Chương 9: Trong như nước, lắng như trăng
*
Lão Tống gà gật tựa vào song cửa sổ, đầu óc mơ màng, mấy lần mơ hồ mở mắt ra đều thấy quanh mình tối dần. Khi ông và Bùi Thứ Chi giục ngựa trở về, bầu trời vẫn còn sáng rõ, vậy mà lúc này trong phòng đã một màu đen đặc.
Tiếng tranh cãi từ nội đường bên cạnh càng lúc càng lớn, chẳng để cho ông tiếp tục chợp mắt. Ông bèn men theo mấy tia sáng rọi vào, lóng ngóng bật đèn, rồi lần mò ra đến cửa.
“…Ta mà về trễ thêm chút nữa, cô có phải lại định đính hôn lần thứ tư rồi không? Nói rõ cho ta nghe đi, nói!” Giọng Bùi Thứ Chi giận dữ vang dội giữa đêm tối.
Giọng thiếu nữ mang theo chút bất đắc dĩ lẫn nghi hoặc: “Sao có thể chứ? Đông Đô vốn không có cây gỗ Tử Dương, sao mà kết minh thệ được?”
Sau đó là một tràng tiếng vải bị kéo căng, xen lẫn mấy tiếng “keng” giòn tan. Lão Tống nghe thấy tiếng bát đĩa vỡ, vội vàng đẩy hé nửa cánh song, ló đầu nhìn vào.
Gian nội đường rộng lớn bị ba tấm bình phong dệt gấm huyền kim che khuất. Bùi Thứ Chi đứng cạnh bàn, ngực phập phồng dữ dội, giận đến nỗi sắc mặt u ám. Tấm khăn trải bàn gấm đỏ thẫm lấm tấm kim tuyến đã bị chàng kéo lệch gần nửa, kéo theo cả đám chén sứ trên bàn rơi lả tả xuống đất, mảnh ngọc trắng văng khắp nơi.
Lư Hội vừa định cúi người nhặt mảnh vỡ, liền bị Bùi Thứ Chi túm lấy, kéo lui mấy bước.
“Vậy nghĩa là, nếu trong thành có cây gỗ Tử Dương thì cô lại muốn tự ý định chung thân nữa sao?!” Chàng nghiêm giọng chất vấn.
Lư Hội vội vàng biện giải: “Sao có thể thế được! Tôi đã hứa với người rồi, về sau sẽ không bàn chuyện hôn nhân hồ đồ nữa, nhất định phải tìm được người như cha với mẹ tôi, thật lòng thương yêu nhau thì mới chịu hứa gả.”
Thấy cô lại định cúi xuống dọn dẹp, Bùi Thứ Chi dứt khoát kéo người sang một bên.
“Thôi, đừng động vào.”
Chàng hậm hực ngồi xuống đầu chiếc hồ sàng, nói: “Cô và Vương Khám quen nhau thế nào, nói rõ cho ta nghe từ đầu tới cuối!”
Lư Hội gãi ngón tay, đáp: “Còn có thể quen thế nào được ạ? Là Đoan Mộc đại nhân giới thiệu tôi cho Vương học sĩ đấy. Đoan Mộc đại nhân phải soạn thư cho Nữ hoàng, không rảnh trông tôi, nên bảo rằng có chỗ nào trên công văn tôi không hiểu thì cứ đến hỏi Vương học sĩ.”
“Đoan Mộc Tuệ đúng là biết đỡ việc cho mình.” Bùi Thứ Chi mặt mày sầm xuống. “Về sau cô không cần đến hỏi Vương Khám nữa.”
Lư Hội cười xòa: “Tất nhiên rồi, người hiểu nhiều hơn Vương học sĩ nhiều chứ.”
Cô khẽ nhích lại ngồi cạnh chàng, nói tiếp: “Tôi nghe ngóng được rồi, Vương học sĩ đi thi cũng không đứng hạng cao bằng người đâu. Giờ người đã trở về, về sau tôi chỉ hỏi người thôi.”
Sắc mặt Bùi Thứ Chi hơi dịu lại, nhưng chẳng bao lâu lại chau mày: “Không đúng. Vương Khám vốn tự phụ tài học hơn người, xưa nay coi ai cũng chẳng ra gì. Cô mới học có mấy tháng, sao hắn lại quan tâm cô đến thế? Hay là… hắn có dụng ý khác?”
Càng nghĩ chàng càng nghi, giọng câu sau bỗng cao vút lên. Rồi nhìn trái nhìn phải, chàng càng thấy cô gái trước mặt đã khác xưa: làn da trắng, mắt sáng, tóc xanh cài cao, chỉ cần thêm chút gió xuân là đủ khiến ong bướm bu quanh.
Không đúng! Chưa có gió xuân mà cô đã đính hôn ba lần rồi, sau này còn ra thể thống gì nữa?!
Lư Hội lúc này cũng hiểu được ý chàng ngầm chỉ gì, bèn tức tối đứng phắt dậy: “Người nói cái gì thế hả! Vương học sĩ tuy hơi khù khờ, nhưng quả thực là bậc quân tử!”
Bùi Thứ Chi cười lạnh liên hồi: “Hay lắm, hắn là quân tử, còn ta là tiểu nhân, ta hổ thẹn làm ô uế danh tiếng của Vương đại tài tử!”
