Chương 26: Ngọn nguồn loạn Lữ Xuyên (4)
*
Ngày hôm sau, vào giờ ngọ, hai bản tấu sớ trước sau được dâng lên ngự án của Nữ hoàng.
Một bản là quân báo khẩn cấp của Thứ sử U Châu, vẫn do Lư Hội đọc lên.
“Giờ Mão sáng nay, thám báo truyền tin, xác nhận Tùng Mạc Đô đốc Lệ Quốc Trung cùng Đông Di Thứ sử Vạn Đại Vinh đồng loạt dựng cờ phản loạn, ba ngày trước đã công phá thành Đàn Châu. Thứ sử Tào Khả An suất bộ nghênh chiến, sức cùng lực kiệt, thành vỡ, tuẫn quốc trên lầu thành. Giặc vào thành liền tàn sát lê dân, cướp bóc phủ khố, cảnh trạng thảm khốc không nỡ nhìn…”
Từ Đàn Châu đến Đông Đô Lạc Dương tám trăm dặm, khoái mã cũng phải bốn đến năm ngày mới tới. Vì thế, hôm qua khi cô đọc quân báo khẩn cấp cho Nữ hoàng, kỳ thực thành Đàn Châu đã thất thủ từ lâu. Điểm này, Nữ hoàng cùng Bùi Thứ Chi và những người khác đều hiểu rõ trong lòng.
Giọng Lư Hội khẽ run run: “Sau đó, phản quân chia binh, một cánh men theo quan đạo tiến xuống phía nam, tiền phong cách châu cảnh thần quản hạt chỉ còn tám mươi dặm! Thần đã cấp tốc điều binh giữ thành, song binh lực mỏng manh, e khó chống đỡ. Giặc thế hung hãn, nếu không kịp cứu viện, chỉ sợ trong vài ngày nữa châu thành cũng sẽ thất thủ. Thần Phùng Chí Kiệt run sợ dập đầu, rơi lệ bẩm trình. Giặc binh sắp tới, sinh tử tồn vong, khẩn cầu bệ hạ sớm quyết đoán!”
Vị Phùng Thứ sử này văn bút không tầm thường, mấy dòng ngắn ngủi mà máu lệ đầm đìa, kinh tâm động phách, hiển nhiên sợ U Châu mình trấn giữ sẽ đi vào vết xe đổ của Đàn Châu.
Đọc xong, Lư Hội mờ mịt nhìn về phía Nữ hoàng.
Nữ hoàng vẫn giữ được trấn định: “Đọc tiếp.”
Bản thứ hai là mật báo do Ngụy Quốc phu nhân gửi tới.
Chỉ trong vòng một ngày một đêm, cũng không biết có dùng đến thứ “phi cáp truyền thư” trong truyền thuyết hay không, đám thám tử tai mắt của Ngụy Quốc phu nhân đã lần ra rõ ràng đầu đuôi cuộc biến loạn ở Lữ Xuyên.
Đô đốc Lữ Xuyên Sầm Văn Tu bạo ngược vô đạo, khinh miệt người Hồ. Năm ngoái sau đại tuyết tai, bộ lạc Khiết Đan xảy ra biến cố, dân chúng không áo không cơm, lưu ly thất sở. Sầm Văn Tu chẳng những không nghĩ đến cứu tế, trái lại còn càng thêm áp bức, hà hiếp. Vì thế Lệ Quốc Trung, vốn đã bất mãn trong lòng, liền cấu kết với em vợ là Đông Di Thứ sử Vạn Đại Vinh, nhân cơ hội khởi binh làm loạn.
— Quả nhiên đều bị Đường Nghĩa Phương nói trúng.
Sầm Văn Tu binh bại thân vong, nhưng để lại cho triều đình một cục diện bừa bộn khổng lồ.
Đọc đến câu cuối, Lư Hội cất giọng: “…Khi Lệ Quốc Trung dẫn binh nam tiến, nghe nói tên giặc này đã tự lập làm ‘Chí Tôn Khả Hãn’.”
“Đúng là tên nghịch tặc sói lang dã tâm!”
Chặn giấy bằng ngọc thạch xen lẫn cơn nộ khí phun trào như một cơn cuồng phong, nặng nề nện lên trụ đèn mạ vàng, đài đèn vảy rồng uốn lượn lõm xuống một vết cạn. Đây là lần thứ hai từ khi biến loạn phát sinh đến nay Nữ hoàng nổi giận, lần đầu là khi vừa nhận được quân báo.
Lư Hội lặng lẽ đi nhặt chặn giấy, cổ họng như mắc phải một chiếc xương cá cứng, nghẹn đến tức ngực.
— Có phải trong lòng những kẻ nắm quyền này, cướp phá một tòa thành, tàn sát hàng vạn lê dân, còn không quan trọng bằng việc tổn hại uy nghiêm của hoàng đế?
Nữ hoàng cũng không che giấu, thẳng thắn đem hai bản tấu sớ bày ra trước mặt chư vị tể tướng trong Chính Sự Đường. Lương Vương Chử Thừa Cẩn, kẻ đã nhiều ngày không lộ diện, cũng ở trong đó. Lúc này Lư Hội mới sực nhớ, vị lão huynh không mấy đáng tin này còn kiêm cả chức Binh bộ Thượng thư.
Lần này Đường Nghĩa Phương không tiếp tục bám lấy sai lầm của Sầm Văn Tu nữa, chỉ ngắn gọn nói một câu: “Việc đã đến nước này, triều đình chỉ còn con đường xuất binh bình loạn.”
Sau đó, mọi chuyện đều như Bùi Thứ Chi đã liệu trước. Lão tể tướng Thẩm Khâm lần lượt điểm danh các tướng lĩnh hiện có trong triều, Tiêu Thế Công xét cả quân công lẫn thâm niên đều thuộc hàng thượng thừa, vì thế được tiến cử làm chủ soái bình loạn, các vị tể tướng khác đều phụ họa.
