Chương 35: Làm hòa
*
Thần Đô, Phường Tu Nghiệp phía Nam thành, phủ họ Khang.
Trong chính phòng truyền ra tiếng phụ nhân khẽ nức nở. Lư Hội nghển cổ nhìn về phía giường bệnh, chỉ thấy vị thủ lĩnh thương đội hùng tráng hào sảng năm xưa là Khang Khuất Để nay hai má hóp lại, mặt vàng như giấy, rõ ràng đã hiện ra dáng dấp bệnh nhập cao hoang.
Tạ Ngọc Phù vỗ nhẹ lên vai con gái, khẽ giọng nói: “Con còn nhỏ, đừng lại gần quá. Đi ra ngoài an ủi Ngũ Nương mấy câu.”
Lư Hội “ồ” hai tiếng, nhưng cũng chỉ nhích được nửa bước.
Lư Trí Nam ngồi bên mép giường, hai tay nắm chặt tay Khang Khuất Để: “Khang huynh, ta với huynh giao tình hơn hai mươi năm, tình như thủ túc. Sau này nếu tẩu tẩu và cháu gái có việc gấp, tiểu đệ nhất định dốc sức tương trợ.”
Khang Khuất Để chống thân thể gầy guộc rã rời vì bệnh, gắng gượng phát ra tiếng: “Đa… đa tạ. Có đệ trông nom… ta yên tâm…”
Tạ Ngọc Phù nhìn sang Khang phu nhân ở bên, dịu dàng hỏi: “Tẩu tẩu, còn việc gì cần vợ chồng chúng ta giúp đỡ không?”
Khang phu nhân dung nhan tiều tụy, lệ ngấn nơi mi, đáp: “Đương gia đã an bài cả rồi. Mối làm ăn giao cho lục thúc của chàng, thương đội giao cho mấy vị đường phòng chất nhi. Mọi người đều là người hậu đạo, nói rằng ruộng đất ngân lượng đương gia tích góp bao năm đều thuộc về mẹ con chúng ta, họ không động đến một phần. Sau này nếu gặp khó khăn hay đến lúc Ngũ Nương xuất giá, họ đều sẽ ra sức.”
Tạ Ngọc Phù gật đầu: “An bài như vậy rất thỏa đáng. Không chỉ tẩu tẩu và cháu gái sau này ăn dùng không lo, mà đám huynh đệ theo Khang huynh bao năm cũng có chỗ nương thân.”
Lư Trí Nam thở dài: “Chỉ tiếc tâm huyết cả đời của Khang huynh, thương đội nuôi dưỡng mấy chục năm, bao cửa ải dọc đường vất vả dò xét thuộc lòng, nay đều phải trao tay người khác.”
Xây dựng được một thương đội danh tiếng vững vàng há dễ.
Từ Tây Vực xa nghìn dặm đến Đông Hải triều dâng triều rút, từ Mạc Bắc tiếng hồ cầm ai oán đến Điền Nam chướng khí mịt mùng, ở giữa là sa mạc, hồ nước, sơn cốc, rừng rậm, đầm lầy, còn có lòng người khó lường hiểm ác hơn cả. Làm thủ lĩnh thương đội, phải trầm ổn cơ trí, trong thì lấy đức phục người, ngoài thì giao tế khéo léo, đã có thể vung đao chém giặc, lại còn phải thông hiểu phong thổ nhân tình khắp nơi.
Khang Khuất Để từ thuở còn để chỏm đã vào nghề, mất mấy chục năm mới triệt để khai thông thương lộ, vượt qua trùng trùng hiểm trở. Hàng hóa vừa đến nơi đã tăng giá gấp tám gấp mười, lợi nhuận vô cùng dồi dào, Lư Trí Nam không khỏi tiếc thay cho lão Khang.
Khang phu nhân bật khóc: “Đều tại ta, không sinh được con trai nối dõi cho đương gia, khiến thương đội không người kế tục.”
Lư Trí Nam lúng túng: “Ấy ấy, ta không có ý ấy, tẩu tẩu chớ đa tâm. Ngũ Nương là tâm đầu nhục của Khang huynh. Vốn còn định đợi Ngũ Nương chiêu tế sinh con, ngày tháng còn dài lắm, nào ngờ trời có mưa gió bất trắc…”
Dẫu là bằng hữu nhiều năm, song ông xưa nay không tán thành cách Khang Khuất Để một mực nuông chiều con gái. Dẫu sau này có chiêu tế, con gái cũng phải tự mình đứng vững, bằng không chẳng phải sẽ mặc cho rể ở rể thao túng hay sao? Rể còn có lương tâm thì thôi, nếu nảy sinh dị tâm thì sao?
Nào như Hội Hội nhà ông, gan lớn tâm tinh tường, văn (tính sổ) võ (đánh nhau) song toàn, lại còn được Nữ hoàng để mắt tới.
Tạ Ngọc Phù khẽ kéo tay áo trượng phu, trách: “Chàng nói những điều ấy làm gì? Lúc này quan trọng nhất là thân thể Khang huynh và tương lai của tẩu tẩu cùng cháu gái.”
Lư Hội nghe đến đây thì xoay người bước ra khỏi phòng ngủ.
Ngoài gian ngoài, một thiếu nữ dung mạo mềm mại đang úp mặt trên bàn khẽ nức nở, chính là độc nữ yêu quý của Khang Khuất Để – Khang Ngũ Nương.
Y Lam ngồi bên cạnh, không kiên nhẫn nói: “Cô đã khóc nửa canh giờ rồi. Năm xưa nếu Mạnh Khương Nữ có cô giúp sức, e rằng cung điện cũng bị các cô khóc đổ mất.”
Khang Ngũ Nương càng khóc lớn hơn.
Lư Hội bước đến, nhẹ giọng an ủi: “Đừng khóc nữa. Tỷ càng khóc, Khang bá phụ càng không yên lòng.”
Khang Ngũ Nương ngẩng khuôn mặt nhỏ đầy vệt lệ: “Ta muốn cha không yên lòng, muốn người không yên lòng! Không yên lòng thì người sẽ không nỡ bỏ ta và mẹ lại, hu hu…”
Y Lam ngẩng mặt nhìn trời: “Vậy chẳng phải chết cũng không nhắm mắt?”
Khang Ngũ Nương trừng mắt: “Cô nói cái gì?!”
Lư Hội thở dài. Ngẩng đầu lên, cô thấy tiểu trướng phòng cùng cô đến Thần Đô là Liễu Phương Lâm đang ngồi dưới hành lang ngoài, nhìn đăm đăm ao nước dưới lan can, thần sắc ngẩn ngơ. Cô hỏi: “Liễu tiểu lang đến đây làm gì?”
