Chương 40: Chân tướng (Thượng)
*
Năm thứ mười sáu niên hiệu Phượng Lâm mở đầu bằng một sắc thái vô cùng ảm đạm, tựa như một trang sách cũ bị vò nhàu, ai nấy đều đã đọc qua trang này, chỉ mong sớm lật sang trang khác.
Tết Nguyên Đán trôi qua lạnh lẽo tiêu điều, hứng thú đều tiêu tán. Lương vương mất vào cuối tháng mười một, Nữ hoàng lại bệnh lâu không khỏi, trong Thần Đô từ nhà cao cửa rộng đến dân gian phố chợ, không một ai dám ăn mừng rình rang.
Khi ấy Lư Hội còn tưởng qua xuân sẽ khá hơn, nào ngờ đây chỉ mới là khởi đầu. Mùng mười tháng Giêng, tin tang của Lưu Ngữ truyền đến, Nữ hoàng đại bi, bãi bỏ hội đèn Nguyên Tiêu, đình triều ba ngày, truy phong làm Hữu tướng Văn Xương, ban thụy hiệu Văn Trung, sai Trung Thư Lệnh Bùi Thứ Chi đích thân đến tế viếng.
Ngày mười chín tháng Giêng, Thẩm Khâm qua đời, Nữ hoàng truy phong làm Đại học sĩ điện Phượng Nghi, ban thụy hiệu Nhân Bác.
Mùng hai tháng Hai, Đường Nghĩa Phương dẫn binh truy kích đạo phỉ thì trúng tên lén, không chữa khỏi mà chết, hy sinh nơi chức vụ khi còn tráng niên. Nữ hoàng nghe tin đau đớn hối hận, nôn ra máu, truy phong làm Đô đốc U Châu, ban thụy hiệu Văn Trinh.
Mùng bảy tháng Hai, Nữ hoàng bổ nhiệm Ngũ lang Kim Dật Nhiên làm Nội cung phụng; bổ nhiệm Lục lang Kim Tử Nhạc làm Hữu Tán Kỵ Thường Thị, Ngân Thanh Quang Lộc Đại Phu.
Ngày mười hai tháng Ba, Nữ hoàng lại cất nhắc anh em Kim thị: Ngũ lang gia phong Hằng Quốc Công, thăng làm Lân Đài Giám; Lục lang gia phong Nghiệp Quốc Công, bái làm Xuân Quan Thị Lang, kiêm Bí Thư Giám.
Tháng Tư, Nữ hoàng hạ chỉ thu vạn kim, xây dựng chùa Thất Bảo và tháp Thông Thiên, truy phong phụ thân đã mất của anh em Kim thị làm Thứ sử Tương Châu, mẫu thân Tang thị làm Thái phu nhân.
Giữa tháng Năm, Nữ hoàng lại lâm bệnh, giao quyền giám quốc cho anh em Kim thị.
…
Khi Lư Hội chấm nét bút cuối cùng, Thần Đô đang độ xuân ấm hoa nở, trời quang nắng đẹp. Ánh chiều cuối tháng Năm như tấm lụa vàng buông xuống, mây đỏ nhuộm trời, cửu trùng cung khuyết đắm mình trong ánh hoàng hôn, toàn thân lưu chuyển thứ ánh sáng ấm áp óng ánh.
Nhưng bước vào tẩm điện của Nữ hoàng lại là một cảnh tượng khác, nơi đây tựa như di tích mục nát chìm sâu dưới đáy biển, âm lãnh u ám, chỉ có vàng ngọc lưu ly dưới ánh đèn nến hắt lên thứ quang mang u u tối tối.
Lư Hội nâng chén thuốc bước tới bên ngự tháp, nhìn Nữ hoàng đang cau mày ngủ say, đang định lui ra.
“… Hội nương?”
“Bệ hạ tỉnh rồi.”
Cô bước lạch bạch đến bên tháp, động tác nhẹ nhàng đỡ Nữ hoàng ngồi tựa dậy.
Thần sắc Nữ hoàng mệt mỏi xen lẫn một nỗi mê mang hiếm thấy. Gương mặt không son phấn trông già nua hẳn đi, gần như chẳng khác gì một lão phụ tám mươi tuổi nơi dân gian. Lư Hội đỡ Nữ hoàng uống nửa chén nước ấm, còn để ý thấy mu bàn tay bà đầy những đốm ban.