Lư Hội giậm chân: “Người rõ ràng biết tôi không có ý ấy mà!”
Tranh cãi đến đây, trong giọng Bùi Thứ Chi đã lộ ra mấy phần lạnh lẽo.
Tuy chẳng có giao tình, nhưng lão Tống cũng chẳng muốn thấy gã Vương thư sinh kia bỗng dưng bị chuốc oán rồi một ngày nào đó rước họa vào thân. Thế nên ông cố ý ho nặng mấy tiếng, đẩy cửa bước ra.
“…Ôi chao, một giấc mộng sâu thật dài. Không ngờ Thiếu tướng và Hội nương đã về phủ rồi.” Lão Tống ngáp dài, giả vờ như vừa bị đánh thức, “Lão thật già rồi, chỉ giục ngựa hai mươi dặm mà mệt rã rời, chẳng nhấc nổi người.”
Không ai buồn đáp, song ông vẫn tiếp tục luyên thuyên: “Hội nương tuổi còn nhỏ, tính tình lại ngay thẳng, không biết xoay chuyển, Thiếu tướng hà tất chấp nhặt làm gì. Còn cô nữa, cái gọi là biết người biết mặt chẳng biết lòng, chốn cung đình triều chính là nơi hiểm trá nhất thiên hạ, Thiếu tướng đa nghi phòng bị thêm cũng không sai. Nhưng nói thử xem, vị Vương học sĩ kia rốt cuộc vì sao lại coi trọng cô đến thế?”
Lư Hội cúi đầu, giọng nhỏ nhẹ: “Thiếu tướng đoán không sai, lúc đầu Vương học sĩ quả thật chẳng mấy muốn để ý tới tôi. Tôi hỏi đến bảy tám câu, hắn cùng lắm chỉ đáp vài chữ. Tôi nghĩ thế này không được, nhỡ đọc sai tấu chương của Nữ hoàng thì làm sao? Thế là…”
Cô cúi đầu thấp hơn, lí nhí: “Thế là tôi liền nói với Vương học sĩ mấy lời hay ho.”
Bùi Thứ Chi không nhịn được quay đầu lại: “Cô nói những gì, thuật lại từng câu cho ta nghe.”
Lư Hội nghiêm túc đáp: “Tôi nói rằng, ‘Vi thần từng gặp qua nhiều người đọc sách, chỉ có Vương học sĩ là khác biệt với số còn lại…’”
Bùi Thứ Chi bật cười lạnh nặng nề: “Cô gặp được bao nhiêu người đọc sách mà nói thế! Vương Khám chỉ là một kẻ mọt sách cổ hủ, có gì mà khác biệt chứ!”
Lư Hội giận sôi: “Nếu người còn châm chọc tôi nữa, tôi sẽ không nói thêm lời nào đâu!”
Bùi Thứ Chi khẽ khép đôi mắt phượng, trầm giọng nói: “Cô nói tiếp đi.”
Lư Hội liền ngoan ngoãn nối lời: “Tôi nói rằng, thần từng gặp qua không ít người đọc sách, nhưng chỉ có quân là bậc thanh nhã khác thường, như con hạc cô đơn giữa bầy, một thân trong sạch chẳng vương bụi trần…”
Bùi Thứ Chi lạnh lùng ngắt lời: “Ta không phải Vương Khám, chẳng cần cô phải rào chữ nặn lời như thế.”
Lư Hội bực dọc, quay lưng đứng sát tấm bình phong, chẳng buồn nhìn cậu giả kia thêm lấy một cái.
“Tôi nói, Vương học sĩ mỗi ngày làm việc cẩn thận, chu toàn, chưa từng sơ suất, nhưng tôi biết lòng ngài vẫn hướng về non xanh nước biếc, về chốn bồng lai tiên cảnh. Ngài ngưỡng mộ phong thái phóng khoáng của bậc thánh hiền xưa, tự tại tiêu dao, chẳng để công danh lợi lộc quấy nhiễu, chẳng bị gia thế môn hộ ràng buộc. Thần tuy chỉ đọc sách được vài tháng, vẫn còn mịt mờ chưa rõ lẽ đời, duy khi gặp được học sĩ, lòng mới như mở sáng, mới hiểu thế nào là ‘tùng phong trúc cốt, danh sĩ núi cao’. So với học vấn và tấm lòng khoáng đạt của học sĩ, thần thật thô thiển, tự thấy xấu hổ không yên. Thần vốn không nên quấy nhiễu, đều là lỗi của thần cả…”
Nghe đến đó, mặt Bùi Thứ Chi gần như xanh lè. Lão Tống thì lắc đầu liên hồi, đúng là một trận vừa mềm vừa rắn, vừa lùi vừa tiến, tuy có phần nịnh nọt, nhưng nói thật mà rằng, đàn ông mà, ai chẳng thích nghe mấy lời ấy.
Lư Hội dứt khoát nói một hơi cho xong: “Đang nói dở thì Vương học sĩ đã động lòng rồi. Nói đến đoạn này, ngài ấy liền mời tôi ngồi xuống, còn ôn tồn khuyên rằng ‘Thánh nhân dạy rằng giáo hóa không phân đẳng cấp’, lại nói ‘kẻ sĩ cách ba ngày nên nhìn bằng con mắt khác’. À, khi ấy tôi còn giả vờ sắp khóc, chỉ tiếc quên mang lát gừng nên chẳng khóc được.”