Liễu Phương Lâm cúi đầu: “Đợi các vị nói xong, ta vào báo với Khang lão đại khoản sổ cuối cùng.”
Lư Hội chợt nhớ ra một việc: “Ta nghe cha nói, Khang bá phụ vốn muốn chiêu tế huynh làm rể, có phải vậy không?”
Nghe vậy, Khang Ngũ Nương khẽ ngẩng đầu, Y Lam cũng dựng tai lên nghe.
Liễu tiểu trướng phòng vẻ mặt ủ rũ: “Đó là chuyện trước kia. Ta nói muốn suy nghĩ thêm một thời gian, nào ngờ Khang lão đại liền ngã bệnh không dậy nổi. Hầy, nay chuyện ấy cũng chẳng cần nhắc nữa.”
Sắc mặt Lư Hội lạnh đi: “Cái gì gọi là ‘nay chẳng cần nhắc nữa’? Chẳng lẽ vì Khang bá phụ thân thể bất an, huynh liền coi thường Ngũ Nương? Hừ, đúng là hạng tiểu nhân thế lợi, giẫm thấp nâng cao!”
Liễu Phương Lâm trợn trừng mắt: “Lư tiểu nương tử ở trong cung đến ngốc rồi sao? Ta là trướng phòng của nhà họ Khang, Khang lão đại để lại bao nhiêu gia sản cho thê nữ, ta chẳng lẽ không biết? Dùng hai đời cũng tiêu không hết.”
Lư Hội sững người: “Đã vậy, vì sao huynh không muốn?”
Y Lam từng trải rộng, chen lời: “Phải đó, vì sao không muốn? Theo những gì ta thấy ở Trung Nguyên, bọn rể ở rể các ngươi chẳng phải thích nhất kiểu mẹ góa con côi như nhà họ Khang sao? Nắm trong tay gia tài lớn, lại dễ bề nắm giữ.”
Liễu Phương Lâm thần sắc u uất: “Đó đều là hạng phàm phu tục tử. Như ta đây, tuấn lãng lại đức tài song toàn, sở dĩ muốn ở rể, chẳng qua cầu một chốn an lạc phúc địa, có một cây cột trụ che mưa chắn gió cho ta, để ta yên tâm nghiên cứu toán học, rảnh rỗi thì đi đây đó dạo chơi. Ngũ Nương còn nhỏ dại chưa trải sự đời, tự bảo toàn mình đã là tốt lắm rồi, làm sao có thể chống cửa lập hộ?”
Lư Hội không hiểu: “Chẳng phải còn có huynh sao? Vợ chồng đồng tâm, vẫn có thể sống tốt kia mà.”
Liễu Phương Lâm tức giận: “Nếu ta phải ra ngoài gánh vác môn hộ, thì ta còn ở rể làm gì?”
Lư Hội: “Vậy thì cưới vợ cũng được, ta thấy Khang bá phụ cũng không để tâm.”
Liễu Phương Lâm: “Ta để tâm. Ta muốn ở rể, ta thích ở rể. Ta muốn không hỏi thế sự, áo cơm vô ưu mà chuyên tâm nghiên cứu toán học, có sai sao?”
Lư Hội: “…”
Y Lam phì cười: “Ây, thực ra Liễu tiểu lang có thể suy xét nhà họ Lư chúng ta mà. Lang chủ nhà ta cũng định chiêu tế cho Hội Hội đó. Hội Hội nhà ta thông minh giỏi giang, vừa có thể đương gia làm chủ, lại có thể che mưa chắn gió cho ngươi, chẳng phải đúng tâm ý Liễu tiểu lang sao?”
Nghe vậy, Khang Ngũ Nương càng thêm thương tâm, “òa” một tiếng rồi gục khóc bên bàn.
Liễu Phương Lâm lại thật sự đưa mắt đánh giá Lư Hội.
“Á… à thì…” Lư Hội chột dạ, trán lấm tấm mồ hôi, “Y Lam, tỷ sao có thể thế được? Ngũ Nương đang thương tâm, Khang bá phụ còn nằm trong kia, tỷ đã vội sang bát người ta đoạt cơm, cũng quá thất đức rồi! Rể với chả rể, thôi thôi, dừng lại dừng lại!”
— Trời xanh ơi, sau này biết nói sao với họ về chuyện của Bùi Thứ Chi đây!
Thôi thì nhà họ Lư không thiếu cột trụ, chỉ sợ Bùi Thứ Chi thẹn quá hóa giận, khẽ nhấc một ngón tay là sập mái nhà cô mất.
–
Phủ Công chúa, nội viện.
Công chúa Vĩnh Ninh chống nạnh đứng giữa một bụi hoa sum suê, liếc xéo: “Cô chẳng phải nói không đến sao? Còn viện cớ trong nhà có việc. Thế sao giờ lại đến?”
Lư Hội vội vàng hành lễ, tiến lên đỡ cánh tay công chúa: “Vi thần nào dám viện cớ, thực sự là có việc. Than ôi, một vị bằng hữu nhiều năm của gia phụ lâm bệnh nặng, e rằng chẳng còn mấy ngày, cha cùng gia mẫu dẫn vi thần đến thăm.”
Công chúa Vĩnh Ninh lạ lùng: “Đã là thăm người bệnh nặng, cớ sao cô mặt mày bực bội thế kia?”
Lư Hội vừa đi vừa nói: “Điện hạ có điều chưa rõ. Vị bằng hữu ấy của gia phụ do trước kia bốn người con đều yểu mệnh, nên đối với đứa con gái duy nhất còn lại yêu chiều hết mực, sủng nịch vô cùng.”
Công chúa Vĩnh Ninh chưa hiểu ý: “Thì sao?”
Lư Hội dừng bước, đầy bụng uất khí: “Công chúa minh giám. Thật lòng yêu thương con gái không phải là nuông chiều đến mức ngây thơ mông muội, chẳng biết thế sự; mà là dạy con gái hiểu người hiểu lý, gặp việc không hoảng loạn. Phải biết thế sự vô thường, chi bằng khi việc chưa tới đã sớm truyền hết bản lĩnh cho con, vun trồng bồi dưỡng, dạy dỗ nàng, để nàng lớn lên thành một cây đại thụ kiên cường, dù mưa gió kéo đến cũng không sợ hãi!”
Cô một hơi nói hết những điều ấp ủ trong lòng, lại phát hiện Công chúa Vĩnh Ninh đang nhìn cô bằng ánh mắt vô cùng kỳ lạ, trong đôi mỹ mục như lóe lên hai đốm lửa tán thưởng.