Còn Chử Thừa Cẩn thì tiến cử Sư Huyền Khang cùng những tướng lĩnh xuất thân từ Vệ Ngự Lâm, vừa mở miệng đã thao thao bất tuyệt —
“Tiêu Thế Công tự cậy công cao, kiêu ngạo vô lễ, năm năm trước vì chiến sự với Thổ Phiên bất lợi mà bị giáng chức bãi quan, ở nhà nhàn rỗi. Nay chỉ là vùng biên viễn nhỏ xảy ra chút rung động, triều đình đã vội vàng khởi dụng hắn, chẳng phải sẽ càng trợ trưởng khí diễm của hắn sao? Chư vị tướng công tự vấn lương tâm, Sư Huyền Khang tuy thâm niên có cạn hơn chút, nhưng mấy năm nay dù là tiễu phỉ bình loạn hay chấp chưởng cấm quân, từng xảy ra sai sót nào chưa? Huống chi hắn lại là võ trạng nguyên do cô mẫu đích thân chọn định, lần này xuất binh bình loạn, chém giết nghịch tặc, vừa hay bịt miệng một số kẻ…”
Chử Thừa Cẩn cố ý liếc sang Đường Nghĩa Phương: “Tránh cho lại có người nghị luận cô mẫu dùng người không thỏa đáng, gây nên đại họa gì đó.”
Thẩm Khâm và Bùi Thứ Chi theo lệ giả câm giả điếc.
Hai người thong dong khép tay, khẽ nhíu mày, bày ra một bộ dáng nhã nhặn vạn năng, nói họ tán thành ý kiến của Chử Thừa Cẩn, thì cái nhíu mày kia biểu thị trong lòng còn thấy chưa ổn; nói họ phản đối, thì lại chưa từng mở miệng.
Nhìn mà Lư Hội chỉ muốn đấm cho mỗi người một quyền vào mặt.
Vị lão đầu thế gia chuyên đi đường không giống ai là Thôi Huyền mặt mày căng thẳng, lên tiếng: “Lão thần tuy không thông quân sự, nhưng cũng biết Sư tướng quân chưa từng có kinh nghiệm đại quy mô dã chiến, huống chi binh mã viễn chinh, thần e Sư tướng quân không quen địa thế sơn xuyên…”
“Lời ấy không thể nói như vậy được!” Chử Thừa Cẩn cười nhạt đầy giễu cợt. “Vệ Thanh vốn xuất thân kỵ nô, Hoắc Khứ Bệnh lại lớn lên trong thâm cung hầu phủ dưới tay đàn bà, hai người ấy trước khi bái tướng đã từng có kinh nghiệm chiến trận gì đâu, vậy mà vừa lên ngựa đã có thể đánh. Bản vương thấy Sư tướng quân hoàn toàn khả thi, giết sạch phản quân Hồ Lỗ, chấn hưng thanh danh của cô mẫu, chính là ngày hôm nay!”
Lư Hội cạn lời, ngẩng đầu nhìn trời. Trên vòm điện, những chim thú vẽ vàng rực rỡ dường như đang phát ra tiếng cười câm lặng, ông cho rằng Vệ Thanh với Hoắc Khứ Bệnh là miếng mỡ trong bụng tên Chử đại ngốc nhà ông sao, nói có là có?!
Khi cúi đầu xuống, cô trông thấy khóe môi Nữ hoàng cũng khẽ giật giật.
“Đường ái khanh nghĩ thế nào?” Nữ hoàng hỏi.
Đường Nghĩa Phương có thể sống qua thời kỳ cực thịnh của bọn ác quan, đương nhiên không phải hạng đầu óc rỗng tuếch.
Dẫu Chử Thừa Cẩn có ngốc đến đâu, rốt cuộc cũng chọc trúng tâm bệnh của Nữ hoàng, vì thế Đường Nghĩa Phương chỉ có thể giữ lấy lập trường cuối cùng: “Xin bệ hạ vẫn nên khởi, khởi phục Tiêu Thế Công, thao luyện tân binh, tạm thời chuẩn bị sẵn, có, có chuẩn bị thì không lo hoạn nạn.”
Lư Hội nhìn gương mặt nghiêng giãn ra của Nữ hoàng, biết bà hài lòng với sự sắp xếp này.
Cô liếc mắt xuống, thấy Bùi Thứ Chi khẽ cúi thấp cổ dài, tư thế cung kính, chỉ có khóe môi đỏ nhuận hơi nhếch lên để lộ một tia giễu cợt kín đáo.
–
Lư Hội chức ti thấp kém, học thức lại nông, chuyện quân quốc đại sự cỡ này vốn chẳng đến lượt cô xen vào. Ngay cả Đoan Mộc Tuệ cũng chỉ lặng lẽ đứng bên Nữ hoàng, ghi chép lại những lời can gián và đề nghị của chư vị tướng công cùng các tướng lĩnh trong cuộc nghị chiến.
Những đạo quân chiếu và văn thư bổ nhiệm quan lại dày đặc như tuyết rơi liên tiếp được ban xuống. Cách lần đại chiến gần nhất đã mấy năm, bộ máy triều đình khổng lồ cùng vô số nha môn bắt đầu vận chuyển có trật tự, mang theo tiếng then cửa kẽo kẹt vang lên đều đặn.
Cuối cùng, dưới sự đồng tiến cử của Sư Huyền Khang và Chử Thừa Cẩn, Nữ hoàng tổng cộng điểm danh hai mươi tám vị tướng lĩnh xuất thân vệ quân. Dẫu có chút hiềm nghi kết bè kết cánh của Chử thị, song quả thật đều là mãnh tướng từng lập chiến công, cũng không đến mức quá đáng.