Nữ hoàng chậm rãi thở ra một hơi: “Có việc gì quan trọng không?”
Lư Hội bưng chậu nước nóng lại, cười đáp: “Không biết có quan trọng hay không, Thái tử phi và Quận vương phi đã tới một chuyến, nói muốn thỉnh bệ hạ định ngày thành thân cho Kính Mỹ điện hạ và Thục Vân quận chúa.”
Khóe môi Nữ hoàng cong lên một nét châm biếm: “Quả là sốt ruột thật.”
Lư Hội cẩn thận quan sát sắc mặt bà: “À, Thái tử phi còn nói, mấy vị hoàng tôn khác cũng đã lớn, xin bệ hạ lo chuyện hôn phối cho họ. Quận vương phi cũng nói, nhà họ Chử còn vài tiểu nương tử đến tuổi, cũng cần bệ hạ định đoạt.”
“Vớ được một Kính Mỹ còn chưa đủ, hừ, lòng tham không đáy.” Nữ hoàng cười lạnh, “Chúng tưởng trẫm là Lữ hậu sao.”
Lư Hội không dám tiếp lời, cúi đầu thả khăn vào chậu nước nóng.
Nữ hoàng dứt khoát nói: “Bảo họ, hôn sự của Kính Thiện do Thái tử phi quyết định, hôn sự của Kính Nguyên và Kính Tuyên do Lạc Xuyên Vương quyết… Vĩnh Ninh công chúa phụ giúp cân nhắc. Còn mấy tiểu nương tử nhà họ Chử thì tự tìm cha mẹ mình đi.”
Lư Hội có chút ngạc nhiên: “Bệ hạ không quản nữa ạ?”
“Không quản nữa.” Nữ hoàng lắc đầu, “Lòng dạ đàn ông cứng rắn lắm, thật muốn làm gì thì vợ cũng không cản nổi.”
Lư Hội vô cùng tán thành, lớn tiếng: “Bệ hạ anh minh!”
Nữ hoàng chậm rãi nhắm mắt lại, qua hồi lâu mới như mê ngủ mà nói: “Hội nương, vừa rồi trẫm nằm mộng. Trẫm mơ thấy Tiên đế.”
Lư Hội góp chuyện: “Bệ hạ cùng Tiên đế phu thê mấy chục năm, hẳn là một giấc mộng đẹp.”
Nữ hoàng nằm ngửa, để thiếu nữ dùng khăn ấm ẩm đắp lên mặt và tay mình, thở ra một tiếng thoải mái: “Coi như là mộng đẹp đi. Tiên đế chẳng nói gì, chỉ đứng xa xa nhìn trẫm. Hội nương, ngươi nói xem, có phải Tiên đế đang giục trẫm đến gặp ngài không?”
Lư Hội giật mình kinh hãi: “Bệ hạ, nào có cách giải mộng như vậy! Phụ thân thần cũng thỉnh thoảng mơ thấy tổ phụ đã mất, lẽ nào…”
“Cha con sao có thể giống phu thê.” Nữ hoàng phẩy tay, ánh mắt xa xăm không rõ nhìn về đâu, “Trẫm còn mơ thấy ngày đầu gặp lại Tiên đế.”
“Mùa đông trong chùa thật lạnh, nước nhỏ xuống liền đóng băng, lúc giặt giũ quần áo, ngón tay tê cứng không còn cảm giác. Nứt da vì rét đau ngứa không chịu nổi, đêm nằm trong chăn khóc thầm, nghĩ nếu cha mẹ biết được chắc sẽ đau lòng biết bao. Những ngày tháng ấy dường như không có hồi kết, trẫm đầy lòng sợ hãi, sợ rằng mình cũng sẽ giống những lão phụ kia, như tượng đất tượng gỗ mà sống hết quãng đời còn lại. Những năm đó, trẫm không biết đã bao lần cầu khẩn thần Phật, trời cao, chỉ cần ai cứu trẫm thoát khỏi bể khổ này, trẫm nhất định lấy thân báo đáp.”
“Sau đó Tiên đế đến, ngài cứu trẫm, đưa trẫm về cung. Vì vậy trẫm hạ quyết tâm, nhất định phải…”
Nữ hoàng bỗng dừng lại.