“Bản cung cũng nghĩ như vậy.” Công chúa nói từng chữ một.
–
“Lư tư trực mặt mũi thật lớn, khiến công chúa phải tự mình ra đón.” Đoan Mộc Tuệ cười đứng dậy khỏi bàn.
Đỗ vương phi khẽ vỗ nàng một cái, cười trách: “Cô thật là, Lư tư trực không đến thì cô nhớ, đến rồi lại trêu ghẹo.”
Lư Hội vội bước lên hành lễ: “Vi thần bái kiến Vương phi điện hạ.”
Đỗ vương phi đỡ cô dậy: “Chớ đa lễ. Hôm nay chúng ta đều là khách của phủ công chúa.”
“Được rồi được rồi, nhập tiệc thôi.” Công chúa Vĩnh Ninh vỗ tay hai cái, nô tỳ trái phải nối đuôi nhau vào dâng món rót rượu.
Rượu ngon thức đủ bày xong, Đỗ vương phi liếc nhìn quanh, Công chúa Vĩnh Ninh hiểu ý, hạ lệnh cho tả hữu lui hết khỏi hoa sảnh.
Đoan Mộc Tuệ cười: “Thế này mới phải, chúng ta tự rót tự uống, nói chuyện cho thoải mái.”
Lư Hội đảo mắt nhìn quanh, cười hì hì: “Công chúa điện hạ, Vương phi là khách quý trong khách quý, sao không gọi mấy vị lang quân tuấn tú hiểu ý ra hầu tiếp Vương phi?”
Ánh mắt Đoan Mộc Tuệ đầy vẻ trêu chọc: “Thế sao được? Lăng Dương Vương chính là huynh trưởng đồng bào của công chúa đó!”
Công chúa Vĩnh Ninh thở dài: “Phải vậy, tình đồng bào không phải tầm thường.” Rồi công chúa hạ giọng nói với Đỗ vương phi: “Nhưng chúng ta lén vui chơi, không nói cho tam huynh biết là được.”
Đỗ vương phi cười đến run cả người, cầm đũa ngà mà nói không nên lời. Đoan Mộc Tuệ vội vỗ lưng bà: “Đừng cười nữa, coi chừng sặc khí.”
“Được rồi được rồi.” Công chúa Vĩnh Ninh nâng chén vàng hình cánh sen đã rót đầy rượu về phía Đỗ vương phi: “Ly này kính tẩu. Kính tẩu khổ tận cam lai, từ nay thuận buồm xuôi gió, cả đời vinh hoa.”
Đỗ vương phi đỏ hoe mắt, một hơi uống cạn chén rượu của mình, khẽ nói: “Đa tạ cát ngôn của công chúa. Thiếp thân không dám mong điều gì khác, chỉ cầu một nhà quây quần một chỗ, bình an khang thái, thiếp thân đã mãn nguyện rồi.”
Đoan Mộc Tuệ khẽ nói: “Lời Vương phi rất phải. Đợi sau đại điển lập trữ, biết đâu bệ hạ nguôi giận, nương nương có thể sai người đến nơi lưu đày tìm tung tích huynh đệ trong nhà.”
Lư Hội kinh ngạc: “Người nhà bên ngoại của Vương phi nay vẫn còn ở đất lưu đày sao?”
Đỗ vương phi nghẹn ngào: “Đều do ta bất hiếu, tùy ý làm bừa, xúc phạm thiên uy, nào ngờ liên lụy gia nhân, khiến song thân khách tử nơi đất khách, huynh tỷ đệ muội lưu lạc nơi hoang dã, chẳng biết sống chết…”
Thấy bà khóc thảm thiết, Lư Hội nhớ đến dòng Đỗ thị danh môn Kinh Triệu ngày trước mà nay tàn lụi đến thế, trong lòng cũng chua xót.
Công chúa Vĩnh Ninh khẽ thở dài, mấy phần hiềm khích còn sót lại ngày xưa cũng theo đó tan biến. Nàng vuốt lưng Đỗ vương phi, dịu giọng khuyên: “Tẩu phải giữ gìn thân thể. Chỉ cần tẩu còn sống, ắt có ngày đoàn tụ với gia nhân.”
Đoan Mộc Tuệ nhẹ lau lệ: “Phải đó, Vương phi nên nghĩ theo chiều tốt.”
Đỗ vương phi lau nước mắt, gượng cười: “Xem ta kìa, công chúa có lòng mở tiệc, đáng lẽ nên vui mới phải. Thôi, đừng nhắc chuyện cũ nữa, nói chuyện khác đi. Gần đây long thể bệ hạ thế nào? Ta muốn cho Trường Mậu và Trường Thịnh đến trước giá tận hiếu…”
“Hay là thôi.” Lư Hội cười khổ, “Từ khi chiếu chỉ lập trữ ban xuống, Lương Vương ngày ngày say khướt, lời lẽ điên cuồng. Bệ hạ không nỡ trách phạt, nhưng trong lòng cũng chẳng vui. Đừng để quận chúa đến làm gì.”
Công chúa Vĩnh Ninh nói: “Nghe nói Chử Thừa Cẩn lại bắt đầu dùng Ngũ Thạch Tán. Dược tính phát tác thì điên cuồng dữ dội, không ngớt kêu gào rằng mình bị hãm hại, còn nguyền rủa Đường tướng công không được chết tử tế…”
Đoan Mộc Tuệ cười nhạt: “Chẳng cần ông ta nguyền rủa, Đường tướng công sắp bị giáng chức, điều ra ngoài rồi. Ước chừng hai hôm nữa sẽ có minh chỉ.”
Lư Hội đại kinh: “Chuyện này xảy ra khi nào? Sao ta không biết?”
Đoan Mộc Tuệ đáp: “Hôm kia. Ngày đó ngươi nghỉ phép. Đường tướng tự vào cung thỉnh tội, xin rời trung khu, ra ngoài nhậm chức ở một châu quận.”
Lư Hội phẫn nộ: “Đường tướng công là người lập đầu công trong việc bình định phản loạn, có tội gì chứ!”
Công chúa Vĩnh Ninh hừ khẽ, nửa cười nửa không: “Lần này bình loạn, con cháu họ Chử chẳng lập được tấc công nào, cha con Chử Thừa Cẩn còn bẽ mặt đến thế, mẫu hoàng vui sao được? Đường tướng vốn là đầu công mà chậm chạp không được ban thưởng, ắt trong lòng đã hiểu. Tự xin thỉnh tội là cách làm khôn ngoan, chậc chậc.”
