Chương 30: Ngọn nguồn loạn Lữ Xuyên (8)
*
Trên ngự án, trong bình pha lê cắm đầy những đóa cúc tím tươi mới, hoa vừa hái còn vương những giọt sương long lanh, theo làn gió mát thổi vào điện khẽ khàng lay động, hương thơm thanh khiết lan tỏa khắp Phượng Nghi Điện.
Lệ Kính Mỹ đứng sóng vai cùng Thục Vân Quận chúa , ánh mắt mày mi đều ngập tràn ý cười, tình ý dịu dàng, quả thực là một đôi bích nhân.
Có lẽ vì lo sợ Chử Thừa Cẩn thật sự lập được quân công nơi tiền tuyến, khi khải hoàn sẽ quay về thay con gái đòi vị trí chính phi của Lệ Kính Mỹ, nên Lăng Dương Vương phủ và Vận Vương phủ đã rất ăn ý cùng nhau tích cực thúc đẩy hôn sự. Dẫu chưa thể lập tức thành thân, ít nhất cũng phải định xong ngày cưới.
Lư Hội cho rằng Nữ hoàng chưa chắc không nhìn ra những tâm tư tính toán ấy. Sở dĩ bà tỏ ra chẳng mảy may bận tâm, là vì quá tự phụ, tin rằng không có người hay việc gì có thể cản trở điều bà muốn làm. Chỉ là một mối hôn ước mà thôi, cho dù đã thành thân rồi, muốn cắt cũng vẫn có thể cắt. Huống chi Thục Vân Quận chúa cũng mang họ Chử, e rằng chí ít còn giữ được một mạng.
Nữ hoàng nghiêng người tựa long ỷ, đầu ngón tay khẽ gõ lên án kỷ, hờ hững nói:
“Các ngươi đã nghĩ cho kỹ chưa?”
Đỗ Vương phi liếc mắt ra hiệu, Lăng Dương Vương và Vận Vương lập tức lần lượt quỳ xuống, đồng thanh nói: “Xin mẫu hoàng (cô mẫu) tác thành.”
Nữ hoàng nhấc mí mắt lên một chút: “Được thôi, trẫm chuẩn.”
Các hoàng thân dưới bậc đồng loạt quỳ rạp tạ ơn, nhất là Lệ Kính Mỹ và Thục Vân Quận chúa , khi nhìn nhau nụ cười lưu chuyển, vui mừng đến mức dường như hoa nở trong tim. Đỗ Vương phi đứng bên cạnh thấy con trai mừng rỡ, tựa như bao khổ cực mười mấy năm qua trong khoảnh khắc đều tan biến.
Dẫu suốt đời này Nữ hoàng nghe lời tạ ơn còn nhiều hơn cả số chân cừu Lư Hội từng ăn, nhưng ai lại không thích sự cảm tạ chân thành chứ? Bà khẽ nhếch môi: “Hội nương soạn chỉ, giao cho Lễ bộ và Thái Thường tự lo liệu thỏa đáng hôn sự này.”
Lư Hội lĩnh mệnh.
Chúng hoàng thân lại tạ ơn, rồi chậm rãi lui ra.
Nữ hoàng nhàn nhạt nói: “Nhanh hơn trẫm dự tính.”
Lư Hội quan sát sắc mặt bà, dè dặt đáp: “…Hôm trước đi săn, hai vị tiểu quận chúa của Lương Vương phủ đã trộn máu hươu đực săn được vào rượu. Lăng Dương thế tử uống xong mới biết sự thật, nôn ọe hồi lâu. Vương phi thì… ừm, rất đau lòng.”
Nữ hoàng bật cười: “Kính Mỹ đúng là bị dọa sợ rồi. So ra thì Thục Vân chẳng khác nào tiên nữ. Kính Mỹ quá mức yếu mềm, chỉ là rượu máu hươu mà thôi, hừ, năm mười bốn tuổi trẫm đã dám tự tay giết ngựa tốt rồi!”
Bà lại hỏi: “Lương Vương vẫn chưa có tin tức sao?”
Lư Hội hết sức cẩn thận: “Bẩm bệ hạ, vẫn như lần trước, án binh bất động.”
Nữ hoàng mắng: “Đường Nghĩa Phương bận đến sứt đầu mẻ trán, hận không thể điều cả thân vệ của mình lên thành. Còn bọn họ thì hay rồi, đứng im bất động, khoanh tay đứng nhìn, uổng cho lúc xuất chinh làm ầm ĩ đến thế, vỗ ngực đánh trống, khoác lác một hồi dài!”
— “Bọn họ” này hiển nhiên chỉ lực lượng Chử thị, đứng đầu là Lương Vương Chử Thừa Cẩn và Dĩnh Xuyên quận vương Chử Duy Cẩn.
Lư Hội nào dám phụ họa, chỉ đành nói: “Bệ hạ có muốn dặn dò Đường tướng công vài câu không?”
Nữ hoàng lắc đầu: “Dùng người thì không nghi. Trẫm đã giao việc bình loạn cho Đường Nghĩa Phương, thì chiến sự nơi tiền tuyến cứ để hắn toàn quyền quyết định, trẫm không xen vào.”
Không biết nghĩ đến chuyện gì, Nữ hoàng bỗng thở dài: “Hội nương, lời ngươi nói rất đúng, vợ chồng vẫn nên hòa thuận là hơn. Nếu hai bên đã chán ghét nhau, trẫm còn tại thế thì còn đỡ, đợi trẫm đi rồi, chẳng biết sẽ giày vò đến mức nào.”
Ban đầu Lư Hội chưa hiểu hết ý, suy ngẫm kỹ hai lượt rồi.