“Sau đó ngài ấy liền kiên nhẫn chỉ dạy tôi đọc sách, lại thường khích lệ tôi chăm học nữa.”
Nói xong, Lư Hội thấp thỏm ngoảnh lại nhìn, chỉ thấy Bùi Thứ Chi đang trừng mắt nhìn cô, sắc mặt âm trầm, đôi mắt phượng dài, sắc bén đến mức như sắp ăn thịt người.
“…” Lư Hội hơi lùi về sau một bước, lắp bắp: “Tôi… tôi đã nói thật cả rồi, người đừng mắng tôi nữa được không?”
Hồi lâu sau, Bùi Thứ Chi khẽ thở dài một tiếng: “Lại đây.”
Lư Hội rụt rè tiến lên nửa bước.
“Lại gần nữa, ta không ăn thịt cô đâu. Ngồi xuống.” Trán Bùi Thứ Chi giật giật.
Lư Hội lò dò đi tới trước mặt cậu giả, ngoan ngoãn ngồi xuống chiếc ghế gấm đối diện chiếc hồ sàng theo lời dặn.
Bùi Thứ Chi hạ giọng: “Cái tài nói năng khéo léo ấy của cô, là học từ ai vậy?”
Lư Hội lấy làm lạ: “Vì sao phải học ạ, tự nhiên tôi biết thôi. Từ nhỏ cha vẫn dạy, ‘mở miệng phải mang ba phần ý cười’, như thế mới buôn may bán đắt, khách khứa mới đến như mây.”
Nói những lời lọt tai vốn là sở trường của nhà buôn như họ cô. Ấy nhưng nghĩ kỹ lại, trong quan trường người ta nói năng khéo léo e rằng còn chẳng kém gì. Cô thật chẳng hiểu nổi vì sao vị cậu giả kia lại mang vẻ mặt rối rắm như vậy.
Bùi Thứ Chi hơi cúi người, ánh mắt thoáng hiện nét nguy hiểm: “Thế ba vị hôn phu vô duyên kia, họ nói gì về cái miệng khéo của cô?”
Lư Hội ngẫm nghĩ đáp: “Hiếu Trung không nói gì cả, Tử Tuân thì khen tôi biết cảm thông lòng người, chỉ có A Ô Nhĩ bảo tôi nói năng vụng về, sau này nên ít trò chuyện với nam nhân lạ, kẻo sinh chuyện thị phi. Tôi nghe lời huynh ấy, bình thường cũng chẳng hay nhiều lời đâu.”
Theo lẽ thường, Lư Hội ngoan ngoãn nghe lời người khác thế này, Bùi Thứ Chi hẳn phải thấy không vui. Thế nhưng lúc này chàng lại sinh lòng thương cảm với A Ô Nhĩ.
“Thanh mai trúc mã bao năm, tên người Hồ ấy cũng chẳng dễ dàng gì…” Chàng khẽ thở dài.
Lý Hiếu Trung thì khờ khạo, Độc Cô Tử Tuân lại yếu đuối đa sầu, hơn nữa quen biết chẳng lâu; chỉ có A Ô Nhĩ là kẻ hiểu rõ ‘tài năng tiềm ẩn’ của cô thanh mai kia. Bao năm qua chẳng biết hắn đã phải nuốt bao nhiêu cơn giận vào lòng. Đáng tiếc là con chim cút kia thì hoàn toàn chẳng hay biết gì!
Lão Tống không nhiều suy nghĩ phức tạp như Bùi Thứ Chi, trái lại còn thấy cô Lư như vậy là hợp lẽ.
Ba vị hôn phu kia tuy mỗi người một tính, song luận về tài học, dung mạo hay xuất thân, đều là bậc kiệt xuất trong hàng thiếu niên. Nếu cô Lư thật tầm thường ngu ngơ, sao họ lại dễ dàng đem lòng mến, còn định hôn ước?
Cô trông có vẻ vụng về, nhưng trong lại sáng suốt, giấu kín tài hoa, đúng là “nếu không có tài ẩn rực rỡ, khí chất của rồng tiềm, thì sao khiến anh kiệt bốn phương tranh nhau đến kết giao”, đại để là như thế.
Lão già bèn tiếp lời hòa giải: “Thiếu tướng đừng giận nữa. Tuân Tử cũng nói rồi, ‘Lời lành với người, ấm hơn lụa gấm; lời ác với người, đau hơn thương mác’. Hội nương như thế cũng chẳng có gì sai cả.”
“Tiên sinh không cần nói thêm, ta hiểu cả rồi.”
Bùi Thứ Chi bỗng thấy chẳng còn hứng thú, ngước nhìn chiếc đèn cung da dê vẽ cảnh trăng soi đầm sen mà xuất thần, nói nhỏ: “…Không còn sớm, đều về nghỉ cả đi.”
Lão Tống khom người cáo lui, lắc đầu bước ra khỏi Lộc Dã Đường.