Đoan Mộc Tuệ nói: “Vẫn là công chúa nhìn thấu.”
Ánh mắt Đỗ vương phi tán thưởng, nâng chén kính Công chúa Vĩnh Ninh.
“Há có thể như vậy?” Lư Hội thất vọng khôn nguôi.
–
Hôm sau Lư Hội vào cung làm việc, thành thành thật thật chủ động nhận: “Bệ hạ, hôm qua vi thần có đi gặp Đường tướng công. Nghe nói ngài ấy sắp bị điều ra ngoài, vi thần đặc biệt đến tiễn.”
Nữ hoàng hừ lạnh: “Còn tưởng ngươi không nói chứ, việc này đêm qua trẫm đã biết. Sao? Ngươi cũng bất bình thay Đường Nghĩa Phương ư?”
— Chữ “cũng” ấy thật là khó nói.
Lư Hội cười lấy lòng: “Ban đầu vi thần quả có ý nghĩ ngu xuẩn ấy. Nhưng nghe Đường tướng công giải thích, vi thần mới biết mình nông cạn buồn cười.”
Nữ hoàng: “Ồ? Đường Nghĩa Phương nói gì?”
Lư Hội nhìn sắc mặt bà, dè dặt đáp: “Đường tướng công nói, quân uy không thể suy. Lương Vương dù sao cũng là thân tộc của bệ hạ, cho dù thế nào ngài ấy cũng không nên để Lương Vương tự ý xuất binh, khiến con cháu Chử thị mất sạch thể diện. Thực lòng ngài ấy có lỗi với bệ hạ.”
Nữ hoàng: “Coi như hắn còn hiểu.”
Lư Hội thêm mắm dặm muối: “Đường tướng công còn nói, ngài ấy vốn có tật ở miệng, thuở trước làm tiểu lại châu quận đã là cùng cực. May mắn gặp được minh quân, được bệ hạ đề bạt vào các, bái tướng, thống lĩnh lục bộ nhị thập tứ ti, thi triển sở trường, ngài đã sớm mãn nguyện. Với bệ hạ chỉ có cảm kích kính ngưỡng, tuyệt không nửa phần oán giận.”
Nữ hoàng động dung, khẽ thở dài: “Đường Nghĩa Phương miệng vụng mà tâm nhạy, trẫm chưa từng nhìn lầm người. Thế nào, ngươi muốn khuyên trẫm thu hồi thành mệnh?”
Lư Hội vội nói: “Quân vô hí ngôn, vi thần nào dám. Huống hồ vi thần đã nghĩ thông rồi. Nay Lương Vương đang lúc tức giận, biết đâu nổi nóng lên mà đánh Đường tướng công một trận cũng chưa chừng. Đường tướng công đâu đánh lại Lương Vương, chỉ có thể chịu đòn. Vẫn là bệ hạ nhìn xa trông rộng, cho Đường tướng công ra ngoài tránh đầu sóng ngọn gió cũng tốt.”
Nữ hoàng bật cười, khép sách lại ngồi dậy: “Ngươi đó, miệng lưỡi càng ngày càng lanh lợi. Ngươi nói tốt thay người ta như thế, Đường Nghĩa Phương có biết không?”
Lư Hội thản nhiên: “Cần gì để người ta biết, chỉ cần bệ hạ biết là được rồi.”
Nữ hoàng vừa bực vừa buồn cười, bất đắc dĩ thở dài: “Đúng là đứa trẻ ngốc. Thôi, bị ngươi đông kéo tây nói một hồi, trẫm lại thấy tinh thần hơn mấy phần. Gọi người vào thay y phục cho trẫm, nhân lúc Lưu tướng còn chưa đến thì dùng chút canh cháo.”
Lư Hội đỡ Nữ hoàng đứng dậy xỏ giày, miệng lải nhải: “Bệ hạ còn chưa dùng điểm tâm sao? Bảo sao Cù đại giám sáng sớm đã mặt mày ủ rũ. Nay biết bệ hạ có khẩu vị, đại giám khỏi phải chau mày nữa. Lưu tướng hôm nay không cáo bệnh ư? Lại vào cung rồi.”
Nữ hoàng đáp: “‘Lại’ cái gì, ông ta đến xin cáo lão đó. Lần này, trẫm không thể không chuẩn tấu.”
“Cái gì? Lưu tướng muốn cáo lão?” Lư Hội sững sờ. Trong lòng cô, Lão Lưu đại nhân dẫu luôn cáo bệnh, nhưng cũng luôn là cột trụ chống trời nơi Chính Sự Đường.
Nữ hoàng không khỏi thương cảm: “Đường Nghĩa Phương dù sao còn trẻ, tùy thời có thể gọi về. Lưu tướng thì thực sự đã già. Trẫm cùng ông ta tri giao nửa đời, không thể để ông ta mất trên chức vị. Than ôi, lần này biệt ly, quân thần chúng ta e rằng không còn ngày gặp lại.”
Nữ hoàng tuy nói lời thương cảm, nhưng cảnh quân thần từ biệt lại khá vui vẻ.
“Sau khi về quê, lão thần định thu một hai đệ tử, khai khẩn ba bốn mẫu vườn, trồng năm sáu loại rau quả, lại gọi bảy tám chín vị lão hữu, ngày ngày nấu trà trồng rau, ấy mới là niềm vui lớn nhất đời người.” Nói đến những ngày sau khi trí sĩ, Lão Lưu Ngữ quả thực mày bay sắc múa.
Nữ hoàng cười mắng: “Trẫm không nên đáp ứng cho ngươi trí sĩ mới phải! Làm tể tướng thì ủ rũ không sức, về quê tiêu dao lại tinh thần hăng hái lắm phải không?”
Lưu Ngữ tự giễu: “Bệ hạ minh giám, lão thần từ năm bốn tuổi khai mông đến nay, chưa từng thanh nhàn một ngày. Nay chỉ muốn thả lỏng bộ xương già này, hái cúc dưới hàng rào đông, ung dung ngắm núi Nam.”
Nữ hoàng thở dài: “Trang Hoài Trinh nay ngày ngày ngoài ruộng xử án, bận rộn vui không kể xiết; Đường Nghĩa Phương cũng sắp đi đồn điền thú biên. Nay đến cả ngươi cũng cáo lão quy ẩn, bên cạnh trẫm chẳng còn ai nữa. Xin lão tướng công tiến cử hiền tài, để triều đường thêm sung túc.”