Nữ hoàng không mong sau khi mình qua đời, Chử thị bị thanh toán. Đã không thể trông cậy vào Chử Thừa Cẩn xoay chuyển cục diện, thì tương lai của Chử thị rốt cuộc vẫn phải nhìn sắc mặt nhà tân đế. Nếu hôn sự của Lệ Kính Mỹ không thuận, đến khi Nữ hoàng băng hà, Đỗ Vương phi dù có liều mạng cũng sẽ trừ khử người vợ dữ, tuyệt đối không để con trai mình chịu uất ức. May mà Thục Vân Quận chúa dịu dàng xinh đẹp, vừa biết làm thơ lại khéo dỗ dành người khác, phần lớn có thể đứng vững bên cạnh Lệ Kính Mỹ. Nếu vận khí đủ tốt, đến đời hoàng đế thứ… thứ… thứ ba nữa, ngoại thích của hoàng đế vẫn có thể là Chử thị.
Hai người đang nói chuyện, chợt nghe tiếng bước chân dồn dập. Đoan Mộc Tuệ mặt mày hớn hở, sải bước nhanh vào điện, hai tay chắp kiểu quân lễ giơ ngang trán: “Chúc mừng bệ hạ, nghịch tặc đứng đầu Lệ Quốc Trung đã đột tử!”
Vẻ mệt mỏi trên mặt Nữ hoàng lập tức tan biến, bà mừng rỡ đứng bật dậy: “Thật sao? Mau truyền các tể tướng Chính Sự Đường vào!”
–
Lư Hội nhẹ nhàng nhảy qua bậc đá, vừa đi vừa nhún nhảy trên những bậc thềm đá cẩm thạch trắng khắc phù điêu mẫu đơn khổng lồ.
Ngột Đạc Hãn đã quét sạch sào huyệt của hai tên họ Lệ và họ Vạn, quân phản loạn từ đó bị cắt đứt hậu viện. Lệ Quốc Trung nghe tin, vết thương cũ tái phát mà chết. Giờ đây chỉ còn lại Vạn Đại Vinh dẫn theo mấy vạn binh mã cố thủ trong vài tòa tiểu thành, gắng gượng chống đỡ.
Dẫu không rành quân sự, cô cũng biết đại cục bình loạn đã định, tiếp theo chỉ là thu dọn tàn cuộc. Như vậy, Bùi Thứ Chi hẳn cũng sắp trở về rồi?
Vịn cột đá cẩm thạch rẽ qua một khúc quanh, Lư Hội bất ngờ đụng phải Đoan Mộc Tuệ đang đứng cùng Công chúa Vĩnh Ninh thì thầm nói chuyện. Cô lập tức quay đầu định chuồn, Công chúa Vĩnh Ninh mắt nhanh miệng lẹ: “Đứng lại cho ta!”
Lư Hội cười khổ quay người: “Vi thần bái kiến công chúa, chúc công chúa thiên tuế kim an.”
Hôm nay Công chúa Vĩnh Ninh vận một thân hồ phục gọn gàng rực rỡ, trong tay quấn mấy vòng roi dài, hờ hững vung nhẹ. Công chúa lớn tiếng mắng: “Ngươi là làm trộm hay sao mà chạy!”
Lư Hội mặt mày như mướp đắng: “Chuyện là… lần trước vi thần đã làm hỏng nhã hứng của công chúa. Tự biết mình có tội, nên không dám ra mắt công chúa.”
Công chúa Vĩnh Ninh cười lạnh liên hồi: “Miệng thì nói hay, trong lòng e rằng đang mắng ta phong lưu phóng đãng!”
Lư Hội vội xua tay, ra sức biện bạch: “Không có không có, chuyện này thì có gì đâu. Ở Sa Châu chúng thần còn thường gặp. Công chúa không tin cứ đi hỏi thử xem. Sa Châu có một vị Công Tôn đại nương mở Kim Lâu, mười lăm tuổi gả chồng, bốn mươi tuổi thủ tiết goá bụa, sau đó thì vẫn luôn… khụ khụ…”
Cô ho khan mấy tiếng: “Công Tôn đại nương tính tình hào sảng, hay làm việc thiện. Năm kia qua đời, lúc an táng có hơn nửa số hộ trong vùng tới tiễn đưa!”
“Vị Công Tôn thị ấy không có con sao?” Đoan Mộc Tuệ xen vào hỏi.
Lư Hội đáp: “Có chứ, có một người con trai, tiếp tục kinh doanh Kim Lâu.”
Công chúa Vĩnh Ninh nửa tin nửa ngờ: “Con trai bà ấy không để tâm ư?”
Lư Hội tỏ vẻ khó hiểu: “Sao lại phải để tâm, cảm kích còn không kịp ấy chứ. Năm xưa có một đại thương nhân Tây Vực nắm trong tay hai mỏ vàng, toàn nhờ Công Tôn đại nương thu nhận làm khách trong màn trướng, việc buôn bán của Kim Lâu mới hưng thịnh đến vậy. Trong tang lễ của Công Tôn đại nương, con trai bà ấy khóc đến là thảm!”
Cô càng nghĩ càng xúc động: “Ngay cả huyện lệnh của chúng thần cũng khen họ mẹ hiền con thảo, đáng làm gương nữa kia!”
Công chúa Vĩnh Ninh: “Sa Châu đúng là…”
Đoan Mộc Tuệ tiếp lời: “…dân phong thuần phác.”
Lư Hội vội nói: “Bởi vậy xin công chúa yên tâm, vi thần tuyệt không có nửa phần dị nghị. Chỉ là vi thần đã có người trong lòng rồi, nên không thể cùng công chúa… ừm, cái gọi là chúng vui cùng vui.”
Công chúa Vĩnh Ninh từ trên xuống dưới đánh giá cô: “Tuệ nhi nói ngươi ở trong cung bận như con quay, lấy đâu ra thời gian tìm người trong lòng. Người đó là ai, chẳng lẽ là Vương Khám?”