Hơi lạnh mùa đông đã dần tan, hoa cỏ trong sân tỏa ra hương thơm mát pha lẫn vị tuyết tan, khiến lão khoan khoái vô cùng, dang tay hít một hơi thật sâu, ai ngờ vừa xoay người liền thấy Lư Hội cũng nối gót đi ra.
“…Khụ khụ khụ! Hội nương, cô ra đây làm gì thế hả?!” Ông suýt thì nghẹn thở.
Lư Hội ngạc nhiên: “Về nghỉ chứ sao. Thiếu tướng chẳng vừa nói vậy còn gì.”
Lão vịn vào gốc cây khô, nói: “Thiếu tướng bảo lão đi nghỉ, chứ chẳng bảo cô đi!”
Lư Hội lập tức phản bác: “Rõ ràng người nói chữ đều, nghĩa là bảo cả hai ta cùng đi nghỉ.”
Ông ngửa mặt than thầm không tiếng, Bùi Thứ Chi vốn chẳng phải người rộng lượng dễ dãi, nếu mong Lộc Dã Đường mấy ngày tới không vẩn mây mưa, tốt nhất là nên dứt điểm chuyện này ngay trong đêm nay.
Lão Tống không tiện nói thẳng rằng Bùi Thứ Chi miệng nói một đằng lòng nghĩ một nẻo, chỉ mơ hồ nói: “Lúc chia tay, Thiếu tướng từng nhắc đến Hội nương mấy lần. Nay khó khăn lắm mới đoàn tụ, hẳn nên ngồi lại hàn huyên mới phải.”
Lư Hội thầm nghĩ, nhắc nhở cái gì, chẳng lẽ là nhắc xem cô có hoàn thành nhiệm vụ hay chưa? Nghĩ đến việc mình suốt ngày bận rộn bên cạnh Nữ hoàng, chẳng có lấy một thành tích ra hồn về chính sự, cô không khỏi thấy bất an. Cũng là hai tháng xa cách, cậu giả vừa trở về liền vào triều tâu việc, còn cô thì vẫn chưa tới báo cáo với người, chẳng phải là xem thường chức trách hay sao?
–
Bùi Thứ Chi nghe tiếng bước chân phía sau, song không quay đầu lại, chỉ thong thả dùng kẹp đồng khều than trong lò. “Cô về làm gì?”
Giọng chàng lạnh nhạt.
Lư Hội hai tay cầm một chiếc hộp nhỏ, đáp: “Tôi có chút lễ vật muốn tặng cho Thiếu tướng.”
Cô bước đến bên chiếc ghế dựa bằng gỗ hồ, cúi người đặt chiếc hộp cạnh chàng. Ngọn lửa nhảy nhót, soi lên gương mặt Bùi Thứ Chi, khiến thần sắc chàng trở nên khó đoán.
Chốc lát sau, chàng đặt kẹp than xuống, mở hộp ra, vật ở trên cùng là một đôi bao tay bọc trong giấy vàng, chất liệu tốt nhưng đường kim mũi chỉ thì thật khó mà khen nổi.
Bùi Thứ Chi khẽ hừ một tiếng: “Sắp sang xuân rồi, lấy thứ này làm gì?”
Nói đoạn, chàng tiện tay đặt đôi bao sang một bên.
Đến món thứ hai là một túi vải nhung nhỏ bằng bàn tay. Bùi Thứ Chi tháo dây rút, đổ ra một vật trơn nhẵn. “Ngọc bội phương trắng ư?”
Chàng khựng lại.
Lư Hội cúi đầu: “Hôm Rằm tháng Giêng, vật phẩm tiến cống các nơi được bày thành một dãy dài. Bệ hạ bảo tôi chọn một món mình ưa thích. Tôi thấy khối ngọc này trong suốt tinh khiết, thật quý giá, lại rất hợp với Thiếu tướng, nên đã mang về.”
Ngọc bội quả thật vô cùng thanh lệ, nhìn như băng mà chạm vào lại ấm, đúng chuẩn gu mà Bùi Thứ Chi vẫn ưa. Trong lòng chàng khẽ mềm đi, song miệng lại nói: “Lấy hoa Phật mà dâng Phật, đúng là cô nhàn hạ thật.”
Lư Hội cắn chặt răng sau, cố nhịn không bật ra câu: “Người không thích thì trả lại, món ngọc quý này hợp với ai cũng được, chẳng hạn như cha của tôi, lão nhân gia người chắc chắn sẽ thích.”
Đáng tiếc, tuy miệng cậu giả chê bai, nhưng lại chẳng có ý định từ chối, tiện tay đặt luôn ngọc bội lên đôi bao tay.
Sau hai món ấy, trong hộp chỉ còn lại một dải dây buộc tĩnh lặng nằm dưới đáy.
Dây lụa phối màu giản dị nhã nhặn, song tay nghề vẫn chẳng thể khen, chỉ có điều trên dây xâu ba đồng như ý vàng rực rỡ.
Bùi Thứ Chi khẽ sững, nhấc dải dây lên xem kỹ. Trên ba đồng như ý ấy lần lượt khắc sáu chữ “Bình an”, “Thịnh vương”, “Thuận lợi”, mặt sau là hình tùng hạc mây lành, nét chạm còn vụng về.