Lưu Ngữ từ trong ngực lấy ra một phong tín tiên, trao cho Lư Hội: “Được bệ hạ tín nhiệm, trên này có hơn mười người đều là năng thần có chính tích nổi bật. Trong đó sáu vị là minh kinh tiến sĩ do ân khoa của bệ hạ, số còn lại cũng là hàn môn sĩ tử được bệ hạ chế cử đề bạt. Ai nấy đều trung tâm khả khen, bệ hạ tùy ý dùng.”
Ánh mắt Nữ hoàng lướt qua từng cái tên trên tín tiên, lộ vẻ hài lòng: “Ái khanh lão thành mưu quốc, rất hợp lòng trẫm.”
–
Liên tiếp tiễn hai vị trọng thần, lòng Lư Hội trĩu nặng. Tan chức xuất cung, cô theo ước hẹn đến cô thuyền giữa hồ dự tiệc, nào ngờ lại thêm một tiếng sét giữa trời quang.
“Cái gì? Tỷ muốn về Giang Nam thành thân?” Cô kinh hãi, “Chẳng phải cha gia mẫu định làm hôn lễ cho tỷ ở Thần Đô sao?”
Dư Xảo Nương khẽ thở dài: “Phải, vốn là vậy. Nhà họ Tần đã ở Thần Đô mua trạch viện, nô bộc, gia tư, không biết hao bao nhiêu ngân lượng, vất vả lắm mới sắm sửa xong, nào ngờ cha gia mẫu đột nhiên đổi ý. May mà Tần lang lòng dạ rộng rãi, không để tâm, bằng không ta thật áy náy.”
Lư Hội hoa mắt chóng mặt: “Ta không hỏi chuyện ấy, ta hỏi vì sao trưởng bối nhà tỷ đổi ý?”
“Không chỉ Xảo Nương rời đi, ta và Hòa Vi cũng định rời Thần Đô.” Lâm Mạt Tử buồn bực uống hết chén này đến chén khác, “Tổ phụ ta thân thể không tốt, ta phải về. Ước chừng tháng sau khởi hành, còn Hòa Vi cùng Phàn phu tử thì hạ tuần này đã đi.”
Lư Hội chỉ thấy đầu óc căng phồng: “Cái, cái gì! Các tỷ từng người từng người, sao đều muốn đi cả vậy!”
Vương Hòa Vi thần sắc u uất: “Gần đây ân sư đêm mộng thấy mẫu thân đã mất, quyết ý hồi hương tu sửa phần mộ. Ta là đệ tử quan môn của ân sư, có việc đệ tử phục kỳ lao, tất nhiên phải theo, đó là lý do nói với bên ngoài. Thực ra…”
“Thực ra sao? Tỷ mau nói!” Lư Hội sốt ruột.
Vương Hòa Vi nhìn quanh bốn phía, chỉ thấy bốn bề toàn nước hồ, hạ thấp giọng:
“Thực ra ta cũng không rõ lắm, chỉ biết mẫu thân đã mất của ân sư, tức Ban Đình Vân đại học sĩ quá cố, trước khi qua đời từng để lại lời, bệ hạ ắt không dễ dàng lập trữ, một khi lập trữ, ân sư phải lập tức rời xa Thần Đô, cho đến khi tân quân đăng cơ.”
Dư Xảo Nương ngơ ngác: “Ý là sao?”
Lâm Mạt Tử khoác vai nàng: “Cô đừng hỏi nữa, thực ra ta cũng không hiểu. Hòa Vi đã nói cả chuyện cơ mật thế này, cô chớ kể lại với cha mẹ.”
Vương Hòa Vi mỉm cười: “Điều ấy ta không lo. Đại nhân nhà họ Dư đổi ý, muốn về Giang Nam làm hôn sự, đủ thấy cũng là người thông thấu.”
Nàng quay sang, nghiêm mặt: “Hội Hội, muội thông tuệ khoáng đạt, phúc vận hơn người, nhưng ta vẫn muốn nhiều lời một câu…”
Nàng nhìn ra ngoài thuyền, ánh chiều tà nhuộm mặt hồ thành một mảng đỏ vàng tráng lệ.
“Mãnh thú xưng hùng nơi sơn lâm, thương ưng lượn giữa chín tầng trời, nhưng có những việc, lại là cóc nhái, thanh linh, chu nương những sinh linh nhỏ bé ấy phát giác sớm hơn.”
Lư Hội không hiểu: “Phát giác việc gì?”
“Trận mưa lớn sắp đến.”
–
Lư Hội kịp về tới Bùi phủ trước giờ giới nghiêm. Lòng rối như tơ vò, cô trằn trọc không ngủ được, bèn lẻn vào thư phòng.
Bùi Thứ Chi đang chong đèn đọc sách, liếc cô một cái thật nhanh rồi tiếp tục xem.
Lư Hội khẽ ho hai tiếng, dò hỏi: “Chàng biết chưa? Đường tướng công sắp bị điều ra ngoài rồi.”
Bùi Thứ Chi không ngẩng đầu.
Lư Hội: “Bệ hạ cũng đã chuẩn cho Lưu lão đại nhân cáo lão.”
Bùi Thứ Chi vẫn chẳng đáp.
Lư Hội bất lực, đành lẩm bẩm một mình: “Còn Xảo Nương, Hòa Vi, Mạt Tử, đều sắp rời Đông Đô. Ta thật không hiểu, chẳng qua lập một vị thái tử thôi mà? Những người này làm sao vậy, cáo lão thì cáo lão, tu mộ thì tu mộ, thành thân thì thành thân, từng người từng người như thể đang chạy trốn.”
“Nhất là Lưu lão tướng công, khuyên bệ hạ lập thái tử không biết lải nhải bao nhiêu năm. Nay bệ hạ khó lắm mới gật đầu, ông lại chuồn mất, đến đại điển lập trữ cũng chẳng đợi.”
“Sinh tử đến đi, vốn là thường tình nhân gian.” Bùi Thứ Chi nhón lấy một cây ngân châm, ngón tay trắng nõn thon dài hơi dùng lực, thử châm lên miếng gỗ mềm vẽ kinh mạch huyệt đạo.
Lư Hội quay đầu: “Chàng rốt cuộc cũng chịu nói chuyện với ta rồi sao?”
Bùi Thứ Chi mặt lạnh, tiếp tục châm kim: “Hừ.”
Lư Hội sờ sờ mũi, ánh mắt chuyển sang tượng Khổ Nạn Phật ở một góc phòng, chỉ xuống phía dưới hỏi: “Trong nhà người ta thờ Phật, hoặc đặt một lư hương, hoặc ba lư. Vì sao chàng không nhiều không ít, lại bày đúng bốn lư hương?”
Bùi Thứ Chi mặt lạnh như ngọc: “Hừ.”
