dào và giáp trụ binh khí như vậy.
Chử Thái hậu lập tức khởi dụng Chương Uy Vũ vốn đang ‘hối lỗi’ ở nhà, phong ông ta làm Thảo nghịch Đại tướng quân, dẫn quân đi ngăn chặn đội quân của Tào Vương; đồng thời phái ba trăm đề kỵ binh vây phủ Tào Vương. Ai ngờ, khi đề kỵ đến cửa mới phát hiện phủ Tào Vương vắng tanh – Tào Vương phi và con cái đều đã trốn ra khỏi thành trong đêm, chỉ để lại hơn mười tên gia nhân mơ hồ không biết gì.
Đây có thể nói là một trong những thất bại hiếm hoi trong đời của Ngụy quốc phu nhân. Ngay dưới con mắt của bà ta, ngay giữa kinh thành sâu thẳm, chủ nhà phủ thân vương lại chạy trốn sạch sẽ không sót một ai, mà không hề có một chút động tĩnh. Lệ Cảnh không biết lúc này Chử Thái hậu nổi giận như thế nào, Ngụy quốc phu nhân lại nghiến răng ra sao, chàng chỉ mừng cho Kính Đình đã thoát khỏi tai họa, đêm đêm lén lút bái tạ dưới trăng.
Bái tạ xong, chàng lại viết một mảnh giấy ‘Khốc lại hưng, tông thất suy, cựu thần ai’ – chàng nhìn những nét chữ đen nhoè trên tờ giấy trắng, khẽ thở dài, lần này chàng không để lại mảnh giấy này, mà đốt đi ngay lập tức.
Giờ đây chàng đã hình thành thói quen đặt một lò lửa trong thư phòng, đích thân châm lửa, nhìn chằm chằm vào tờ giấy bị ngọn lửa đỏ rực liếm sạch rồi khuấy tro giấy thành bột mịn và tạt một gáo nước trong lên.
Không biết từ khi nào, Chử Thái hậu đã thăng chức cho vài người lai lịch không rõ ràng, không có bằng cấp khoa cử, không có công lao của tổ tiên che chở, không có công trạng, có hai người thậm chí xuất thân từ bọn vô lại chốn thị tứ, và cứ thế từng người một đã trở thành thị ngự sử hoặc giám sát ngự sử – trong đó có cả Nghiêm Tuấn Huy mà Lệ Cảnh đã nghe Lương thiếu giám nhắc đến.
Tuy chức quan của họ không cao, nhưng lại được Chử Thái hậu ban cho quyền hành rất lớn.
Ngay sau đó, trong ngoài triều đình dấy lên phong trào mật báo, bắt bớ bừa bãi và tra tấn tàn khốc.
Lệ Cảnh phái người ra ngoài dò la tin tức, gần như mỗi ngày đều có kẻ mang về những tin tức nồng nặc mùi máu tanh.
Hôm nay là Hàn Vương bị nô săn trong phủ tố cáo giấu binh khí tư, cùng các con trai đều bị chém đầu nơi chợ; ngày mai lại đến trưởng công chúa Thường Lạc cấu kết ngầm với Lỗ Vương phản loạn bên ngoài, bị ép phải tự vẫn, con cái cũng bị liên lụy chịu tội; ngày kia thì đến Đông Hải quận vương mưu toan đưa cả nhà bỏ trốn khỏi đô thành, cuối cùng cả nhà bị lưu đày… Mỗi lần quan lại tàn bạo ra tay, đều có nghĩa là một nhà thân vương hay đại thần triều đình tan cửa nát nhà.
Dưới cực hình tra khảo, ai ai cũng bị ép thành phản tặc.
Chỉ trong vòng hơn một tháng ngắn ngủi, tông thất gần gũi và bầy tôi ủng hộ gần như đã bị tru sát sạch sẽ.
Lúc này từ Dương Châu lại truyền về tin thắng trận.
Sau nhiều phen giao chiến, quân nghịch liên tiếp bại lui, cuối cùng rút về trại thủy bên kia sông. Vài ngày trước, Sở Vương vượt nước qua sông tấn công, tiêu diệt toàn bộ tinh binh địch quân, chém đầu hơn tám nghìn người, số chết đuối thì không sao đếm xuể. Anh em Ninh thị bèn mang theo vợ con chạy trốn bằng đường biển, mưu đồ lưu vong sang Cao Ly.
Chử Thái hậu hạ chỉ, lệnh cho Sở Vương quét sạch nghịch loạn ở Dương Châu, truy đuổi anh em Ninh thị, nhất định phải trừ tận gốc ác nghịch.