Lư Hội đỏ mặt nói: “Dây buộc tặng người khác phần nhiều do người khác làm giúp, nhưng dây này là do chính tay tôi đan, không ai nhúng tay. Còn ba đồng như ý này là do cha mẹ tôi đúc cho tôi…”
“Lệnh tôn lệnh đường tự tay đúc tiền ư?” Bùi Thứ Chi hơi ngạc nhiên.
Lư Hội khẽ đáp: “Dạ, cha mẹ tôi đã lập lời thề trước Phật Tổ, rằng chỉ cần hai người còn cầm nổi kìm sắt, còn nâng nổi khuôn đúc, thì mỗi năm sẽ đúc ba đồng như ý, cầu cho tôi bình an khang thái thuận toại. Trừ hai năm đầu khuôn chưa thành, từ khi tôi lên ba tuổi đến nay, năm nào cũng vậy. Lần này mẹ về Sa Châu, thuận tay mang khuôn theo, cha nổi lò, đúc cho tôi ba đồng mới.”
“Tôi vẫn thường nghĩ, có lẽ tôi từ nhỏ vô bệnh vô tai, cũng nhờ phúc từ ba đồng tiền này.” Cô nhìn ba đồng vàng rực, giọng đầy lưu luyến: “Tôi đã tích được ba mươi sáu đồng, ba đồng này xin tặng Thiếu tướng. Nếu người chê…”
— Vậy thì trả lại cho tôi đi!
Ấy là tiếng lòng kêu gào tận đáy tim của Lư Hội.
Bùi Thứ Chi đưa ngón tay khẽ vuốt ba đồng vàng, trong mắt thoáng hiện ý cười rất khó nhận ra, nhưng miệng vẫn lạnh nhạt: “Lễ đã tặng ra, sao có đạo lý thu hồi. Xem ra cô vẫn còn chút lương tâm.”
Ngưng một thoáng, mặt chàng bỗng trầm xuống: “Mỗi năm ba đồng, từ ba tuổi đến năm ngoái, lẽ ra phải là ba mươi chín đồng mới đúng, sao lại thiếu ba? Ngoài ta, cô còn tặng ai khác?”
Lư Hội dài giọng than: “Thiếu tướng, người quả là kẻ có đầu óc linh mẫn nhất mà ta từng gặp.”
Bùi Thứ Chi quát: “Đừng đánh trống lảng! Cô tặng cho ai? Có phải tên hồ nhân kia không?”
Chàng phản ứng cực nhanh, lập tức đoán trúng.
Lư Hội lớn tiếng: “Phải, chính là A Ô Nhĩ! Huynh ấy đi báo thù rửa hận, sau này chỉ còn đường trốn sang Tây Vực, cả đời này tôi cũng chẳng biết còn gặp lại được không. Tặng huynh ấy ba đồng như ý để cầu bình an thì đã sao? Nếu lúc ấy tôi mang theo nhiều hơn, tôi còn muốn chia cho huynh ấy một nửa! Ba đồng này Thiếu tướng có nhận thì nhận, không nhận thì trả lại cho tôi!”
Cô dồn một bụng ấm ức, ngẩng cao đầu chờ cậu giả nổi trận lôi đình, rồi hai người lại cãi nhau một trận cho đã.
Nhưng đợi mãi, chẳng thấy người ta phản ứng gì. Cô cúi đầu nhìn, chỉ thấy trên gương mặt Bùi Thứ Chi là nét biểu cảm phức tạp, nửa như giận, nửa như cười.
Một lát sau, chàng phong thái ung dung, đưa tay thu dải dây như ý vào trong tay áo.
“Ba đồng như ý cô tặng cho tên hồ nhân kia, chắc không có xâu dây buộc chứ?” Chàng hỏi.
“À… ờ, không có…” Lư Hội còn chưa kịp phản ứng, ngẩn ra nói, “Khi đó tôi vẫn chưa biết thắt dây mà.”
“Thế thì thôi.” Bùi Thứ Chi khẽ phất tay, giọng hờ hững, rồi nghiêm mặt nói: “Ba đồng như ý này là vật song thân tặng cô để hộ bình an, ý nghĩa trọng đại, sau này chớ nên tùy tiện trao cho kẻ khác nữa.”
Lư Hội “ồ ồ” gật đầu, chợt nhớ ra chuyện gì, bèn nói: “Thiếu tướng đã có như ý tiền rồi, hay là trả lại bùa hộ mệnh ấy cho tôi đi.”
Nụ cười trên mặt Bùi Thứ Chi khựng lại: “Cô nói gì?”
“Hôm trước đã nói rõ là mượn tạm cho người đó, nay người bình an trở về, hẳn là nên trả lại cho tôi.” Lư Hội căng thẳng giải thích.
Từ nhỏ đến lớn, Bùi Thứ Chi chưa từng bị ai đòi lại đồ, chàng giận đến mức suýt bật tiếng mắng, sắc mặt đổi tới đổi lui, cuối cùng vẫn giật mạnh cổ áo, giận dữ ném trả lại bùa hộ mệnh: “Lấy đi!”
Lư Hội đón lấy, thở phào một hơi: “Dạo này tôi cứ gặp Y Lam là lại thấp thỏm, chỉ sợ tỷ ấy biết tôi đem bùa hộ mệnh tỷ ấy cầu cho tôi mà cho người khác mượn mất.”