Lư Hội tiếp tục cười lấy lòng: “Bệ hạ nói đợi Lương Vương nguôi giận sẽ triệu Đường tướng công hồi kinh. Chàng thấy phải bao lâu?”
Bùi Thứ Chi xoay người, cố ý quay mặt đi: “Liên quan gì đến ta.”
Lư Hội chống nạnh, ngay tại chỗ đe dọa: “Ta đâu cố ý trêu chọc hay lừa gạt chàng. Dẫu ban đầu chỉ định một đoạn tương hảo, ta với chàng cũng là thật tâm thật ý. Chàng còn thế này nữa, ta sẽ theo Mạt Tử xuống Tuyền Châu! Ta còn chưa từng thấy biển đâu, tiện thể xem trai đất Mân Việt có tuấn tú hay không!”
“Ngàng dám!” Bùi Thứ Chi “bốp” một tiếng đập cây ngân châm xuống bàn.
Lư Hội cũng nổi giận: “Chàng xem ta có dám không!” Nói rồi quay người lao ra cửa.
“Trở lại đây!” Bùi Thứ Chi một bước sải tới, tay trái nắm chặt cổ tay cô, tay phải siết ngang eo, cánh tay hơi dùng lực đã kéo người trở về.
Giữa lúc lảo đảo, trán Lư Hội đập vào ngực chàng, trước mắt lóe sao, mà chàng vẫn nắm chặt cổ tay cô không buông.
Hai người mắt to trừng mắt nhỏ giằng co hồi lâu, cuối cùng kẻ trong lòng có chút hổ thẹn lên tiếng trước.
Lư Hội nhẫn nại: “Chàng giảng chút đạo lý đi. Ta thực không cố ý lừa chàng, ta thật sự tưởng rằng hai ta nghĩ cùng một chỗ, ai ngờ sai đến thế. Ta đã nhận lỗi, lời hay nói không biết bao nhiêu, chàng cũng nên hết giận rồi.”
Bùi Thứ Chi xách cô đến ngồi xuống ghế dài dưới cửa sổ, còn cô bị ấn ngồi lên chiếc đôn tròn thấp thấp trước mặt chàng. “Được, vậy ta giảng đạo lý. Nàng cho rằng ta đang giận điều gì?”
Lư Hội ngồi thẳng người: “Giận ta hiểu lầm tâm ý của chàng…?”
Bùi Thứ Chi cười lạnh: “Ở trong cung mấy ngày, ngược lại học được cách tránh nặng tìm nhẹ, ta chỉ giận vì hiểu lầm thôi sao?”
Lư Hội: “Thì là hiểu lầm mà, còn gì nữa!”
Giọng chàng nguy hiểm hẳn lên: “Vậy ra ban đầu nàng chỉ muốn một đoạn tình duyên sương sớm, chưa từng định cùng ta dài lâu?”
Ánh mắt chàng như kết sương, Lư Hội vội vàng nói: “Dẫu là sương sớm, cũng là sương sớm thật tâm thật ý, không phải giả tình giả ý! Ta đối với đoạn tình này là nghiêm túc, chàng phải tin ta!”
Bùi Thứ Chi hỏi gọn ghẽ: “Nàng định nghiêm túc bao lâu? Mười ngày? Nửa tháng? Vài năm? Hay báo xong ân nghĩa liền phủi tay ra đi, trở về Sa Châu làm nữ thương nhân phong lưu tiêu sái?”
Lư Hội á khẩu , cô quả thực đã tính như thế. Người này quá nhạy bén rồi, lần sau tốt nhất nên tìm kẻ ngốc một chút.
Ơ… cô còn có lần sau sao?
Bùi Thứ Chi đập mạnh xuống bàn: “Đám đăng đồ tử kia cũng nói mỗi đoạn sương sớm đều là chân tâm, nàng khác gì chúng! Thật là kẻ bạc tình, thấy khác liền đổi dạ!”
Chàng thực sự nổi giận, cổ thon dài hơi ửng đỏ.
Lư Hội vừa xấu hổ vừa không phục, nhịn không được cãi lại: “Không thể nói vậy được. Đều là chuyện ngươi tình ta nguyện. Dẫu chỉ tương hảo mấy tháng rồi chia tay, chàng cũng đâu tổn thất gì. Chàng chỉ cần xuất… thân mà thôi…”
Cô cắn mạnh đầu lưỡi, nuốt nốt nửa câu sau xuống.
Bùi Thứ Chi tinh nhạy đến mức nào, chỉ nghe vậy cũng đoán ra. Chàng nhìn cô một lúc: “…… Lời ấy ai nói với nàng?”
Lư Hội chột dạ: “Cái gì mà ai nói, chẳng ai nói cả.” Cô tuyệt đối không bán đứng Y Lam.
Trong lòng chàng tính toán chốc lát, lạnh giọng: “Là ả Hồ nữ dạy nàng chứ gì.”
Lư Hội ngẩng đầu: “Chàng đừng đoán bừa, là ta tự nghĩ.”
Bùi Thứ Chi nghiến răng: “Ta biết ngay không thiếu phần của ả Hồ nữ!” Chàng giật sợi dây đỏ dưới cổ, tháo bùa hộ thân ném về phía cô, “Trả nàng! Cất cho kỹ, khỏi để Y Lam tâm can của nàng không vui!”
Lư Hội lặng lẽ đeo lại bùa còn ấm lên cổ. Thấy không thể chối cãi, cô mềm giọng: “Chàng đừng trách Y Lam. Nếu không có tỷ ấy cổ vũ, ta sớm đã rút lui rồi, đâu dám dày mặt quấn lấy chàng lâu như vậy…”
“Không được nói mình như thế!” Bùi Thứ Chi bật thốt.
Lư Hội ngạc nhiên nhìn chàng.
Trong lòng chàng trăm mối ngổn ngang, tâm tư rối như tơ vò.
Nhìn đôi mắt trong veo của cô, chàng thở dài, kéo cô ngồi xuống bên cạnh mình: “Thực ra ta đã không còn giận nữa. Điều khiến ta bực hơn là những việc sau đó của nàng.”
Lư Hội ngẩng đầu: “Ta lại làm gì?” Mấy ngày nay hai người chiến tranh lạnh, cô đâu có làm gì.
Bùi Thứ Chi nghiến răng: “Miệng thì nói hay, bảo muốn cùng ta làm hòa. Thế mà hôm kia vẫn về huyện Dương? Khó lắm mới có ba ngày nghỉ, không thể ở lại thêm bên ta sao?”