Ngoài ra, Nữ hoàng còn phong Chử Thừa Cẩn làm Du Quan Đạo An phủ Đại sứ để làm ứng viện, khởi phục Tiêu Thế Công làm thống soái dự bị; lại tìm cho người trước một vị phó sứ già dặn trầm ổn, tránh để thằng cháu ngốc kia ăn no rửng mỡ rồi tự chuốc đòn. Bên cạnh người sau thì an trí Tả Vũ Lâm tướng quân Hồng Bình Sơn làm phó tướng, giúp lão Tiêu “làm quen” lại hoàn cảnh.
Lư Hội lần nữa cảm khái, mọi chuyện đều đúng như Bùi Thứ Chi dự liệu. Người cậu giả này rốt cuộc đã âm thầm quan sát, nghiền ngẫm bao lâu, mới có thể như con giun trong bụng người, thấu triệt hoàn toàn tính tình, thói quen và sách lược dùng người của Nữ hoàng.
Vừa tan triều, Lư Hội đã nghe bọn hoàng môn cung nga quét dọn hưng phấn bàn tán, nói hai mươi tám vị tướng ấy ứng với hai mươi tám tinh tú trên trời, là thần tiên giáng thế để bảo hộ lê dân, còn có thể phò tá giang sơn của Nữ hoàng muôn đời bền vững.
Mi mắt Lư Hội giật giật. Xem ra nghề cũ của Chử Thừa Cẩn vẫn chưa bỏ, bày trò điềm lành quả thật quen tay hay việc; e rằng trên đường về nhà hôm nay, cô cũng sẽ nghe dân gian bàn tán y hệt như vậy.
Nhưng nếu trên trời thật sự có thần tiên, cớ sao không dứt khoát phù hộ cho nhân gian người người trường thọ, năm năm được mùa, thái bình vĩnh viễn?
–
Là vị tướng công trẻ tuổi nhất trong Chính Sự Đường, Bùi Thứ Chi làm việc đủ sáu phần tận lực, bốn phần diễn xuất: sắp xếp phương án điều lương, bổ sung binh khí chiến mã, thu thập tin tức về các bộ tộc Khiết Đan… Cả ngày vùi đầu trong án thư, khiến ai nấy đều không thể bắt bẻ Thiếu tướng có nửa phần thất trách.
Mãi đến khi hoàng hôn trở về phủ, chàng mới nhận ra Lư Hội có điều khác lạ.
Thiếu nữ sau án thực buồn bã rời rạc, lặng lẽ gẩy thức ăn trong đĩa, bữa tối vốn rộn ràng tiếng cười nói ngày thường không biết từ lúc nào đã lặng như giếng cổ.
Bùi Thứ Chi đặt đũa xuống: “Sao vậy, chẳng lẽ bị bệ hạ trách mắng?”
Lư Hội lắc đầu: “Bệ hạ chưa bao giờ vì triều chính mà nổi giận với chúng tôi.”
Dẫu Nữ hoàng thường bị người đời chê trách âm độc tàn bạo, nhưng có một điều tốt đẹp: mấy chục năm qua luôn đối đãi tử tế với cung nhân nô bộc; cho dù trong lòng uất ức, cũng chỉ tìm những kẻ quyền cao chức trọng mà trút giận, chưa từng giáng họa xuống người yếu thế.
Bùi Thứ Chi cười đùa: “Hay là bị đồng liêu ức hiếp? Đoan Mộc Tuệ sao?”
Lư Hội lại lắc đầu: “Người là ‘cậu’ của tôi, bệ hạ lại luôn khoan dung với tôi, trong cung ai không có mắt mà dám làm khó tôi, Đoan Mộc đại nhân lại càng không.”
Thấy đôi song hoàn kế đen nhánh mềm mại sau tai cô rũ xuống, tựa như một con thỏ con ủ rũ tinh thần, giọng Bùi Thứ Chi càng thêm dịu dàng: “Rốt cuộc là làm sao? Hội Hội, đừng giữ chuyện trong lòng.”
Lư Hội vốn không phải kiểu người chịu đựng được, nghĩ ngợi chốc lát rồi gật đầu. Song hoàn kế đính minh châu khẽ lay động, trông càng giống một con thỏ tai rũ tròn vo mềm mại, khiến Bùi Thứ Chi nhìn mà chỉ muốn bật cười.
Lư Hội đứng dậy, nghiêm túc đóng hết cửa sổ bốn phía, lúc này mới ngồi xuống mở miệng: “Tôi từ nhỏ đã rất được lòng người, trưởng bối hay trẻ con láng giềng không ai là không thích tôi. Đến Đông Đô mới vài tháng, tôi đã kết giao được ba người bạn chí khí tương đầu, đủ thấy tôi đáng yêu đến mức nào rồi…”
Bùi Thứ Chi không khỏi cảm thán: “Lâu lắm rồi ta mới nghe được kiểu tự khen thẳng thắn không làm dáng như thế.”
Lư Hội tiếp lời: “Nhưng Thiếu tướng không thấy kỳ lạ sao? Từ khi tôi và người quen biết đến nay, những bạn bè thuở nhỏ tôi nhắc đến chỉ có Y Lam và A Ô Nhĩ hai người. Y Lam là theo phụ thân chạy nạn đến Sa Châu, còn A Ô Nhĩ đến muộn hơn, may mà chúng tôi rất nhanh đã trở nên thân thiết…”
Bùi Thứ Chi đặt đôi đũa ngà xuống, giọng không vui: “Ta không muốn nghe chuyện thanh mai trúc mã của các người.”