Lư Hội nghe đến chăm chú, đôi mắt đen trắng phân minh đầy mong đợi và hiếu kỳ, không nhịn được tiếp lời: “Nhất định phải cùng Tiên đế đầu bạc răng long, ân ái cả đời sao?”
Nữ hoàng bật cười lớn, lắc đầu nói: “Không, trẫm đã nói với Tiên đế rằng, ‘Thần thiếp nguyện vì bệ hạ chia lo giải nạn, dốc lòng tận lực, tuyệt không từ chối.’”
“Á?” Lư Hội vô cùng bất ngờ.
Nữ hoàng mỉm cười, ngồi thẳng dậy: “Hội nương vẫn còn trẻ quá. Phải biết, muốn làm vợ chồng lâu dài, điều quan trọng nhất là ngươi phải hiểu rõ phu quân mình là người thế nào. Chàng thích gì, sợ gì, có việc gì nhất định phải làm.”
Lư Hội nửa hiểu nửa không, bắt gặp ánh mắt đầy ý khích lệ của Nữ hoàng, bất giác hỏi ra: “Ừm… Tiên đế thích gì ạ?”
“Tiên đế là người phong nhã đa tình, thích thơ ca, hội họa, âm nhạc, còn có đủ kiểu mỹ nhân. Nhưng thứ ngài thích nhất vẫn là làm hoàng đế. Dù thân thể yếu ớt, mỗi khi phát bệnh choáng váng thì đau đầu như muốn nứt ra, mắt không nhìn rõ, đừng nói đọc tấu chương, ngay cả thượng triều cũng không chống đỡ nổi, nhưng ngài vẫn muốn làm hoàng đế lâu dài, ổn định.”
“Vậy Tiên đế sợ điều gì?”
“Tiên đế đa tư đa cảm, u uất dễ buồn, trên đời này có rất nhiều thứ khiến ngài sợ. Nhưng điều ngài sợ nhất vẫn là quyền lực hoàng gia rơi vào tay kẻ khác, ngôi vị bất ổn, có người không cho ngài yên ổn làm hoàng đế.”
Lư Hội bắt đầu xoa bóp các khớp tay cho Nữ hoàng, nghe vậy bật cười: “Tiên đế là bậc cửu ngũ chí tôn, ai có thể không cho thiên tử yên ổn làm hoàng đế chứ?”
Nữ hoàng cười như thường: “Nhiều lắm, có thể là cữu phụ quyền thần nắm quyền phụ chính, cũng có thể là các vương anh em tinh minh tài giỏi, thậm chí có thể là đứa con trai trẻ trung khỏe mạnh.”
“…!” Lư Hội giật mình nhảy dựng lên, “Sao có thể được?!”
Nữ hoàng thản nhiên nói: “Có gì là không thể. Giang sơn triều Tùy đời Khai Hoàng trước kia từ đâu mà có? Chẳng phải là nhạc phụ đoạt ngôi của con rể, lại còn giết sạch cả tộc con rể máu chảy thành sông sao. Còn chuyện cha con nghi kỵ, anh em đề phòng lẫn nhau, đó là triều Lệ Tĩnh tự mình mở đầu, đâu thể trách người ngoài.”
“Bài học xưa còn rành rành đó, Tiên đế lo lắng không yên, khó lòng buông bỏ. Vì vậy trẫm mới nói với người: ‘Thiếp xuất thân hèn mọn, không gia thế, không chỗ dựa, chỉ nhờ một niệm ân tình của bệ hạ mà sống; thiếp nguyện vì bệ hạ phân ưu hiệu lực, muôn chết không từ’. Những việc Tiên đế không tiện ra tay tàn nhẫn, trẫm sẽ làm; những cục diện Tiên đế khó dọn dẹp, trẫm sẽ dọn dẹp. Ngoài kia người người chen chúc, nhưng giữa chúng ta chỉ có hai người, phu thê đồng cam cộng khổ, cùng chèo chống qua phong ba.”
Lư Hội cảm thấy một luồng lạnh buốt len vào tận xương, như mở tung một hầm ngầm âm u, nỗi lạnh lẽo ập tới.
Cô lúng túng: “Như vậy… còn tính là phu thê sao?” , nghe giống đồng mưu hơn.