Những gì công chúa biết không nhiều, lấy Đoan Mộc Tuệ làm ví dụ, ngày thường có thể tiếp xúc với nam tử, ngoài đám lão già tâm cơ thâm trầm ở Chính Sự Đường, cũng chỉ còn các biên tu ở Đông Quán Thư Các. Trong số đó, Vương Khám là trẻ trung tuấn tú nhất.
Lư Hội nghĩ nghĩ: “Cũng gần như vậy thôi, cũng là người đọc sách (đều đã đỗ khoa cử cả), chỉ là không dụng tâm làm học vấn như Vương đại nhân (chăm chỉ bày mưu tính kế quyền thuật).”
Trong lòng Đoan Mộc Tuệ khẽ động, đoán rằng người trong lòng của Lư Hội hẳn là một học tử trẻ tuổi nào đó trong Đông Quán Thư Các.
Ai cũng biết Bùi Thứ Chi mắt cao hơn đầu, đã nói sẽ tìm cho Lư Hội một mối hôn sự thật tốt, thì người được chọn ắt gia thế và tài học đều phải xuất sắc. Có lẽ vị học tử trẻ kia không hợp tiêu chuẩn chọn rể của Bùi Thiếu tướng, nên Lư Hội mới không dám nói thẳng.
Công chúa Vĩnh Ninh còn muốn hỏi tiếp, Đoan Mộc Tuệ đã mỉm cười cắt ngang:
“Công chúa đừng hỏi nữa, tâm sự của tiểu nương tử sao có thể nói tùy tiện? Công chúa lúc trẻ chẳng phải cũng từng… Ấy, kia chẳng phải là Lăng Dương vương phi sao?”
Mọi người quay đầu nhìn theo, chỉ thấy Đỗ Vương phi được mấy cung nữ vây quanh, khoan thai bước đi. Từ xa trông thấy ba người bên này, bà không lại gần, chỉ đứng xa xa khom mình hành lễ.
Công chúa Vĩnh Ninh mỉm cười gật đầu, Đoan Mộc Tuệ và Lư Hội cũng vội vàng đáp lễ.
Đưa mắt tiễn đoàn người của Đỗ Vương phi đi xa, Công chúa Vĩnh Ninh chép miệng mấy tiếng: “Đúng là người gặp việc vui, xem kìa, mặt mày hồng hào chưa.”
Công chúa quay sang Lư Hội nói: “Thôi được rồi, chuyện trước kia xóa bỏ hết, bản công chúa không chấp nữa. Nghe nói tên tặc Lệ Quốc Trung đã chết, ta đặc biệt đến chúc mừng mẫu hoàng. Mẫu hoàng đâu rồi?”
Lư Hội đáp: “Lưu lão tướng công đã tới, đang trò chuyện với bệ hạ, công chúa chờ một lát hãy vào.”
Đoan Mộc Tuệ vừa nghe là Lưu Ngữ, liền nói: “Vậy thì phải nói chuyện lâu đấy, công chúa không bằng ra hồ Hạnh dạo một vòng?”
Công chúa Vĩnh Ninh cau mày: “Lâu lắm sao? Ta còn định mời mẫu hoàng ra vườn ngự uyển du ngoạn.”
Lư Hội cố gắng nhớ lại: “Lưu lão tướng công nói rằng quét sạch tàn dư phản quân không nên quá chậm, chiến sự kéo dài không dứt thì không chỉ làm hại bách tính, mà còn sợ chư Hồ phương Bắc thừa cơ mà động, nhân lúc cháy nhà đi hôi của; nhưng cũng không nên quá gấp, Vạn Đại Vinh tuy đã bị cắt đứt hậu viện, song đã thu được lượng lớn hoành đao, nỏ máy cùng các loại tinh binh khí bị bắt giữ; phản quân lại phần nhiều là kỵ tốt phiên tộc, đến đi như gió, nếu thúc ép quá mức, trái lại dễ hao tổn binh lực…”
“Rốt cuộc là nhanh thì tốt hay chậm thì tốt, ờm… lúc vi thần ra khỏi điện, lão tướng công vẫn còn chưa nói xong.”
Công chúa Vĩnh Ninh nhìn Lư Hội bằng ánh mắt kỳ lạ: “…Những chuyện này nói với ta, có thích hợp không?”
Lư Hội khó hiểu: “Vì sao lại không thích hợp?”
Công chúa đáp: “Đây là đại sự quân quốc.”
Lư Hội lấy làm lạ: “Thì đã sao ạ?”
Đến cả Lăng Dương Vương, kẻ chuyện gì cũng phải nhìn sắc mặt vợ mà làm, còn có thể tham dự quân quốc đại sự, cớ gì công chúa lại không thể.
Công chúa Vĩnh Ninh cười khổ một tiếng, trong nụ cười đầy vẻ tự giễu và hiu quạnh.
Đoan Mộc Tuệ khẽ thở dài.
Công chúa Vĩnh Ninh lập tức cười lớn: “Mẫu hoàng che chở cho ta, tránh xa triều chính, an hưởng phú quý, ấy mới là đại cát đại lợi!”
Công chúa cười nói: “Đợi khi nào A Lư rảnh rỗi lại đến phủ ta chơi, yên tâm, lần sau không có người ngoài đâu!”
–
Nụ cười hiu quạnh của Công chúa Vĩnh Ninh lưu lại trong lòng Lư Hội rất lâu. Đêm khuya yên tĩnh, cô không nhịn được mà hỏi: “Triều cụcmạch nước ngầm mãnh liệt, sau khi bệ hạ băng hà e còn không biết sẽ ra sao. Để công chúa hoàn toàn rời xa trung tâm quyền lực, chẳng phải giống như ở trong hiểm địa mà lại không được phát cho binh khí phòng thân ư, như vậy thật sự tốt sao?”