Thấy cô gái cúi đầu buộc lại sợi dây đỏ, treo bùa lên cổ mình, làn da mịn trắng điểm thêm vệt đỏ nhạt, Bùi Thứ Chi nghiêng mặt đi, vành tai khẽ nóng lên, dường như cơn giận cũng tan đi phần nào.
Thật mệt mỏi. Mới tái ngộ với con chim cút kia chưa được nửa ngày, chàng đã có cảm giác mình đi dạo một vòng từ tiên giới xuống hoàng tuyền trở lại rồi.
“Cãi vã một trận không đầu không đuôi thế này, tôi còn chưa hỏi người vì sao lại cho người giám thị nhà tôi?” Lư Hội buộc chặt sợi dây đỏ, giấu vào cổ áo.
Bùi Thứ Chi nhìn xuống đầu gối mình: “Nếu ta thật sự muốn giám thị ai, tuyệt sẽ chẳng để người đó phát hiện. Nay cô hầu hạ bên cạnh Bệ hạ, khó tránh khỏi bị kẻ có dã tâm để mắt. Ta chỉ cho người bố trí vài thuộc hạ ở Trĩ Dương, đề phòng nhỡ có chuyện mà thôi.”
Lời ấy Lư Hội tin: “Được thôi, Y Lam cũng nói mấy người đó hành tung tuy mờ ám, nhưng dường như chẳng có ác ý gì. …Thật ra tôi thấy Vương học sĩ cũng chẳng có ác ý, ngài ấy còn nói muốn đặt cho tôi một cái tên chữ nữa cơ.”
Bùi Thứ Chi lập tức ngẩng đầu: “Cô nói gì?”
Lư Hội đáp: “Vương học sĩ bảo tôi nay cũng xem như người đọc sách, đáng lẽ nên có một chữ biểu, ngài ấy nguyện đặt giúp tôi.”
Bùi Thứ Chi lặng lẽ nhìn cô một hồi, đến nỗi Lư Hội bị chàng nhìn mà trong lòng thấy bồn chồn.
“Đi theo ta.” Chàng đột nhiên đứng dậy, sải bước đi vào thư phòng bên trong.
Bùi phủ có hai gian thư phòng: gian ngoài chính là Mộc Hương Trai dựng bên hồ, rộng rãi sáng sủa, là nơi Bùi Thứ Chi cùng Lão Tống bàn việc, tiếp khách; còn thư phòng trong lại đặt sâu trong Lộc Dã Đường. Lư Hội ở đây mấy tháng, nhưng chưa từng thấy nơi ấy trông ra sao.
Đi qua dãy nhà bên, rẽ hai lượt, cô theo sau chàng đến một thư trai thoang thoảng hương khói nhàn nhạt. Cô hít nhẹ, cố phân biệt hương liệu, chẳng biết là hòa từ những thứ hương nào, chỉ thấy mùi thật dễ chịu.
Thư trai bài trí thanh nhã mà xa hoa, ánh sáng tối dịu khiến người ta vừa bước vào đã ngỡ như lạc xuống đáy hồ gợn ánh lấp lánh. Lạ nhất là ở góc phòng lại có một bàn thờ Phật bằng gỗ trầm hương, song phía trước che rèm gấm, chẳng rõ thờ vị Phật nào.
Bùi Thứ Chi lần lượt thắp sáng bốn ngọn đèn lạc vàng liền cành trong phòng, rồi cầm một chiếc đèn đồng hình chim tước tinh xảo đi đến trước một tấm bình phong vẽ sơn thủy nhã nhặn trên lụa.
“Lại đây.” Giọng chàng khẽ khàng.
Lư Hội bước tới, theo ngón tay thon dài trắng trẻo của chàng nhìn sang, chỉ thấy bên sườn núi trong bức họa có viết hai chữ tiểu khải tinh tế, “Nhược Trừng.”
“Ta sớm đã đặt cho cô chữ biểu này, chẳng cần Vương Khám xen vào nhiều chuyện.”
Không biết có phải do ánh đèn chiếu rọi hay không, mà hai má trắng của chàng nhuốm một tầng đỏ nhạt như cánh đào đầu xuân.
“Nhược Trừng, Nhược Trừng.” Lư Hội khẽ đọc hai lần, cảm thấy hai chữ ấy vừa thanh tao vừa êm tai.
Bùi Thứ Chi thấp giọng nói: “Lấy từ câu ‘Quân tử đạm thân, trạm nhược trừng thủy’, ý nói người quân tử giao kết nên trong sáng như nước, chẳng vướng bụi nhơ. Câu này là của Vương Hồ Chi, cô có biết không?”
Lư Hội gật đầu: “Biết đôi chút. Vương Hồ Chi là anh họ của Vương Hữu Quân, chẳng những văn tài hơn người, mà còn giỏi trị chính dụng binh, dù ở địa phương hay trung ương đều có công trạng. Chỉ tiếc mệnh yểu, vừa muốn thi thố tài năng đã lâm bệnh qua đời.”