Nữ hoàng cười nói: “Sao lại không tính? Trẫm và Tiên đế là đôi phu thê thân mật nhất thiên hạ, cho dù đôi lúc có tranh chấp ý khí, cũng rất nhanh làm lành. Bất luận triều đình hay hậu cung, không ai có thể chia rẽ quan hệ giữa trẫm và Tiên đế. Trên đời này còn có đôi phu thê nào đồng tâm đồng đức hơn chúng ta sao?”
Có chứ, Lư Hội thầm kêu trong lòng, có, cha mẹ cô chính là như vậy.
“Vậy… còn tình nghĩa thì sao?” cô không nhịn được hỏi.
“Tình nghĩa à, cũng có, chỉ là không bền chắc như thế thôi. Phu thê, phải trở thành người mà đối phương cần nhất.”
Nữ hoàng vỗ nhẹ mu bàn tay thiếu nữ, như đùa mà thật: “Những kẻ tự xưng phong cốt, suốt ngày can gián không thôi kia, ‘trung thần hiếu tử’ ấy, chính là không hiểu điều này. Hội nương đừng học theo lũ ngu đó, sau này khi bàn chuyện hôn phối, nhất định phải hiểu rõ mình gả cho người thế nào.”
Lư Hội há hốc miệng, như được rót một gáo nước tỉnh, ít nhất cũng tỉnh ra quá nửa.
Lời Nữ hoàng không thể nói là sai, cha mẹ cô tuy yêu nhau từ thuở thiếu thời, nhưng cũng là sau khi hiểu rõ con người của nhau mới kết làm phu thê.
Theo lý này, giữa cô và Bùi Thứ Chi thật là nguy rồi.
–
Khi Lư Hội rời khỏi tẩm cung thì đã là đêm khuya.
Cô xách theo một túi rượu da dê căng tròn cùng hai chén gốm nhỏ, kiên nhẫn đi hơn nửa canh giờ, cuối cùng tìm được Đoan Mộc Tuệ đang ngắm sao trên sân thượng thư các, nơi vắng lặng không người.
Cô cười hì hì leo lên bậc thềm: “Trăng lên sáng tỏ, người đẹp thanh tao, dáng vẻ thướt tha, khiến lòng ta xao xuyến, tôi biết ngay Đoan Mộc đại nhân ở đây mà.”
Đoan Mộc Tuệ từ ghế trúc chậm rãi ngồi dậy, khép lại áo choàng: “Trơn tru quá đấy.”
Lư Hội cười tít mắt, ngồi xuống bên cạnh, mở túi rượu: “Uống được không?”
“Được. Rượu gì vậy?”
“Rượu quê Sa Châu nhà tôi gửi tới, thử xem.”
“Xì.”
Như một tia lửa rơi xuống đầu lưỡi, không quá nóng gắt, nhưng lại có cảm giác tê rát sảng khoái. Đoan Mộc Tuệ khẽ nhăn răng, không nhịn được bật cười: “Rượu ngon, đủ lực!”
Đoan Mộc Tuệ ngẩng đầu: “Có chuyện gì vui vậy?”
Lư Hội vui vẻ đáp: “Cha mẹ tôi về rồi, tôi xin bệ hạ nghỉ, bệ hạ cho tôi nghỉ mười ngày, sáng mai tôi sẽ xuất cung.”
“Cô cũng nên nghỉ ngơi rồi, ba tháng nay hầu hạ bệ hạ không rời y phục, người gầy đi một vòng.” Thần sắc Đoan Mộc Tuệ phức tạp, “Gần đây cậu của cô bận gì, sao không thấy vào cung nữa?”
Nhắc đến chuyện này, Lư Hội có cả bụng than thở: “Đừng nhắc nữa, mấy tháng nay người bận như con quay. Đầu tiên đi tế Lưu lão tướng công, đi về mất cả tháng. Sau đó lũ xuân khẩn cấp, người phụng mệnh đi tuần đê, một đi là ba tháng. Vừa về còn chưa kịp nói được mấy câu, lại có người tố cáo Lương vương đã mất từng giấu một lượng lớn binh khí giáp trụ trong mấy trang viên. Bệ hạ không muốn truy cứu, nên giao cho cậu đi thu xếp hậu sự, đến giờ vẫn chưa về.”
Cô lấy làm lạ: “Đoan Mộc đại nhân không biết sao?”