Trong đêm u tịch, giọng Đoan Mộc Tuệ càng thêm trống vắng: “Quyền lực là thứ hung sát nhất thiên hạ, trước mặt nó, vợ chồng anh em cha con đều có thể trở mặt chém giết bất cứ lúc nào. Bệ hạ vô cùng yêu thương Công chúa Vĩnh Ninh, chính vì vậy mới không muốn mẫu nữ sinh hiềm khích.”
Lư Hội hỏi: “Đoan Mộc đại nhân đọc nhiều sách như vậy, từ xưa đến nay chẳng lẽ không có điển cố hoàng đế và người kế vị tình thâm cốt nhục sao?”
“Có chứ, Hán Cảnh Đế rất mực yêu thương Hán Vũ Đế, không chỉ phế trưởng lập ấu, còn cầm tay chỉ việc dạy trị quốc an bang, thậm chí hận không thể sớm quét sạch mọi chướng ngại, chỉ sợ sau này có người ức hiếp ái tử. May thay Vũ Đế không phụ kỳ vọng, cuối cùng trở thành một đời hùng chủ.”
“Chỉ có đúng một ví dụ này thôi sao?”
“Có được một cái đã là không tệ rồi.”
–
Vì đêm trước ngủ không ngon, sáng sớm Lư Hội thức dậy ngáp ngắn ngáp dài. Đang vươn vai thì một tiểu cung nữ bưng tới một phong thư, nói là quản sự Bùi phủ đưa vào cung. Lư Hội nhận lấy xem qua, thấy ở góc giấy có vẽ ám ký đã hẹn với Bùi Thứ Chi, liền yên tâm đọc.
Đọc xong, tay chân cô tê dại, tim mắt treo ngược. Lư Trí Nam bệnh rồi, nói là lúc giao mùa vô tình nhiễm phong hàn.
Thoáng chốc, cơn buồn ngủ vốn chỉ ba phần lập tức biến thành tám phần thất thần. Chỉ trong buổi sáng ngắn ngủi, Lư Hội đã viết sai hai quyển hồ sơ, làm rơi một cái chặn giấy, đến lúc trả lời Nữ hoàng hỏi chuyện cũng vô cùng miễn cưỡng. Đoan Mộc Tuệ thay cô nhận lỗi, nói là đêm qua tham đọc thoại bản nên ngủ không đủ, Nữ hoàng mấy hôm nay tâm tình rất tốt, bèn cho Lư Hội về nghỉ ngơi.
Lư Hội tâm loạn như tơ vò, bước thấp bước cao trên bậc đá xanh, đến chỗ rẽ cũng không biết quay, suýt nữa đâm sầm vào lan can đá cẩm thạch.
“Lư tư trực đây là làm sao vậy?”
Một giọng khàn quen thuộc vang lên bên cạnh. Lư Hội ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy Ngụy Quốc phu nhân khoác một thân áo bào lụa mỏng màu sẫm đứng ngay trước mắt, thần sắc bình thản nhưng ánh mắt lại vô cùng quan tâm.
“Tôi, tôi… vi thần không sao.” Lư Hội hồn vía trên mây, chỉ muốn mau mau rời đi.
Ngụy Quốc phu nhân ôn hòa nói: “Không vội, Lư tư trực mời ngồi.” Bà chỉ vào tảng đá bên cạnh, “Nếu có điều gì khó xử, Lư tư trực không ngại nói cho lão thân nghe. Hay là bệ hạ trách mắng cô rồi?”
Lư Hội bất giác ngồi xuống, nghe vậy lắc đầu.
“Là làm sai việc, không biết thu xếp thế nào?”
Lư Hội lại lắc đầu mạnh.
Giọng Ngụy Quốc phu nhân càng thêm hiền hòa: “Đừng sợ, đừng sợ, trong Đông Đô không có chuyện gì qua mắt được lão thân. Lư tư trực cứ nói thẳng đi… hay là trong nhà xảy ra chuyện?”
Mắt Lư Hội nóng lên, cô nói năng lộn xộn: “Cha tôi bệnh rồi, thư nói là phong hàn. Tôi sai người đi hỏi, quản sự nói đã cho y quan Bùi phủ đến xem, đúng là bệnh nhẹ, không đáng ngại. Nhưng tôi, tôi vẫn lo… tôi nhớ a gia… cũng nhớ mẹ… tôi muốn về nhà!”
Thiếu nữ nước mắt rơi lã chã: “Bệ hạ khoan dung, nếu tôi xin nghỉ, bệ hạ nhất định sẽ chuẩn. Nhưng tôi không phải chỉ muốn nghỉ mấy ngày, tôi muốn ở bên cha cho đến khi thân thể ông khá hẳn, mà tôi cũng không biết sẽ mất bao lâu… Nay chiến sự chưa yên, Đoan Mộc đại nhân còn phải viết thư, tôi thật không biết nên mở lời thế nào…”
Không hiểu vì sao, đối diện vị âm ti thống lĩnh khiến người người nghe tên đã sợ này, Lư Hội lại thấy an tâm một cách kỳ lạ, thậm chí trút hết tâm sự trong lòng chỉ trong một hơi.
Cô nức nở khóc hồi lâu, Ngụy Quốc phu nhân chỉ lặng lẽ ngồi bên cạnh. Đợi cô khóc xong, bà đưa tới một chiếc khăn tay nhã nhặn, giọng điềm đạm: “Lư tư trực không cần lo lắng, xe đến trước núi ắt sẽ có đường.”
Ngụy Quốc phu nhân rời đi đã lâu, Lư Hội vẫn ngẩn ngơ ngồi tại chỗ. Chiếc khăn trong tay còn vương mùi hương Phật nhàn nhạt, cô dường như thấy được cảnh vị lão phụ lạnh lẽo ấy một mình đốt hương lễ Phật.