Lư Hội mặc kệ, tiếp tục nói: “Thực ra trước Y Lam và A Ô Nhĩ, tôi còn có những người bạn thân thiết khác, A Tú, Uyển Uyển, Tiểu Xuân, Bàn Nhược Nô, còn có Không Không Nhi được gửi nuôi trong chùa. Khi ấy, chúng tôi đều sống ở Triệu Châu…”
Bùi Thứ Chi kiến văn quảng bác, trong lòng lập tức khẽ động: “Triệu Châu? Chẳng lẽ là bốn năm trước…?”
Lư Hội nhìn lư hương khói nhẹ lượn quanh: “Triệu Châu gần Trung Nguyên hơn Sa Châu, thành trì cũng phồn hoa hơn. Cha mẹ tôi ban đầu an cư lập nghiệp ở đó, sau này làm ăn ở Sa Châu ngày một lớn, cả nhà mới chuyển đi. Nhưng giao tình cũ vẫn chưa đoạn, mấy nhà thân thiết thường xuyên qua lại thăm hỏi, mỗi dịp lễ tết đều luân phiên mở tiệc mời nhau.”
“Bốn năm trước, tức năm Phượng Lâm thứ mười hai, Ngột Đạc Khả Hãn dựng nha trướng ở phương Bắc bỗng nhiên dẫn quân nam hạ, một đường đốt giết cướp bóc, liên tiếp phá mấy châu. Triệu Châu cũng nằm trong số đó.”
Bùi Thứ Chi ngồi xuống bên cạnh Lư Hội, nhẹ nhàng vòng tay qua vai cô để an ủi.
Ánh mắt thiếu nữ ngấn lệ: “Nghe nói là vì triều đình đưa một vị hoàng tử giả sang hòa thân với con gái Khả Hãn, nha trướng phương Bắc cho rằng bị sỉ nhục nên mới phát binh trả thù. Nhưng Trương bá phụ nói, đó chỉ là cái cớ. Sau đó Ngột Đạc Khả Hãn đánh tới đánh lui với quân triều đình, giằng co gần một năm trời, cuối cùng mới chịu lui binh.”
“Nhưng khi rút quân, tên Khả Hãn ấy không những chôn sống mấy vạn dân chúng, mà còn bắt vô số người làm nô lệ, sống không bằng chết. Nhiều nơi dân cư tuyệt diệt, xương trắng chất thành núi. Cha tôi dẫn đội ngựa trở về Triệu Châu tìm người, mẹ tôi trước Phật cầu hết lần này đến lần khác, chỉ mong mọi người đều còn sống, nhưng…”
Bùi Thứ Chi đưa qua một chiếc khăn lụa trắng như tuyết: “Họ đều đã chết?”
“Gần như vậy.”
Lư Hội siết chặt ngón tay, vặn chiếc khăn thành sợi thừng: “Nhà A Tú và Bàn Nhược Nô ngay ngày thành phá đã bị cướp bóc, tàn sát, xác phơi đầy phố. Không Không Nhi bị giặc bắt đi, chịu đủ nhục hình, nửa đêm treo cổ tự vẫn, ngôi chùa cũng bị đốt sạch. Nhà Uyển Uyển trên đường chạy nạn bị vó ngựa giẫm chết. Còn Tiểu Xuân, cả nhà bị bắt làm nô lệ, cha tôi dò hỏi suốt bao năm, đến nay vẫn không có tin tức, coi như sống chết chưa rõ.”
Bùi Thứ Chi khẽ khép mắt, không tiếng động thở dài: “Bốn năm trước, ta đang vâng lệnh ân sư đến Giang Bắc điều tra một vụ thiếu hụt lương thảo.” Thực ra là Lưu Ngữ cố ý an bài, để bảo toàn cho đệ tử còn trẻ.
“Tôi biết, tôi không trách người.” Lư Hội dùng khăn lau mặt bừa bãi, “Tôi đã tra hồ sơ, sau khi người từ Giang Bắc trở về liền luôn phụ tá Lưu lão tướng, bố trí binh mã, chống đỡ sự xâm phạm của tên Khả Hãn kia.”
“Mấy tháng trước, Bành Thành quận vương hỏi tôi có hận bệ hạ hay không, vì cha tôi bị ác quan dùng hình mà gãy chân. Thật ra hắn hỏi sai rồi. Hắn nên hỏi rằng, vì bệ hạ lạm sát lương tướng, khiến biên phòng trống rỗng, vó sắt dị tộc giày xéo thành trì, bằng hữu nhiều năm của cha tôi, kim lan tỷ muội của mẹ tôi, còn cả bạn bè thuở ấu thơ của tôi đều chết thảm, trong lòng tôi có oán hận hay không?”
“Dĩ nhiên tôi oán hận, sao lại không hận! Tôi nghe nói phương Bắc vốn có một vị đại soái họ Trần, ép Ngột Đạc Khả Hãn cùng huynh đệ hắn không dám tiến xuống phía nam nửa bước. Ai ngờ sau đó triều đình hạ lệnh xử tử người ấy, đúng lúc hợp ý tên giặc Khả Hãn kia!”
“Chúng tôi là dân biên địa, nộp thuế, đi phu dịch, triều đình hễ có chỉ dụ thì không dám không theo. Vậy khi chúng tôi bị xâm hại, triều đình lẽ ra phải bảo vệ chúng tôi! Thời Văn Đức hoàng đế, Khả Hãn họ A Sử Na cùng các thủ lĩnh bộ tộc ngoan ngoãn như đàn cừu, bảo hát thì hát, bảo múa thì múa, ngay cả đầu cũng không dám ngẩng cao một tấc!”
“Đến khi tiên đế còn tại vị, bọn họ cũng coi như an phận. Nhưng tiên đế vừa mới băng hà, Ngột Đạc Khả Hãn cùng huynh trưởng liền tiến thẳng vào, xâm phạm vô số châu quận, cuối cùng còn tự lập vương đình, mà triều đình lại chẳng làm gì được bọn họ!”