Cô lại nói: “Thiếu tướng, tôi nhớ chữ biểu của người là ‘Nhược Trạm’, nghe cũng gần giống quá.” Cô quen biết chẳng nhiều quyền quý, chẳng lẽ giờ giới thượng lưu đều chuộng lấy chữ “Nhược” đầu cùng bộ thủy hay sao?
Ngọn đèn bỗng nhảy lên một cái, sắc đỏ trên má Bùi Thứ Chi càng thêm đậm. Chàng khẽ nói: “chữ biểu của ta lấy trong thiên Thường Đệ trong Thi Kinh. Cô không thích hai chữ ‘Nhược Trừng’ này sao?”
Lư Hội đưa tay vuốt nhẹ lên hai chữ nét mảnh mà đoan chính trên bình phong, mỉm cười: “Không… tôi rất thích.”
Thiếu nữ mỉm cười với Bùi Thứ Chi, đuôi mày cong cong, khóe môi khẽ nhếch, nụ cười vừa ngọt ngào vừa duyên dáng, sáng trong mà thẳng thắn.
Trong lòng Bùi Thứ Chi chợt dâng lên một dòng ấm áp mềm mại, chàng cũng không kìm được mà rạng rỡ mỉm cười theo. Nụ cười ấy dịu dàng mà chân thành, tựa như ngọc thụ hoa mai, trong trẻo đến cùng cực, rạng rỡ tựa ánh quang trên mặt nước.
Lư Hội ngẩng đầu nhìn chàng, ánh mắt không rời, bỗng cảm thấy cổ họng khô khốc, tim đập thình thịch liên hồi. Cô nghĩ, những kẻ ngoài kia mắng chàng là “kẻ bụng dạ thâm sâu, miệng cười như hồ ly” nhất định là chưa từng thấy dáng cười như thế này của chàng, nếu đã thấy rồi, hẳn là nỡ nào còn mắng được nữa.
Rồi, chẳng hiểu bị ma xui quỷ khiến thế nào, cô kiễng chân lên, khẽ hôn một cái lên má chàng.
Bùi Thứ Chi bỗng chấn động, như thể bị sét đánh, loạng choạng lùi nửa bước, trong mắt tràn đầy vẻ không thể tin nổi.
Trong tình cảnh ấy, nếu là một cô nương bình thường, ắt hoặc sẽ e thẹn kêu khẽ một tiếng rồi đỏ mặt bỏ đi, hoặc gan dạ tỏ tình, nói lời tha thiết. Nhưng Lư Hội lại nghĩ theo lối khác, đã hôn một cái là thất lễ, hôn hai cái cũng vẫn là thất lễ, vậy thì nhanh còn hơn chậm, chậm là thiệt ngay.
Cô túm lấy vạt áo trước ngực chàng, kéo mạnh xuống, khiến chàng cúi thấp cổ theo bản năng. Lư Hội ngẩng cổ lên, nhanh như chớp đặt thêm một nụ hôn nữa, lần này là lên bên khóe môi chàng.
Đầu lưỡi cô khẽ chạm, dường như nếm được vị rượu nhè nhẹ, thanh lạnh, bên ngoài gió xuân hãy còn rét mướt, chẳng lẽ trên đường phi ngựa về, chàng đã uống rượu ư?
Còn chưa kịp rụt cổ lại, bỗng nghe “choang” một tiếng, chiếc đèn đồng tước trong tay Bùi Thứ Chi rơi xuống đất.
Chàng bất chợt cúi người xuống, siết chặt hai cánh tay cô, mạnh mẽ đè ép tới, cho đến khi lưng cô chạm vào giá sách gỗ đàn. Hai người mũi kề mũi, hơi thở quấn nhau, Lư Hội gần như nghe rõ tiếng tim chàng đập thình thịch như trống trận.
Cô bị bóp chặt đến mức xương tay đau nhức, không thể cựa quậy. Trong hơi thở nóng bỏng của chàng, cô thấy rõ mồ hôi đang rịn ra trên trán chàng, lớp râu mỏng nơi cằm, gân xanh nổi rõ nơi cổ trắng, và trong mắt chàng, ánh lên một tia hung bạo xa lạ, đỏ như máu.
Chỉ trong khoảnh khắc, Bùi Thứ Chi đột nhiên buông tay ra, rồi xoay người bỏ đi như cơn gió lốc.
–
Những chuyện sau đó, Lư Hội nhớ không được rõ lắm.
Bùi Thứ Chi sải bước gấp gáp, đá đổ một chiếc bàn nhỏ bằng gỗ đàn, lại va ngã cả cây đèn lưu kim liên chi, khiến thảm lông dưới đất bốc cháy thành đốm lửa. Thế nhưng chàng chẳng hề quay đầu, gần như là hoảng loạn mà chạy khỏi đó.
Lư Hội đành xách chiếc bát rửa bút sứ trắng trên án thư lên, đập đập dập dập, múc nước dội tắt lửa. Đến khi cô chạy ra ngoài thì Ti Liệt, người đang chờ ngoài cửa, lắp bắp nói với cô rằng, Thiếu tướng có việc gấp, đã ra ngoài rồi.
“Lừa ai chứ, giờ này đã giới nghiêm, ra ngoài thế nào được?!” Lư Hội nổi giận quát.