— Xe đến trước núi ắt sẽ có đường, rốt cuộc là ý gì?
Lư Hội nghĩ lung tung, chẳng lẽ là muốn cô cố ý chọc giận Nữ hoàng, để bị đuổi khỏi cung?
Về phòng rửa mặt, trấn tĩnh lại, Lư Hội định đi cầu cứu Đoan Mộc Tuệ rồi sau đó mới mở lời với Nữ hoàng.
Khi cô ra ngoài đã là giữa trưa. Đi ngang qua một khu vườn trong cung, vừa hay gió thu thổi tới, cuốn mấy tấm màn vừa phơi khô bay lên mái nhà. Ba năm tiểu cung nữ kiễng chân với tay mà không tới, bèn bàn nhau giẫm lên vai nhau để leo lên lấy, nói rằng nếu không thu đủ màn thì sẽ bị ma ma trách phạt, không có cơm trưa ăn vân vân.
Lư Hội lập tức tiến lên, bảo “để ta làm”, rồi buộc gọn váy, mũi chân điểm vào cột hành lang, tung người nhảy lên, nhẹ nhàng leo lên mái. Đám tiểu cung nữ đồng thanh reo hò, vỗ tay đôm đốp.
Lư Hội tuy tâm sự nặng nề, cũng không khỏi mỉm cười. Cô vừa định dáng vẻ tiêu sái nhảy xuống thì chợt đầu gối tê rần, thân thể mất thăng bằng giữa không trung, lăn một vòng ngã xuống đất, cơn đau như gãy xương ập thẳng vào bắp chân.
Giữa tiếng kêu la hốt hoảng của đám tiểu cung nữ, Lư Hội được khiêng về Phượng Nghi Điện. Hai vị thái y đeo hòm thuốc vội vã chạy tới, chẩn đoán một phen rồi nói “không phải gãy xương mà là nứt xương, ít nhất phải tĩnh dưỡng hơn một tháng”.
Nhìn hai vị thái y nắn xương bôi thuốc cho Lư Hội, tay chân thoăn thoắt bó nẹp bằng ván và băng dày, Đoan Mộc Tuệ sốt ruột vô cùng: “Đã bảo cô bớt khoe khoang thân thủ rồi! Cái gọi là người giỏi bơi lội chết vì chìm, mái nhà cao như vậy là muốn leo thì leo sao! Lần này coi như cô may mắn, nếu thật sự gãy chân thì biết làm sao bây giờ!”
Lư Hội không lời nào biện bạch, trong lòng mờ mịt.
Cô sờ lên cái chân bị bó chặt, trong lòng dâng lên một cảm giác kỳ lạ.
Nữ hoàng hai tay chắp sau lưng, đi tới đi lui bên cạnh: “Thân thủ cái gì, trẫm thấy nàng ta là nghịch ngợm thì có! Sau này bớt xem mấy thứ du hiệp truyện nhảm nhí đó đi!”
Quân thần hai người thay nhau quở trách, vẻ mặt đều là hận sắt không thành thép, Lư Hội ngoan ngoãn cúi đầu nghe.
“Lư tư trực ôm bệnh, là dưỡng thương trong cung hay đưa về Bùi phủ?” Đoan Mộc Tuệ bất đắc dĩ hỏi, “Xin bệ hạ chỉ thị.”
Nữ hoàng thần sắc chùng xuống: “Trẫm lúc nhỏ cũng từng ngã từ trên cao xuống, dưỡng gần hai tháng. Thôi vậy, tiểu nương tử bị bệnh thì sẽ nhớ nhà, nhớ đến bên cạnh cha mẹ. Cũng đừng về Bùi phủ nữa, cứ trực tiếp về chỗ song thân đi, đợi dưỡng khỏi rồi hãy quay lại cung.”
–
Cứ như vậy, Lư Hội thuận lợi ra khỏi cung, lại mang theo hai cỗ xe đầy phần thưởng của Nữ noàng ban tặng.
Trở về phủ Bùi, cô thu xếp hành trang rồi mới khởi hành. Mãi đến khi cỗ xe ngựa lắc lư đi ra khỏi cổng thành, cô vẫn chưa có cảm giác thật, chỉ ôm lấy cái “chân thương” vốn đã hết đau mà ngẩn ngơ.
Trong lúc tâm tư rối loạn, xe ngựa bất giác dừng lại. Chưa kịp kinh ngạc, chỉ thấy cửa xe bị kéo mở, lộ ra một gương mặt tuấn mỹ quen thuộc.
Lư Hội mừng rỡ kêu lên: “Bùi Thứ Chi!”
Cô chẳng màng đến nẹp gỗ trên chân, lăn lộn nhào tới. Bùi Thứ Chi bật cười lớn, ôm trọn lấy cô vào lòng. Tiếng cười của hai người vang dội, như khiến núi rừng hoang vu quanh đó thêm phần sinh động.
Cách xe không xa, một vòng thị vệ áo đen bụi bặm đứng vây, Đàm Tử Liệt mặt mày khổ sở từ trên ngựa bước xuống, còn vỗ vỗ đôi chân đau nhức.
Bùi Thứ Chi ôm lấy thiếu nữ, bỗng thấy có điều không ổn, cúi đầu nhìn rồi kinh hãi nói: “Chân nàng làm sao vậy?”
Lư Hội lúc này mới nhớ ra: “Khoan đã, chàng đừng hỏi, cho ta mượn đoản đao một lát.”
Cô nhanh chóng rút đoản đao bên hông chàng, soạt soạt mấy nhát cắt đứt dây buộc, nẹp gỗ trên chân bị ném sang một bên. Sau đó cô nhảy xuống xe đi vài bước, tuy còn hơi khập khiễng, nhưng rõ ràng không có gì đáng ngại.