Bùi Thứ Chi trầm mặc không nói.
Chàng sinh ra trong nhà gấm vóc châu ngọc, từ nhỏ đọc sách hiểu lễ, tai nghe mắt thấy, biết triều chính nên thanh minh, xã tắc nên an ổn, bách tính nên no đủ, biên cương nên vững vàng.
Nhưng biết là một chuyện, tự mình trải qua lại là chuyện khác. Trước kia, đó chỉ là mấy dòng chữ trên tấu báo về vó sắt xâm nhiễu; còn với dân biên thành, đó lại là sinh ly tử biệt có thể ập đến bất cứ lúc nào.
“Trần Lệnh Tắc.” Giọng chàng có phần khàn đi.
Lư Hội chưa hiểu: “Hả? Ai cơ?”
Bùi Thứ Chi nói: “Vị đại soái họ Trần ấy tên là Trần Lệnh Tắc. Vì bị liên lụy trong án nghịch của tiền triều tể thủ Vương Muội, mà bị tru di cả nhà.”
Thần sắc Lư Hội thê lương: “Ông ấy vừa chết, Ngột Đạc Khả Hãn cùng huynh trưởng mừng rỡ như điên. Từ đó năm nào cũng khởi binh xâm phạm biên giới, coi thành trì và bách tính của chúng ta như vườn rau, lò thịt nhà mình, muốn lấy thì lấy.”
Bùi Thứ Chi khẽ thở dài: “Cô giấu giỏi thật. Trong lòng mang nặng oán hận như vậy, mà chẳng để lộ chút dấu vết nào.”
Một thiếu nữ phóng khoáng rực rỡ như ánh dương, dường như trong lòng không vương nửa phần u ám, chẳng ai nhìn ra tâm sự của cô.
Lư Hội lắc đầu: “Không phải tôi giấu giỏi, mà là giờ tôi đã không còn oán hận đến thế nữa.”
“Cha mẹ tôi luôn khuyên giải tôi, Trương bá phụ cũng dặn tôi không được sinh lòng oán trách hẹp hòi. Nhà họ Trương nhiều đời ở Sa Châu, hiểu rằng trăng có tròn khuyết, nước có triều lên triều xuống, làm gì có thịnh thế vĩnh viễn. Có quân chủ dũng mãnh thiện chiến, thì cũng sẽ có quân chủ không giỏi chinh chiến. Thực ra tình thế hiện nay cũng chưa phải quá tệ, vị Nữ hoàng ở Trung Nguyên kia rốt cuộc cũng đã phái binh cứu viện, dốc sức chống đỡ và vá víu. Bốn năm trước, nếu không phải hai bên giằng co bất phân thắng bại, Ngột Đạc Khả Hãn không chiếm thêm được lợi ích gì, thì sao hắn chịu ngoan ngoãn lui binh.”
“Nếu thật gặp phải triều đình nhu nhược vô lực, khi ấy thiết kỵ của Hồ tộc chẳng phải chỉ cướp bóc một phen, mà là trực tiếp chiếm cứ thành trì, bắt dân chúng làm nô dịch sai khiến. Trước thời Văn Đức hoàng đế, Trung Nguyên từng đại loạn nhiều năm, khi ấy ngày tháng càng gian nan, Trương bá phụ vốn có hơn hai mươi vị đường thúc tổ, chỉ còn hai người sống đến lúc cưới vợ sinh con.”
“Về sau, tôi theo đoàn thương đội của thúc phụ Khang một đường hướng đông, thấy được nhiều thành trì phồn hoa. Càng gần Trung Nguyên, dân chúng càng giàu có. Khói bếp lượn lờ, tiếng hát ngư ca vang lúc chiều tà, thế là lòng oán hận của tôi dần dần phai nhạt. Tôi nghĩ, Nữ hoàng chung quy cũng là hết lòng trị quốc, chỉ là biên địa quá xa, chẳng thể chăm lo hết thảy.”
“Lại sau đó, tôi nhập cung, rốt cuộc tận mắt thấy được bệ hạ. Tôi lại nghĩ, từ xưa đến nay, bậc quân chủ lợi hại như Văn Đức hoàng đế được mấy người, mà làm được như bệ hạ ngày nay cũng đã chẳng dễ. Hoàng đế rốt cuộc cũng là phàm nhân, huống chi tuổi người lại đã cao.”
Bùi Thứ Chi nhìn thiếu nữ, ánh mắt như ngâm trong một vũng ôn tuyền: “Cô lòng dạ quá mềm.”
Lư Hội lắc đầu: “Tôi không phải mềm lòng, mà là đã nhìn thấu. Sau vụ án yến tiệc trong cung, tôi từng thầm tiếc nuối, Thái tử Hoài Mẫn văn võ song toàn, trị quốc hữu đạo, nếu chẳng phải bệ hạ từ trong ngăn trở, ngôi vị thuận lợi truyền đến tay Thái tử Hoài Mẫn, thì ắt hẳn Ô Đạc khả hãn chẳng dám tự lập vương đình, Triệu Châu cũng chẳng đến nỗi thành phá, mọi người đều còn sống yên ổn.”
“Nghĩ lại, tiền triều Dương đế khi còn là hoàng tử thái tử cũng nổi danh văn võ song toàn, vạn người ca tụng, kết quả thì sao. Trong sử sách có biết bao hôn quân, bạo quân, vua tầm thường vô vi, đếm chẳng xuể, trái lại minh quân anh chủ thì chỉ có vài vị. Biết đâu Thái tử Hoài Mẫn kế vị trị quốc, lại chẳng bằng bệ hạ.”