Đoan Mộc Tuệ nhấp một ngụm rượu: “Ta sao mà biết được, đã một tháng rồi ta chưa gặp bệ hạ. Nay bệ hạ chỉ tin dùng anh em Kim thị, mọi chiếu thư, thánh chỉ đều từ hai người họ ban xuống, đã không còn dùng đến ta nữa.”
Đoan Mộc Tuệ liếc mắt nhìn thiếu nữ: “Ngoài hai Kim, các vị tướng công đều khó gặp bệ hạ một lần. Hiện giờ, cũng chỉ có cô còn có thể thường xuyên đến gần bệ hạ.”
Lư Hội nghĩ ngợi, nhấp một ngụm rượu: “Tôi có sức, vác được, khiêng được, dễ sai bảo. Cù đại giám nói, hầu hạ sinh hoạt của bệ hạ, một mình tôi bằng ba bốn cung nga. Nhưng mà…”
Cô quay đầu: “Chẳng phải là người lấy cớ thay bệ hạ tu sửa văn thư, thuận nước đẩy thuyền, cố ý xa lánh trung khu sao?”
Sắc mặt Đoan Mộc Tuệ thoáng biến đổi, rồi lại dịu xuống.
Đoan Mộc Tuệ thở dài: “Bệ hạ nói không sai, cô nhìn có vẻ vụng về, thực ra lại thấu triệt, là đại trí giả ngu.”
Bà rót đầy một chén, uống cạn một hơi: “Hội Hội, chẳng phải cô vẫn luôn nhắc rằng muốn bệ hạ đề bạt thêm nữ tử sao? Cô đến quá muộn rồi. Hơn mười năm trước, trong cung này từng có rất nhiều nữ quan, như sao vây quanh trăng, quây quần bên cạnh bệ hạ.”
“Mẫu thân của Phàn phu tử, Ban Đình Vân đại học sĩ, Thần Cơ phu nhân Khố Địch Huyền Sương, Vương Lãnh Tường tinh thông thư họa… Khi đó trong cung còn có một đội nữ tử đá cầu oai phong lẫm liệt… Sau này, họ đều rời đi. Người về quê thì về quê, người lấy chồng thì lấy chồng, chỉ còn lại ta và Ngụy Quốc phu nhân, hai kẻ cô thần.”
Bà cười khổ: “Thuở thiếu niên ta không hiểu, giờ thì đã nghĩ thông rồi. Trái phải cũng chỉ là làm thơ, vẽ tranh, phổ khúc, thông hiểu lễ điển, hoa đã nở đến tàn, giữ lại cũng vô ích. Nói cho cùng, chúng ta chẳng qua chỉ là vật tô điểm bên cạnh bệ hạ mà thôi.”
Lư Hội kinh hãi: “Đoan Mộc đại nhân sao lại nói vậy! Người tài học xuất chúng, danh chấn thiên hạ, sao có thể là vật trang trí chứ! Tôi vẫn tưởng người say mê văn chương, yêu thích thi từ ca phú…”
“Ta đúng là thích thi từ ca phú, nhưng ta càng thích sách luận và minh kinh!”
Đoan Mộc Tuệ đột ngột đứng bật dậy, một tay hất tung áo choàng: “Hơn hai mươi năm qua ta viết hàng ngàn đạo chiếu thư, vô số việc bổ nhiệm quan lại và quốc sách đều từ tay ta mà ra, vậy mà ta mãi mãi không thể đường đường chính chính ngồi ở Chính Sự Đường, như một quyền thần thực thụ mở phủ lập nha, nuôi dưỡng môn khách đệ tử, cô hiểu không?!”
“Tôi hiểu.” Lư Hội lặng lẽ nghe, “Mỗi lần các vị tướng công nghị chính trước ngự tiền, Đoan Mộc đại nhân chỉ có thể đứng hầu bên cạnh bệ hạ, không được xen lời.”