“Ta đã biết, ta đã biết.” Cô lẩm bẩm, “Quả nhiên là vậy.”
Bùi Thứ Chi nhíu mày khó hiểu: “Chuyện này là sao?”
Lư Hội hớn hở, mặt đỏ rực: “Ngụy Quốc phu nhân thích ta!”
Bùi Thứ Chi vừa tức vừa buồn cười: “Phải phải, toàn bộ dân chúng Sa Châu đều thích nàng, nàng nói gì thế?”
“Lần này không phải ta tự khoe khoang, ắt hẳn là Ngụy Quốc phu nhân đã giúp ta một phen.” Lư Hội nói năng lộn xộn, “Thôi không nói nữa, trời sắp tối rồi, ta phải về huyện Dương gặp cha mẹ, chuyện khác để lên xe rồi nói.”
Bùi Thứ Chi kéo lấy thiếu nữ đang vội chui vào xe, thong thả nói: “Bức thư ấy là ta sai quản sự đưa vào cung.”
Lư Hội chưa hiểu.
Bùi Thứ Chi lại nói: “Ta muốn đưa nàng ra khỏi Đông Đô, nên mới bịa ra bức thư đó.”
Lư Hội chớp mắt, nín thở: “Nói cha ta mắc phong hàn, bức thư ấy là chàng giả tạo ư?”
Bùi Thứ Chi gật đầu.
Mắt Lư Hội đỏ ngầu, giận dữ quát: “Chàng dám nguyền rủa cha ta bệnh tật, ta liều mạng với chàng!”
Rồi cô dồn hết sức húc mạnh một cái, lực lớn đến nỗi khiến Bùi Thứ Chi ngã ngửa trong xe.
…
Nghe thấy động tĩnh, Đàm Tử Liệt ngẩng đầu nhìn, chỉ thấy bên ngoài xe không có ai, mà thân xe lại lắc lư dữ dội.
Hắn nghi hoặc: “Xe ngựa sao lại chao đảo thế, chẳng lẽ trục bánh hỏng rồi?”
–
Trục bánh quay trơn tru, bốn con tiểu mã khỏe mạnh kéo xe phát ra tiếng vó nhẹ nhàng. Thị vệ áo đen hộ tống hai bên, cả đoàn người trong đêm tối nhanh chóng lên đường.
Trong xe, Bùi Thứ Chi ngồi xếp bằng, vạt áo mở một bên, lộ ra bờ vai trái rắn chắc. Lư Hội đem cao dán hơ nóng trên ánh đèn, cẩn thận dán lên chỗ sưng đỏ nơi vai.
“Còn đau không? Chắc là đỡ rồi.” Lư Hội khẽ hỏi, “Loại cao này vốn thái y cho ta dùng trị chân, còn nói trật khớp hay ngã đều dùng được, linh nghiệm lắm.”
Bùi Thứ Chi hậm hực liếc cô một cái: “Ta vượt ngàn dặm đến gặp nàng, kết quả vừa gặp đã bị nàng húc đầu!”
Lư Hội lẩm bẩm: “Ai bảo chàng nguyền rủa cha ta.”
— Người đời tin quỷ thần, lời bệnh tật càng không thể tùy tiện đặt lên người thân, e rằng ứng nghiệm.
Bùi Thứ Chi kéo áo lại: “Nàng không thấy bức thư ấy có chỗ lạ sao? Chỉ nói lệnh tôn phong hàn, lại chẳng ghi thời điểm. Bởi vì tháng trước lệnh tôn quả thực mắc phong hàn, nhưng uống hai bát nước gừng liền khỏi. Ta mới mượn cớ ấy. Sao nàng lại nghi ta nguyền rủa lệnh tôn?”
Thấy gương mặt ngọc phủ sương, giữa mày sinh ra vài phần lạnh lẽo, rõ ràng chàng đã thật sự giận, Lư Hội vội níu lấy cánh tay chàng, lòng đầy áy náy: “… Là ta sai, chàng đánh lại đi.”
Bùi Thứ Chi xoa đầu cô, ngón tay luồn vào mái tóc đen mượt ngoan ngoãn, mềm mại đến tận tâm khảm.
Chàng nghiêm nghị: “Nàng đã chịu sự trách mắng nghiêm khắc của ta, chuyện này coi như bỏ qua, nghĩ rằng sau này nàng sẽ biết sai mà sửa.”
Lư Hội ngẩng đầu nghi hoặc, trách mắng nghiêm khắc? Khi nào vậy?
Bùi Thứ Chi nheo mắt: “Nàng còn lời gì muốn nói?”
“Không không!” Lư Hội ngoan ngoãn rúc vào lòng chàng, lanh trí đổi đề tài: “Nhưng mà, chàng vốn định làm thế nào đưa ta ra khỏi cung?”
Bùi Thứ Chi nói: “Qua hai ngày sẽ có người đưa cho nàng một gói thuốc, nàng uống vào rồi chẳng bao lâu sẽ ngã bệnh. Nguyên do là ‘nghe tin phụ thân mắc bệnh, tâm tư u uất kết lại’, khi ấy bệ hạ tất sẽ cho phép nàng xuất cung.”
Thấy trong mắt thiếu nữ lộ ra vẻ “chẳng qua là thế thôi”, chàng cũng khổ cười: “Ta vốn tự cho kế này rất diệu, ngay cả thái y cũng không nhìn ra sơ hở, nào ngờ núi này cao còn có núi kia cao hơn.”
Lư Hội an ủi: “Cũng không sao, chàng đã có linh dược che mắt được thái y, kế sách phần nhiều sẽ thành công, chỉ là phải chậm trễ đôi ngày, chẳng bằng lúc này lập tức thấy hiệu quả.”