“Lão hòa thượng chùa Bà Lan nói, thế đạo vốn là thế đạo, thân làm tiểu dân như kiến, ngoài cầu nguyện gặp được minh quân thịnh thế, thì còn có thể làm gì?”
Nước mắt Lư Hội trào ra: “May mà A Ô Nhĩ đã đi Tây Vực, nếu không lần này Khiết Đan làm loạn, ắt hẳn sẽ liên lụy đến huynh ấy!”
Bùi Thứ Chi vốn định an ủi đôi câu, nghe vậy lại nghẹn khí, lời muốn nói đều bị chặn lại.
Thiếu nữ lại lau khô nước mắt: “Bao năm rồi chưa từng nhắc lại chuyện này, cha mẹ tưởng tôi dần dần đã quên, kỳ thực tôi nhớ rõ từng người, một khắc cũng chưa từng quên.”
Bùi Thứ Chi ôm cô vào lòng, như trong ngực có một tiểu thú ấm nóng: “Cô trọng tình lại nhớ cũ, ấy chẳng phải lỗi. Nhưng lời cha mẹ cũng đúng, chuyện thương tâm không thể mãi ôm giữ, uất kết trong lòng dễ tổn thân. Về sau cô không cần giả vờ gì nữa, muốn nói thì nói, muốn khóc thì khóc, hỉ nộ ai lạc vốn là thường tình của con người, chớ để nén trong tâm.”
“Tôi còn tưởng người sẽ trách tôi bất kính với bệ hạ.”
Bùi Thứ Chi khẽ cười: “Nhà nào thần tử chẳng lén nghị luận hoàng đế sau lưng, Ngụy Quốc phu nhân tai mắt khắp Đông Đô, cô tưởng bệ hạ cái gì cũng không biết sao? Muốn tính toán thì sẽ tính, không muốn thì coi như chẳng hay.”
Lư Hội kinh hãi: “A, người nói phủ đệ rất ổn thỏa, tôi mới yên tâm nói chuyện. Chẳng lẽ những lời vừa rồi đều sẽ truyền đến tai bệ hạ?”
Bùi Thứ Chi cưng chiều xoa mái tóc cô: “Vừa rồi cô buông lời to gan như thế, giờ mới biết sợ ư?”
Lư Hội giận dữ giãy khỏi: “Tôi đã thương tâm đến vậy mà người còn chê cười, cứ để bệ hạ bắt tôi đi hỏi tội cho rồi!”
Bùi Thứ Chi liền kéo thiếu nữ ra ngoài: “Được, ta sẽ đưa cô đến quan phủ xử trí.”
Lư Hội kinh nghi bất định: “A? Người là thật sự sao? Cái này… tôi còn chưa dùng xong bữa tối!”
Bùi Thứ Chi liếc nhìn bàn đầy món ngon đã nguội: “Cô đã thương tâm đến vậy, ắt một miếng cũng chẳng nuốt nổi, phải không.”
Lư Hội nghẹn lời: “…”
Bùi Thứ Chi cười vang như núi sông chấn động: “Ta đưa cô đến một nơi hay để giải sầu, đi thôi!”
Đàm Tử Liệt dẫn mấy thị vệ đuổi hết bọn tỳ phụ cùng trù công ra đình mát, đón gió xuân đêm mát lạnh, mọi người nhìn nhau ngơ ngác, chẳng hiểu ra sao, quý công tử như Bùi Thiếu tướng chẳng lẽ lại nửa đêm đến tra xét thiếu hụt lương thực?
Chừng nửa dặm phía ngoài, năm gian bếp lớn liền nhau đèn lửa sáng trưng, rộng rãi sạch sẽ.
Lư Hội ngồi thụp trước lò, ngơ ngẩn thêm củi vào trong.
“…” Cô ngẩng đầu: “Người nói đưa tôi ra ngoài giải sầu, hóa ra là bắt tôi làm nha hoàn nhóm lửa?”
Bùi Thứ Chi mí mắt chẳng buồn nhấc: “Bớt lời đi. Quân tử xa nhà bếp, ta ngay cả quân tử cũng chẳng làm nữa, cô thì thôi oán trách. Thêm củi, lửa chưa đủ mạnh.”
Chàng trai cao gầy đứng trước bàn bếp, tay áo rộng buộc cao, lộ ra đôi cánh tay rắn chắc hữu lực, bàn tay gân cốt rõ ràng đang nhào nặn một khối bột. Dưới làn da trắng mịn, cơ bắp khẽ nổi lên, khiến Lư Hội mơ hồ cảm thấy một vẻ đẹp khó nói thành lời.
Ở nhà cô cũng từng thấy người nhào bột, các bà nấu bếp thường nghiêng người, mượn sức thân để ép bột. Bùi Thứ Chi nhìn thanh nhã cao gầy, thực ra sức lực rất lớn, có thể tay không bẻ gỗ, khối bột vốn đầy cục vón cứng rắn trong tay chàng lại trở nên ngoan ngoãn, nắn dẹt vo tròn chẳng chút khó khăn.
Nhân lúc bột nghỉ, Bùi Thứ Chi đem thịt hầm đã chuẩn bị sẵn cắt lát xếp vào một chiếc bát sứ lớn hoa sen, tuy lát thịt có hơi vụng về, nhưng thế cầm dao lại tao nhã. Tiếp đó là đun nước chần rau, vớt ra cho vào bát, rưới nước canh đã ninh ngọt, cuối cùng mới là xé bột thành từng miếng thả vào nồi.
Bùi Thứ Chi xách cổ áo sau của Lư Hội đặt cô ngồi xuống bàn, rồi tự mình ngồi đối diện. Trước mặt hai người mỗi bên đều có một bát gà hầm bác thác nóng hổi, rau xanh non mướt, thịt hầm đỏ hồng, những miếng bột nhỏ hình tai mèo trắng bóng trơn mượt, khiến người ta nhìn thôi đã thèm thuồng.