Tử Liệt dường như cũng mờ mịt chẳng hiểu đầu đuôi, nhưng vẫn một mực nói rằng Bùi Thứ Chi không còn trong phủ, lại khuyên cô nên nghỉ ngơi, ngày mai còn phải vào cung hầu Nữ hoàng.
Náo loạn một hồi, Lư Hội cũng thực sự mệt rồi. Cô ăn qua loa vài miếng cơm, rồi mơ màng thiếp đi.
Đã xảy ra chuyện vừa kinh tâm vừa kích thích đến thế, vậy mà thật kỳ lạ, cô lại ngủ một mạch đến tận sáng.
Đúng lúc cô định chạy đến Chính Sự Đường để hỏi cho ra lẽ, thì nghe tin cậu giả đã sớm hơn cô một bước vào triều rồi, lại còn mang theo cả chăn nệm và y phục thay đổi, nói là muốn bù lại hơn hai tháng trực đêm ở Chính Sự Đường mà mình đã thiếu.
“Cái… gì cơ?!” Lư Hội tròn mắt ngây ra như phỗng.
Triều đình quả thật có chế độ trực đêm luân phiên tại các tỉnh bộ. Trong đó, Chính sự đường do các vị tướng phụ trách thay nhau ngủ lại trong cung để phòng khi Nữ hoàng cần triệu kiến bất cứ lúc nào. Ngoại trừ hai vị lão thần quá tuổi là Lưu đại nhân và Thẩm đại nhân, những người còn lại hầu như cứ năm sáu ngày lại tới phiên trực một đêm.
Thế nhưng Lư Hội chưa từng nghe nói, ra ngoài làm việc công trở về còn phải bù lại mấy ngày trực đã thiếu bao giờ!
Lần trước cô chỉ mới nhào tới ôm chàng một cái, cậu giả liền lên cơn điên dở nửa tháng, khi nóng khi lạnh; lần này cô lại hôn chàng hai cái, chẳng biết chàng sẽ nổi trận điên ra sao, và sẽ kéo dài bao lâu nữa đây?
Nhưng mà, tiểu tư trực mới thăng chức như cô nào phải hạng dễ buông tay. Cô nghiến răng, phi ngựa nhẹ một đường, thẳng tiến đến cửa cung, quyết tâm chặn người tại Chính sự đường.
Cô không tin, chàng có thể mọc cánh mà bay lên trời được chắc?!
Cô muốn nói với chàng rằng chàng đừng sợ, cô hiểu rõ ở Trung Nguyên có bao quy củ hôn phối, cô sẽ không ép chàng cưới, cũng chẳng quấn quýt làm phiền. Chàng cứ việc ở nơi miếu đường cao xa, bàn chuyện thiên hạ; còn cô, ở vùng Sa Châu kia, cũng có cả một mảnh trời tự do cho riêng mình. Hai người vốn là chim bay cá nước, đường ai nấy đi, chẳng cần nghĩ nhiều.
Điều cô thật sự muốn nói là, tuy tính tình chàng cổ quái, đa nghi lại gàn dở, nhưng dung mạo chàng thực sự quá đẹp, khiến lòng cô chẳng thể dằn được. Mà đã khi chàng cũng không hoàn toàn vô ý, chi bằng hai ta cứ thuận theo lòng mà kết một đoạn duyên đi, chẳng hay chàng thấy thế nào?
Lư Hội xuống ngựa, vừa đi vừa lắc đầu, trong lòng mơ hồ thấy lời này sao nghe không ổn lắm, hình như hơi giống giọng lũ háo sắc chuyên dụ dỗ lương gia tiểu nương nương vào cuộc tình chóng vánh vậy.
Còn chưa kịp chỉnh lại lời lẽ cho ổn, đã thấy tiểu hoạn quan bên cạnh Cù Tùng Phong đang đứng chờ ngoài cửa cung, vẻ mặt đầy sốt ruột. Vừa thấy cô liền liên tục giục giã: “Nhà Lăng Dương Vương đã vào cung rồi, Cù đại giám cho gọi Lư tư trực mau mau qua đó!”
Lư Hội ngẩn ra: “A… chuyện này…”
A chuyện này, thôi được, chuyện nhi nữ tình trường tạm gác lại, nữ nhân muốn nên đại sự, trước hết phải đặt sự nghiệp lên hàng đầu mới đúng.
Tác giả có lời muốn nói:
PS: Hội Hội thật ra mang trong mình một “tuyệt kỹ”, chỉ là bản thân còn chưa biết thôi.
PPS: Vì sao các nhà tuyển dụng đều thích người có vài năm kinh nghiệm làm việc ư? Bởi vì càng làm càng thuần, dù không hiểu rõ nguyên lý, cũng tự có lối quen thành nghề.

Đọc đến đây thì không thể không viết comment, ai mà thuần đọc cổ đại thì đây đúng là siêu phẩm của năm, mà có khi còn nhiều năm sau nữa. Hóng từng chương 1 nhưng chưa 1 chương nào phải thất vọng, cứ mỗi chương là một điều bất ngờ nhỏ bé mà mình phải wow.
Bà tác giả quá xuất sắc, quá hiểu con người & cuộc đời, xây dựng na9 nu9 thực sự rất khác biệt, rất người và đáng yêu. Huhu peak nhất trong 2-3 năm gần đây của tui.