Bùi Thứ Chi thở dài: “Khi ta nghe tin nàng hôm nay đã rời cung xuất thành, quả thật kinh ngạc, nên mới vội vã chạy đến gặp nàng.” Chàng nhặt lấy tấm nẹp gỗ rơi một bên nhìn qua, “Nàng thật cho rằng là Ngụy Quốc phu nhân ngầm giúp nàng?”
Lư Hội quả quyết: “Ta chỉ vừa rửa mặt, liền có cao thủ ẩn mình khiến ta ngã thương, lại thêm hai vị thái y thật mù mắt chẩn đoán sai, ngoài Ngụy Quốc phu nhân, còn ai có thể trong chốc lát làm được việc kín kẽ như thế?”
Trong lòng Bùi Thứ Chi vẫn ngờ vực: “Chỉ vì Ngụy Quốc phu nhân thích nàng thôi ư?”
Thiếu nữ thản nhiên: “Đúng vậy, chẳng lẽ còn vì điều gì khác?”
Bùi Thứ Chi trầm ngâm: “Nàng không hiểu, việc này rất mạo hiểm. Trong cung, nếu bệ hạ biết Ngụy Quốc phu nhân vươn tay quá dài, tất sẽ sinh ra hiềm khích giữa quân thần.”
Lư Hội cũng chợt do dự: “Vậy Ngụy Quốc phu nhân vì sao lại giúp ta? Chẳng lẽ là để nhử chàng ra? Trời ạ, có phải bà ấy phái mật thám đến dò xét chàng không?” Nói rồi, cô toan mở cửa sổ xe.
Bùi Thứ Chi kéo cô lại: “Yên tâm, phía sau không có ai. Từ khi nàng ra khỏi cổng Đông Đô, ta đã sai người âm thầm theo dõi, đi hơn một canh giờ ta mới hiện thân. Lúc này chúng ta đã rời Đông Đô gần trăm dặm, phía trước là núi sâu hẻo lánh, Ngụy Quốc phu nhân không thể với tới.”
Lư Hội ngẩn ngơ: “Ồ, thì ra là vậy… A! Gần trăm dặm rồi! Giờ chúng ta ở đâu, chẳng phải về huyện Dương sao? Dẫu cha không bệnh, ta vẫn muốn về nhà gặp họ!”
Bùi Thứ Chi xoa đầu nàng, ánh mắt tràn đầy ôn nhu tiếu ý: “Ta cố ý lén trở về, là muốn đưa nàng đi gặp một người. Chẳng mấy ngày đâu, gặp xong người ấy, nàng sẽ về huyện Dương đoàn tụ cùng gia thân.”
Lư Hội nghĩ cũng được, vừa ngồi vừa hỏi: “Người ấy là ai vậy?”
Bùi Thứ Chi mỉm cười: “Gặp rồi sẽ nói cho nàng biết.”
–
Vô Danh sơn trang dựng dựa vào núi, nửa sau nhà gần như nối liền với khe núi.
Khi họ đến nơi, trời đã tối đen, Lư Hội không nhìn rõ toàn cảnh sơn trang, chỉ lờ mờ thấy trong tầng tầng đá núi có mái hiên ẩn hiện. Theo tính tình vốn cầu kỳ của Bùi Thứ Chi, lại đặt cho sơn trang cái tên sơ sài như vậy, hẳn là thật sự không muốn nơi này bị chú ý.
Cổng sơn trang mở rộng, hai hàng hộ vệ cầm đèn da dê lớn chờ nghênh tiếp chủ nhân.
Gió núi lạnh buốt, Bùi Thứ Chi cởi đại bào khoác lên người Lư Hội, rồi kéo cô đi thẳng vào trong. Vừa bước vào cửa, một hán tử cao lớn vạm vỡ tiến lên bẩm báo: “Công tử, có người cầu kiến.”
Việc này ngoài dự liệu của Bùi Thứ Chi, vốn nơi đây không ai biết.
“Là ai?”
Thiết Lặc dâng hai tay một vật: “Là cố nhân của công tử.”
Lư Hội treo áo choàng lên, ngáp một cái, liếc nhìn, thấy đó là một túi nước da dê cũ kỹ, thứ này cô quen, thường dùng bởi khách thương vượt sa mạc để chứa nước hoặc rượu.
Bùi Thứ Chi nhận lấy túi nước, dường như rất bất ngờ. Lư Hội lúc này mới chú ý, trên chỗ dây buộc bị đứt có gắn một miếng kim bài nhỏ hình rùa tròn, chính là phù hiệu thường dùng của Bùi Thứ Chi.
“Người ấy đâu?” Bùi Thứ Chi trầm giọng hỏi.
“Ở đây.”
Chưa đợi Thiết Lặc đáp, một giọng nữ vang lên, rồi bên cửa xuất hiện một thiếu nữ mặc hồ phục nhẹ nhàng, nàng chừng hơn hai mươi, thân hình nhanh nhẹn, khí khái hiên ngang, gương mặt tú lệ mang vài phần phong sương.
Nữ tử này dung mạo chưa hẳn mỹ lệ, y phục cũng cũ kỹ, song cử chỉ quả quyết, ánh mắt kiên định, toàn thân toát ra một vẻ cuốn hút khác thường. Theo lời Tạ Ngọc Phù, “vừa nhìn đã biết là nữ tử có thể chống đỡ cả gia môn.”
Lư Hội lập tức sinh lòng hảo cảm.
Thiết Lặc không phải kẻ ngốc nghếch như Tử Liệt, chẳng nói thêm lời nào, khéo léo khép cửa lui ra, giữa chừng cũng chẳng ngoái đầu.
Trong phòng chỉ còn lại ba người.
Từ lúc nữ tử kia bước vào, không khí quanh đó đã trở nên kỳ lạ. Không ai mở miệng, chỉ dùng ánh mắt dò xét lẫn nhau.