Vốn dĩ Lư Hội trong lòng lo lắng, cậu giả đường đường quyền cao chức trọng lại vì cô mà khổ công xuống bếp, nếu kết quả khó nuốt, cô có phải giả vờ ngon miệng để khỏi tổn thương tự tôn của người chăng. Nào ngờ vừa nếm thử, quả thật nước súp tươi ngọt, hương thơm lan tỏa.
Lư Hội kinh ngạc vô cùng, cố nuốt mấy miếng bác thác, vội nói: “Người ngay cả y phục cũng chẳng biết gấp, mà tay nghề nấu nướng lại tinh diệu đến thế!” Dẫu nước súp vốn là của nhà bếp sẵn có, nhưng bột dẻo dai, thịt rau vừa đúng lửa, vị mặn nhạt vừa vặn, đều là bản lĩnh thật sự.
Bùi Thứ Chi dùng khăn lụa chậm rãi lau ngón tay: “Ta chỉ biết làm duy nhất món này, tính cả đêm nay, tổng cộng ba lần.”
Má Lư Hội phồng căng, đôi mắt sáng long lanh đầy nghi hoặc.
Bùi Thứ Chi mỉm cười: “Năm ta mười ba tuổi, khi ấy… cậu …” Chàng bỗng ngừng lại.
Lư Hội vội hỏi: “Cái gì?”
Bùi Thứ Chi nắm chặt khăn lụa, cười nói: “Chính là năm Phụng Lâm thứ năm, phụ thân bảo trước khi ta vào trường thi, phải đưa ta đi xem sông núi hồ biển, mở mang kiến thức.”
Năm ấy, thiếu niên mười ba tuổi đã chuẩn bị mọi thứ, quyết tâm bước vào quan trường sóng ngầm cuồn cuộn, khởi đầu đại kế báo thù.
Bùi Hoàn hay tin, vội vàng chạy đến.
“Con nghĩ kỹ lại, một khi bước vào quan trường, nhiều việc chẳng còn do con định đoạt.”
“Khởi binh tất khiến sinh linh đồ thán, chi bằng dựa vào quyền thuật mưu đồ đại sự, tổn hại đến xã tắc dân chúng sẽ ít hơn.”
“Bớt lời đi, thật ra ta chỉ muốn khuyên con đừng báo thù nữa!”
“Ngày trước chẳng phải cậu khích lệ con không cần sợ hãi, không được suy sụp sao?”
“Ấy là để an ủi con, sợ con tuổi nhỏ mà uể oải. Nữ hoàng giết chóc thành núi máu biển, kẻ thù nhiều vô kể, cũng chẳng thấy ai ai đều báo thù. Nhược Trạm, nghe cậu một lời khuyên, lùi một bước biển rộng trời cao. Bà ta tuổi đã lớn, con không báo thù thì cũng chẳng sống thêm mấy năm, đừng để tuổi xuân hao phí trong hận thù.”
“Chính bởi bà ta tuổi đã cao, con càng không thể trì hoãn. Có con ở đây, yêu phụ ấy đừng mong được chết yên lành. Bà ta sẽ phải tận mắt chứng kiến mọi thứ mình quý trọng lần lượt mất đi, trong hoảng sợ và kinh hãi mà đau đớn trút hơi thở, chết cũng chẳng nhắm mắt.”
Cậu cháu giằng co chẳng dứt, Bùi Hoàn bèn đề nghị đưa chàng đi dạo, cả ngày vùi đầu đọc sách dễ khiến người cố chấp hẹp hòi, nhìn trời cao mây trôi, sông núi hồ biển biết đâu sẽ giải được tâm kết.
Vốn lộ trình Bùi Hoàn sắp đặt là một đường phong cảnh tươi đẹp, chim hót hoa thơm, rất hợp để khai giải thiếu niên tuấn tú mặt mày u ám. Nào ngờ trời chẳng thuận, trước mưa lớn trút xuống, sau lại gặp núi lở dữ dội, kế tiếp là lũ núi bùng phát, cậu cháu cùng đám hộ vệ gia nhân thất tán, chẳng hiểu sao lại lạc vào một thôn xóm hẻo lánh.
Bùi Hoàn bất chợt phát sốt cao, nắm tay Bùi Thứ Chi vừa sụt sịt vừa rơi lệ, nói về sau chẳng thể chăm sóc chàng nữa, áy náy với em gái yểu mệnh cùng em rể cô độc, cuối cùng mê sảng nói nếu được ăn một bát bác thác gà quê hương thì chết cũng nhắm mắt.
Bùi Thứ Chi chưa từng xuống bếp, nhưng từng thấy ở quán xá ven đường cách nhào bột và nấu nướng.
Thế là chàng bỏ tiền lớn mua đủ nguyên liệu từ dân làng, lại thuê một đứa trẻ nhóm lửa cùng một bà lão phụ bếp, dựa vào ký ức vị giác, không thầy mà tự nấu thành công, tiện tay còn vặn gãy cổ ba tên lưu manh định giết người cướp của, giẫm nát xương chân lão trưởng thôn rình trong bóng tối, vừa trấn áp dân làng bất thiện, vừa chiêu dụ hai thợ săn tạm làm hộ vệ.
Đúng vậy, chàng mười ba tuổi đã giết người.
Ra tay trước không hề hồi hộp, giết xong cũng chẳng bận lòng, bình thản như phủi bụi trên trang sách. Theo ý chàng, vặn gãy cổ ác tặc còn dễ hơn nhào bột.
Sau đó Bùi Hoàn hạ sốt, nâng bát bác thác gà cực kỳ mỹ vị, ăn mà lòng dâng trào, cảm khái vạn phần.