Vốn dĩ chàng đã định lùi một bước cho trời biển rộng rãi, nào ngờ đến ngày nghỉ cô như chim sổ lồng, vỗ cánh bay đi hớn hở, bỏ lại mình chàng trơ trọi trong Lộc Dã Đường mà nghiến răng.
Lư Hội vội biện bạch: “Ta với chàng ngày ngày sớm tối bên nhau, mỗi tháng chỉ có ba ngày nghỉ được về thăm cha gia mẫu. Nếu ta không về, chẳng phải quá bất hiếu sao? Huống hồ chuyện giữa ta với chàng cũng không thể giấu mãi cha mẹ.”
Trong lòng Bùi Thứ Chi chợt vui: “Nàng đã nói chuyện chúng ta với lệnh tôn lệnh đường rồi?” Như thế còn tạm được.
Sắc mặt Lư Hội cứng đờ.
Bùi Thứ Chi tức đến bật cười: “Hóa ra nàng chưa nói!” Chàng đẩy cô ra, quay lưng lại.
Lư Hội lắp bắp giải thích: “Ta vốn định nói rồi, nào ngờ Khang lão bá đột nhiên bệnh nặng, cha mẹ dẫn ta đi thăm, ba ngày thì hai ngày ở lại nhà họ Khang. Cả nhà người ta u ám thảm đạm, ta sao tiện mở miệng.”
Cô bám vào tay vịn ghế: “Lần nghỉ tới về nhà, ta nhất định nói chuyện chúng ta cho cha mẹ biết. Nếu không nói, thì để ta…”
Bùi Thứ Chi lập tức đưa tay bịt miệng cô, một tay kéo cả người cô ngồi lên đầu gối mình, thần sắc nghiêm túc: “Ta đã nói với nàng bao lần rồi? Không được tùy tiện phát thệ. Lần này không nói thì lần sau nói, không đáng để thề thốt. Nhớ kỹ chưa?”
“Nhớ rồi.” Lư Hội ngoan ngoãn gật đầu, “a ô” một tiếng giả vờ cắn ngón tay chàng.
Bùi Thứ Chi khẽ cười, trở tay véo má tròn của cô.
Lư Hội hỏi: “Chàng không giận ta nữa chứ?”
Bùi Thứ Chi cười khổ: “Cũng gần hết rồi, còn lại một hai phần u uất. Sau này nàng bớt chọc ta vài lần, chuyện này coi như xong.”
Lư Hội vốn muốn cãi lại “ta có chọc chàng nhiều đâu”, nhưng nhớ mình đang trong thời kỳ “xem xét biểu hiện”, liền ngoan ngoãn gật đầu.
Thấy cô thần sắc vẫn thấp thỏm, chàng lại mềm lòng, khẽ thở dài: “Nàng đâu có dày mặt, cũng chẳng phải quấn quýt làm phiền ta, sau này đừng nói mình như vậy. Ta cũng có chỗ sai, nghĩ ngợi quá nhiều, chậm chạp không cho nàng câu trả lời, khiến nàng sinh lòng ngờ vực.”
Bị coi là đối tượng tình sương sớm, quả là trải nghiệm chưa từng có trong đời. Vốn dĩ chàng muốn dạy cho Lư Hội một bài học ra trò, nhưng lại không nỡ nặng tay, đến lời nặng cũng chẳng đành thốt ra.
Biết làm sao được, tự mình điều chỉnh vậy.
Dẫu Lư Hội có chậm hiểu đến đâu, cũng nhận ra tấm lòng tinh tế mềm mại ấy.
Trong đoạn duyên tình gà bay chó sủa, hiểu lầm chồng chất này, người dụng tâm ngay thẳng trước sau vẫn là Bùi Thứ Chi. Một khi đã hứa với nàng, chàng liền đem hết tâm ý của mình ra, nghiêm túc tính toán hôn sự, lo liệu tương lai cho hai người.
Kẻ lòng dạ bất chính, trái lại chính là cô.
Lư Hội ôm lấy cánh tay chàng, má cọ lên lớp thêu tinh xảo nơi tay áo, như chạm vào ánh trăng mát lạnh.
Cô khẽ nói: “Ngay cả Y Lam cũng biết chúng ta môn đăng hộ đối không xứng, khó mà thành hôn, ta nào dám nghĩ xa. Thôi thôi, ta còn chê quy củ của cao môn Đông Đô quá nhiều, không bằng Sa Châu tự tại.”
Ánh mắt thoáng ý mỉa mai của chàng chợt thu lại.
Lư Hội cúi đầu nói tiếp: “Ta đã sớm quyết rồi, khi còn ở bên nhau, ta sẽ đối tốt với chàng. Đợi mai sau ta già lắm già lắm rồi, cũng không thấy tiếc nuối.”
Trong lòng Bùi Thứ Chi khẽ rung động, chăm chú nhìn cô: “Nhiều năm sau, nếu ta tái giá người khác, quên nàng sạch sẽ, cũng không sao ư?”
Thần sắc Lư Hội nghiêm túc: “Chàng quên ta không sao, chỉ cần ta nhớ chàng là được. Dẫu mai này cách nhau chân trời góc bể, ta cũng sẽ rất nhớ rất nhớ chàng, mãi đặt chàng trong lòng. Ta nghĩ, ta sẽ không gặp được người nào khiến ta thích hơn nữa.”
Bùi Thứ Chi hiểu rõ tính tình nàng, biết từng lời nàng nói đều phát tự đáy lòng, thuần nhiên không giả.
Nghĩ đến việc nàng định dùng mấy tháng ngọt ngào ngắn ngủi để chống chọi cả quãng đời cô tịch phía sau, lòng chàng mềm nhũn thành một khối, ôm nàng thật chặt như ôm lấy bảo vật cả đời mình.
“Thôi vậy thôi vậy, một hai phần u uất còn lại cũng tan rồi. May mà ta sớm có cách, không để hai ta lỡ duyên. Bằng không, chẳng phải nàng sẽ cô tịch nửa đời sao.”
Bị ôm chặt trong lòng chàng, đầu Lư Hội tựa trước ngực chàng, lại đầy thắc mắc: cô vì sao phải cô tịch nửa đời?
Dẫu có tách khỏi Bùi Thứ Chi, cô còn cha mẹ, đệ muội, Y Lam cùng biết bao bằng hữu bên mình; dẫu không như Y Lam tiêu dao giữa nhân gian, với vận đào hoa của cô, ngày sau cũng chẳng thiếu người bầu bạn.