Lư Hội chịu không nổi, vốn đã rất buồn ngủ, đầu óc ong ong chỉ muốn mau chóng nghỉ ngơi.
“Xin chào tỷ tỷ, tiểu muội họ Lư, chẳng hay tỷ tỷ xưng hô thế nào?” Là con gái nhà thương nhân, chuyện chào hỏi, xã giao cô vốn rất thạo.
Nữ tử kia mím môi: “Ta họ Trần.”
Lư Hội nở nụ cười xã giao: “Xin vấn an tỷ tỷ nhà họ Trần. Đã là khách từ xa đến, tỷ tỷ chi bằng ngồi xuống trước đã, có chuyện gì thì từ từ nói.”
Nữ tử kia đứng yên không nhúc nhích, Lư Hội đành cười gượng hai tiếng, quay sang nói: “Hóa ra người Thiếu tướng muốn ta gặp chính là vị tỷ tỷ nhà họ Trần này sao. Đêm đã khuya rồi, các người cứ từ từ nói chuyện, ta thì…” đi ngủ được không?
“Không phải nàng ta.” Bùi Thứ Chi bỗng mở miệng.
Lư Hội cảm thấy chàng cũng rất kỳ lạ, vừa nhìn thấy nữ tử này liền toàn thân đề phòng, nhưng lại không mang ý công kích.
“Không phải nàng ấy là sao?” Cô không hiểu.
Bùi Thứ Chi lặp lại: “Người ta muốn ngươi gặp không phải nàng ta.”
Lư Hội càng thêm mơ hồ: “Hả? Vậy nàng là ai?”
Nữ tử kia tiến lên một bước: “Gia phụ là Trần Lệnh Tắc.”
Lư Hội thuận miệng đáp: “Ồ, ngưỡng mộ đã lâu, tỷ tỷ nhà họ Trần vẫn nên ngồi xuống… Ấy? Cái tên này hình như ta đã từng nghe qua ở đâu thì phải…?”
Bộ não đang khát ngủ nhất quyết không chịu hoạt động, cô đành cầu cứu, nhìn sang Bùi Thứ Chi.
Bùi Thứ Chi thản nhiên nói: “Phụ thân nàng khi còn tại thế, thiết kỵ của A Sử Na Ngột Đạc không dám tiến xuống phương nam dù chỉ một bước.”
Lư Hội “a” một tiếng, cô nhớ ra rồi!
Cô kinh ngạc nhìn nữ tử kia: “Lệnh… lệnh… lệnh tôn là đại tướng quân Trần Lệnh Tắc, người uy chấn phương Bắc đó ư?!”
Cô lập tức tỉnh táo hẳn, trong đầu thoáng chốc lướt qua toàn bộ những ghi chép liên quan đến Trần Lệnh Tắc:
Là mãnh tướng số một do chính Tể thủ Vương Muội năm xưa đích thân đề bạt, chiến công hiển hách, truy kích man di đến tận hoang mạc xa xôi, uy danh vang dội khắp Tây Vực mạc bắc. Mười bảy năm trước từng tự mình dẫn binh lén vào Đông Đô, trợ giúp Nữ hoàng phế đế tự lập.
Về sau Vương Muội trở mặt với Nữ hoàng, bị hạ ngục chờ chém, Trần Lệnh Tắc dâng biểu biện hộ cho Vương Muội, liền bị vu cáo có ý mưu phản.
Nữ hoàng lập tức sai người đến tiền tuyến, chém Trần Lệnh Tắc ngay trong quân doanh, đồng thời tru sát toàn bộ gia quyến.
Ngột Đạc Khả Hãn nghe tin mừng rỡ khôn xiết, ngay trong năm đó liền phát binh xâm phạm biên cảnh, đốt phá cướp bóc.
Lần này Lư Hội hoàn toàn hết buồn ngủ, cô ngẩn người nhìn sang. Nhà họ Trần chẳng phải đã bị diệt môn rồi sao? Vậy vị Trần nương tử này là cá lọt lưới ư?
Trần nương tử nhìn thẳng Bùi Thứ Chi, giọng kiên định: “Huynh biết rồi đấy, nếu không phải bất đắc dĩ, ta sẽ không đến tìm huynh.”
Bùi Thứ Chi: “Ta biết.”
Trần nương tử: “Năm đó, huynh có ân với ta.”
Bùi Thứ Chi: “Cô đối với ta cũng có ân.”
Trần nương tử lại tiến thêm một bước, mắt ngấn lệ: “Ta đối với huynh… còn có tình.”
Bùi Thứ Chi: “……”
Ánh mắt Bùi Thứ Chi lệch sang bên, bắt gặp một đôi mắt to sáng rực.
Thiếu nữ vẻ mặt phấn khích vội nói: “Hai người cứ nói tiếp đi, đừng để ý đến ta, coi như ta không tồn tại là được!”
Bùi Thứ Chi: “……Đêm đã khuya rồi, nàng còn không đi ngủ sao?”
Lư Hội chỉ cảm thấy tinh thần phơi phới: “Khuya cái gì chứ, còn chưa đến canh ba mà! Hay là chúng ta nấu trà đàm đạo đêm khuya, tiện thể dùng chút ăn khuya?”
“Trần tỷ tỷ thích ăn gì? Nguyên tiêu thịt có được không, bánh cua hấp cũng không tệ đâu.”
“Tết Trùng Dương sắp tới rồi, hay là chúng ta bày hẳn một bàn yến tiệc hoa cúc cho hợp tiết khí?”
Tác giả có lời muốn nói:
Bùi Thứ Chi: Ta lại muốn bóp chết nàng rồi.
Lư Hội: Bây giờ có phải chỉ còn mình ta nhớ nhiệm vụ ban đầu không?