Ăn xong, Bùi Hoàn bỗng đồng ý với quyết định của Bùi Thứ Chi.
“Con đã lớn, gặp việc không hoảng, trong lòng có tính toán.” Bùi Hoàn thần sắc phức tạp, “Thế sự biến hóa khôn lường, cậu cũng chẳng biết sắp đặt thế nào mới tốt cho con. Đã vậy, chi bằng thuận theo tâm nguyện của con vậy.”
Ánh mắt Bùi Thứ Chi dừng lại trên người thiếu nữ, trong lòng không khỏi nảy sinh một ý nghĩ miên man, nếu không phải vì báo thù, liệu chàng có gặp được Hội Hội hay không?
Lư Hội phồng má lên, ngẩng đầu hỏi: “Thì ra là vậy. Cha của người lo quan trường hiểm ác, không muốn người sớm nhập cuộc thi cử, nhưng cuối cùng vẫn thuận theo ý người. Người nói tổng cộng đã nấu bác thác ba lần, còn một lần nữa là vì sao?”
Bùi Thứ Chi cúi đầu thu mắt, giọng nhẹ đi: “Lần thứ hai là nấu cho dượng của ta.”
Lư Hội hơi ngẩn ra: “Dượng của người?”
“Chính là Sở vương, người trấn thủ Lương Châu.”
— Khó khăn lắm mới học được một món ăn, chàng lại quay đầu lén chạy tới Lương Châu, tự tay xuống bếp một lần cho phụ thân. Sở vương đã già nước mắt ròng ròng, suýt nữa nuốt luôn cả thìa canh.
Lư Hội “ồ” một tiếng, lại cảm thấy dường như có chỗ nào đó không ổn.
“Ăn no rồi sao?” Bùi Thứ Chi nhìn chiếc bát sứ lớn trước mặt Lư Hội đã thấy đáy.
Lư Hội đặt đũa xuống, gật đầu.
Trước đó bị chàng kéo chạy nửa khu vườn trong gió xuân ban đêm, lại nhóm bếp đốt lửa suốt nửa canh giờ. Khi cơn đói vừa dâng lên thì được ăn một bữa ngon lành, dù trong lòng còn bao nhiêu u uất sầu muộn, lúc này cũng đã nhẹ nhõm vui vẻ.
Cô biết Bùi Thứ Chi tuy miệng không nói lấy một lời an ủi, nhưng từng việc từng chuyện đều là để xoa dịu nỗi đau mất bạn của cô.
Miệng lưỡi cô vụng về, trong lòng cuộn trào hồi lâu, cuối cùng chỉ nói được một câu: “Cảm ơn người, giờ tôi không còn thấy khó chịu nữa.”
Ánh mắt Bùi Thứ Chi dịu dàng: “Trong nha trướng của Ngột Đạc Khả Hãn, ta có quen biết một hai người. Ta sẽ viết thư nhờ họ dò hỏi giúp. Nếu Tiểu Xuân và gia quyến nàng ấy may mắn vẫn còn trên đời, ắt sẽ tìm ra tung tích.”
Lư Hội không ngờ chàng lại thần thông đến vậy, ngay cả Bắc phương vương đình cũng có người cài cắm. Trong lòng cô vui mừng khôn xiết, liền mím môi, lắc lư thân mình ngồi sát lại bên Bùi Thứ Chi, ôm lấy cánh tay chàng rồi nghiêng đầu tựa vào.
Bùi Thứ Chi vòng tay ôm cô, hôn nhẹ lên đỉnh đầu: “Ở trước mặt ta, cô không cần giả vờ rộng lượng. Trong lòng có chuyện gì, cứ nói với ta.”
Chàng nghĩ đến mẫu thân đoản mệnh cùng Kính Đình chết thảm, khẽ nói: “Trên đời này, vốn có rất nhiều chuyện không phải sức người có thể xoay chuyển. Đời người ở giữa đất trời, thoáng như khách đi xa. Con người đến thế gian này một chuyến, tựa như khách qua đường đến rồi đi; còn cái gọi là qua đời, chẳng qua chỉ là một chuyến viễn du. Cô biết họ đang ở nơi rất xa, chỉ là không thể gặp lại mà thôi.”
Lư Hội lặng lẽ nghe, đôi mắt trong veo không gợn, hàng mi còn vương hơi ấm của nước mắt.
Sau đó cô ngẩng đầu, hôn nhẹ lên cằm chàng: “Người đối với tôi, sẽ không phải là khách đến rồi đi.”
Cô nghĩ, mai này dù hai người có chia xa, cô cũng sẽ nhớ chàng mãi mãi. Ngoài cha mẹ và Y Lam, người nam nhân không ruột rà máu mủ này, chính là người đối tốt với cô nhất trên đời.
Cô lại hôn khẽ bên môi chàng: “Trong lòng tôi, người sẽ vĩnh viễn không đi đến nơi xa xôi nào cả.”
Ánh mắt Bùi Thứ Chi sáng rực, long lanh như sao, tựa ngôi sao sáng nhất vươn lên giữa bầu trời đêm đen đặc. Chàng ôm chặt thiếu nữ vào lòng, siết chặt không buông: “Đúng vậy, ta và cô sẽ không là khách qua đường của nhau.”
Hai người sẽ dài lâu bền chặt, hai lòng không đổi, cùng nhau nhìn mây trắng chó xanh (*) biến hóa, nương tựa đến bạc đầu.
Chú thích:
Mây trắng chó xanh là một thành ngữ tiếng Hán chỉ sự đời thay đổi thất thường, biến hóa khôn lường, giống như mây trắng trên trời bỗng chốc hóa thành hình con chó xám xịt. Thành ngữ này xuất phát từ bài thơ của Đỗ Phủ và mang ý nghĩa sâu sắc về tính vô thường của cuộc sống.