Tháng đầu vào cung, riêng việc chạy chân ở Đông Quán Thư Các bảy lần, cô đã nhận mười sáu phong hoa tiên. Về sau Bùi Thứ Chi tung ra lời đồn đầy uy hiếp, mới dẹp được luồng tà phong ấy.
Y Lam từng nói, nếu không có A Ô Nhĩ từ nhỏ như con sói canh cửa trước nhà họ Lư, gỗ tử dương ở Sa Châu e đã bị Lư Hội bứt trụi quá nửa.
Lư Hội ngẩng đầu nhìn Bùi Thứ Chi, trong lòng nghi hoặc, chàng lại hiểu lầm chăng? Cô có khi nào nói tương lai sẽ đoạn tình tuyệt ái đâu.
Có nên nói rõ không? Nhưng lúc này chàng đang cảm động như thế, cô cũng không nỡ phá vỡ bầu không khí.
Bùi Thứ Chi mắt mày chứa tình, làn da trắng nõn hơi ửng hồng: “Ngốc nghếch thế, nhìn ta làm gì?”
Lư Hội cười lấy lòng: “Ta nghe nói chàng chưa dùng bữa tối, ta bảo nhà bếp nấu Trường Sinh chúc rồi, chàng dùng một ít đi.”
Nụ cười nơi khóe môi chàng càng đậm, ánh mắt đầy trìu mến: “Mấy ngày nay chỉ lo giận dỗi, ta thấy nàng cũng chẳng ăn được bao nhiêu. Hay là cùng dùng một chút.”
Lư Hội há miệng: “…… Được, được thôi. Chàng ngồi đó, ta tự tay đi bưng cháo.”
Chưa đợi chàng đáp, cô đã vội vàng chạy ra khỏi thư phòng.
Thực ra tối nay cô vừa giận vừa đói, một hơi ăn liền ba bát cơm, giờ còn hơi no căng. May mà Bùi thất công tử không có thói quen kiểm kê phòng bếp, bằng không thật xấu hổ.
Thư phòng vừa khép cửa, bên cạnh khung cửa đã thò ra một cái đầu tươi cười hòa nhã.
“Thiếu tướng?”
Bùi Thứ Chi lúc này thực chẳng muốn gặp Lão Tống, song vẫn đáp: “Tiên sinh vào đi.”
Lão Tống xếp tay áo, thong thả bước vào: “Đêm ở Vô Danh Sơn Trang ấy, thiếu tướng giận dữ không thôi, giậm chân hậm hực, miệng nói quyết không thể dễ dàng tha cho Hội nương. Không biết nay tiến triển thế nào rồi?”
Mặt Bùi Thứ Chi nghiêm lại: “Chẳng thế nào cả.”
Lão Tống hạ giọng: “Vậy là làm hòa rồi?”
Bùi Thứ Chi thở dài: “Chứ còn có thể thế nào.”
Lão Tống khá bất ngờ: “Thật sự cứ thế bỏ qua?”
Bùi Thứ Chi đặt vật trong tay xuống, bất đắc dĩ nói: “Hội Hội không phải cố ý, đều tại ả Hồ nữ kia! Khi còn ở thương đội ta đã nhìn ra cô ta chơi bời nhân gian, trêu hoa ghẹo nguyệt, lời nói hành động hoang đường, đều là cô ta dạy hư Hội Hội.”
Lão Tống: “À phải phải phải, đều là lỗi người khác, Hội nương một chút sai cũng không.”
Bùi Thứ Chi vội biện bạch: “Hội Hội bản tính thuần hậu, sau này từ từ dẫn nàng trở lại chính đạo là được. Tiên sinh không thấy sao, vừa rồi nàng vội vàng ra ngoài lo canh khuya, chẳng phải là vì quan tâm ta sao.”
“Thật vậy ư? Lão phu thấy không giống lắm.” Lão Tống nghi hoặc liếc ra cửa.
Bùi Thứ Chi lập tức tung chiêu chặn miệng: “Tình yêu nam nữ, diệu ở chỗ sâu kín tinh tế , không thể nói ra, chỉ có thể ngộ. Tiên sinh cô quả nửa đời, loại thâm tình hậu ý này sao hiểu được!”
Lão Tống: “…”
Ta hảo tâm khai giải cho ngài, ngài cớ sao lại tổn thương ta.
–
“Chan đầy cháo, còn bánh trái tươi mới với mấy món ăn kèm cũng lấy thêm vài thứ.”
Lư Hội đứng trong gian bếp rộng sáng trưng ánh đèn, tay nâng một chiếc khay sơn vẽ hoa hải đường lớn.
Đàm Tử Liệt vui mừng ra mặt: “Gần đây công tử ăn uống giảm hẳn, ta lo lắm, còn tính có nên gửi thư về nhà hay không. May mà Hội nương tử rộng lượng, biết sai liền sửa, thật là điều thiện lớn vậy.” Tạ trời tạ đất, khỏi phải giải thích với phụ thân Đàm lão quản sự.
Lư Hội trợn trắng mắt: “Gửi thư? Là mách tội thì có.” Chưa làm dâu nhà họ Bùi, tiếng “không hiền” đã truyền về Hà Đông rồi.
Tử Liệt cười ngốc hai tiếng.
Nữ đầu bếp vốn thân thiết với cô, ghé lại khẽ hỏi: “Nương tử tối nay dùng bữa không ít, canh khuya còn ăn nổi chăng?”
Lư Hội méo mặt: “Ta cố vậy.”
–
Lão Tống khêu sáng đèn, hạ giọng nói: “Lưu tướng cáo lão, Phàn quán chủ hồi hương tu mộ, mấy vị cao quan Đông Đô tự xin ngoại điều. Lòng người đã dao động rồi!”
Bùi Thứ Chi nhếch môi: “Xem ra trên đời không thiếu kẻ mắt sáng tâm minh, biết mưa gió sắp đến.”
“Vậy chúng ta…?”
“Kế hoạch không đổi. Trước tiên tiễn Chử Thừa Cẩn.”
–
Lư Hội bưng khay cháo đầy ắp đi trên hành lang dài, bỗng nghe trong thư phòng phía trước truyền ra tiếng giễu cợt.
“Bà ta còn mong sau này triệu Đường Nghĩa Phương trở lại, tiếp tục giai thoại quân thần. Hừ, bà ta đợi không đến ngày ấy đâu.”
Giọng nói không nhanh không chậm, khinh mạn lạnh nhạt, ẩn một sự ác ý không thể xem thường.
Lư Hội dừng bước, toàn thân cứng đờ.
Tác giả có lời muốn nói:
Qua năm mới rồi, ước một điều vậy. Mong lần này có thể một mạch hoàn thành cho trọn vẹn.