Hai tháng sau,anh em Ninh thị bị bắt và xử tử, Sở Vương cuối cùng cũng có thể rút quân hồi triều. Kỳ thực lần này ông bình định loạn ở Dương Châu, trong mấy tháng chinh phạt, thời gian thật sự dùng để giao chiến truy kích chỉ vỏn vẹn bốn mươi bốn ngày, còn phần lớn công sức lại tiêu tốn vào việc chỉnh đốn quân ngũ, chuẩn bị lương thảo và dẹp loạn tàn dư.
Đến khi Sở Vương trở về đô thành, mới phát hiện nơi đây đã máu chảy thành sông.
Trong số anh em đường huynh đường tỷ, thúc bá cô dì từng can dự vào triều chính của ông, một nửa đã bị Thái hậu xử tử, một nửa bị lưu đày, mà trong số đó mười phần thì chín phần khó thoát khỏi cái chết nơi đất đày hoang vu hoặc trên đường đi.
Đêm ấy, Chử Thái hậu mở yến tiệc lớn chiêu đãi bá quan văn võ, trong Tử Hoa Cung bên hồ Phù Dung đốt lên hàng ngàn ngọn nến mỡ bò, rượu ngon đầy vò, sơn hào hải vị bày la liệt khắp bàn để rửa bụi, mừng công Sở Vương.
Chử Thái hậu thần sắc hồng hào, tóc đen dày mượt, trông hoàn toàn không giống một lão phụ nhân đã sáu mươi sáu tuổi.
Bà nâng chén uống cạn, ra hiệu cho Đoan Mộc Tuệ bước lên tuyên bố: “Lại thêm một việc vui, kẻ từng thông đồng với tội thần Vương Muội, cựu Thiền Vu, sứ giả an phủ Đạo An là Trần Lệnh Tắc đã bị tướng quân Hữu Uy Vệ là Hạ Nhược Đại Phụ chém chết trong quân doanh mười mấy ngày trước, bè đảng đều đã bị xử trảm. Nay do tướng quân Du kích Tây Bắc là Bùi Hử tiếp nhận chức vị ấy, tiếp tục lo việc phòng thủ.”
Trong đại điện Tử Hoa, mấy trăm ánh mắt đồng loạt nhìn về phía Bùi Vương phi, bởi Bùi Hử chính là đường huynh của bà, cùng xuất thân từ tông phòng Bùi thị ở Hà Đông, chung một tổ phụ.
Vốn luôn đoan trang cao quý, hiếm khi để lộ cảm xúc, lần này nét mặt Bùi Vương phi cũng bất giác cứng đờ.
Không ai ngờ rằng Chử Thái hậu lại ra tay lặng lẽ như thế, đến cả một cựu thần lão luyện như Trần Lệnh Tắc – kẻ đang nắm trọng binh, cũng bị xử trí không chút nương tay.
Bá quan kinh hoảng, tông thất rúng động.
Vợ chồng Sở Vương vừa mới lập nên “công lao” cho Chử Thái hậu, không ngớt nhận lấy lời chúc mừng và tán tụng từ bốn phương tám hướng. Trong Tử Hoa Cung, chén rượu lời ca không dứt, yến tiệc ca múa thái bình, tiếng cười rộn ràng, riêng Chử thị lại càng cười lớn vang vang, tinh thần hăng hái, đắc ý vô cùng.
Rượu nhập hứng rồi, anh họ Chử mãi vẫn chưa thấy đến rốt cuộc cũng xuất hiện.
Chử Thừa Cẩn làm ra vẻ nghiêm trang, dâng lên hai món “điềm lành”: một con vẹt thần tiên toàn thân đỏ rực và một khối huyền vũ thạch màu tím sẫm to lớn. Vẹt kia thần tiên hay không thì chẳng rõ, nhưng mở miệng đã kêu “Chử hoàng Vạn tuế “, huấn luyện quả thực không tồi; còn khối cự thạch kia, vừa vạch lớp cỏ dại trên mặt ra, lại thấy khắc tám chữ: “Thánh mẫu lâm thế, vĩnh xương đế nghiệp.”
Chử Lập Cẩn thì đích thân dẫn theo mấy chục vị lão trưởng tóc bạc râu trắng nơi bản địa, gióng trống mở cờ, phô trương rầm rộ mà đến, đồng thanh chúc mừng Chử Thái hậu, cùng chung lời chúc phúc cho thiên hạ họ Chử, thái bình thịnh thế.
Một phen phô trương như thế của anh em họ Chử, là có ý gì, các trọng thần trong điện cùng đám thân vương tông thất đều tự hiểu trong lòng. Có kẻ im lặng không nói một lời, có người buông đầu lắc nhẹ, lại có kẻ giả vờ điếc ngơ ngác làm thinh.
Trong Tử Hoa Cung, ánh vàng rực rỡ, đèn nến rừng rực; thế nhưng cách đó không xa, đầu người lăn lóc, máu đổ thành sông.