Trên khuôn mặt thanh tú của Đoan Mộc Tuệ hiện lên một tầng đỏ ửng, bà tự giễu: “Bệ hạ do dự giữa Lương vương và Thái tử suốt hơn mười năm, chưa từng cân nhắc đến Vĩnh Ninh công chúa. Vương Lãnh Tường thông hiểu pháp điển luật lệ, mà bệ hạ chỉ khen nàng đọc nhiều sách; Khố Địch phu nhân công lao vô số, phong tục Hồ nhân và quân vụ biên quan đều nắm rõ như lòng bàn tay, vậy mà cuối cùng người kế nhiệm chức Đại tổng quản An Phủ đạo lại là phu quân của học trò nàng. Người có mệnh tốt nhất là Ban đại học sĩ cũng chỉ được tham gia biên soạn điển tịch mà thôi.”
Lư Hội nghiêng đầu lắng nghe, yên lặng chờ bà trút hết men say: “… Có lẽ làm như vậy, đối với bệ hạ có lợi hơn.”
Đoan Mộc Tuệ trừng mắt nhìn cô, như cục than nóng bị dội một gáo nước lạnh: “Khẩu khí của cô càng lúc càng giống bệ hạ rồi.”
Lư Hội chậm rãi rót đầy chén rượu cho bà: “Bệ hạ đi đến hôm nay, dựa vào chính mình và vận số. Có lẽ người cho rằng, người khác muốn gì cũng nên tự mình tìm cách. Nếu có ân sủng ngoài dự liệu thì là điều tốt; nếu không có thì cũng đành chịu. Huống chi, bệ hạ cũng không bạc đãi những nữ tử rời cung.”
Đoan Mộc Tuệ khẽ hừ: “Cô nghĩ thoáng thật.”
“Không phải nghĩ thoáng, mà là sinh ly tử biệt thấy nhiều rồi, không còn dễ dàng thương xuân bi thu nữa.”
Lư Hội bước ra mép sân thượng, nhìn về phía hồ Hạnh cách đó không xa. Mặt hồ trong veo phản chiếu bầu trời đầy sao, tựa như tấm gấm xanh thẫm thêu đầy chỉ bạc, đẹp không sao tả xiết.
“Những người có học như các người ấy mà, thua một câu thơ là ghi hận mấy năm. Thần Đô quá phồn hoa, Trung Nguyên quá giàu có, đấu gà, thi mẫu đơn, đánh cầu, đua thuyền rồng… thua một hai trận cũng thành chuyện trời đất.”
“Tôi thuở nhỏ ở trên thảo trường, ban đêm nằm trên cỏ nhìn sao, nghe tiếng bò dê ngựa, biết cha mẹ anh em đều bình an khỏe mạnh, kho lương đầy ắp thóc lúa, không dịch bệnh, không thiên tai, không cướp bóc, đó đã là điều đẹp nhất thế gian, chẳng còn mong cầu gì hơn.”
Ánh mắt Đoan Mộc Tuệ mềm lại, rồi lại chọc cô một câu: “Cô bênh bệ hạ như vậy, sao lại cứ phản đối việc bệ hạ xây chùa Phật?”
Lư Hội lắc đầu: “Không giống nhau, tôi luận việc không luận người. Người tốt cũng có thể làm sai. Bệ hạ thu vạn kim để xây chùa Phật, đó là hao tài tốn sức dân. Nếu tôi im lặng không nói, chính là hùa theo điều ác. Tôi đã liên tiếp can gián ba lần, bệ hạ đều không nghe, nói rằng tự có chủ trương, vậy tôi cũng hết cách, tôi còn phải giữ mạng chứ.”
Đoan Mộc Tuệ bật cười: “Đứa nhỏ này, thật là… thôi, đưa túi rượu đây!”
Ngoài miệng bà trêu chọc, nhưng trong lòng biết rõ thiếu nữ đã mạo hiểm cực lớn, may mà lời nói có chừng mực, lại được Nữ hoàng sủng ái nên không bị truy cứu.
Lư Hội thầm nghĩ: may mà cậu giả không ở Thần Đô, nếu không biết chuyện này chắc lại náo loạn một trận gà bay chó chạy mất.
Túi rượu da dê nguyên tấm có thể chứa năm cân rượu, một mình Đoan Mộc Tuệ đã uống hết ba cân rưỡi, say đến bất tỉnh nhân sự, cuối cùng vẫn là Lư Hội cõng bà về tẩm cư.
Sáng sớm hôm sau, Lư Hội thu xếp hành trang, chuẩn bị rời cung.
Trước khi đi, cô lại ghé qua một chuyến Trinh Quán Điện, đi một vòng trong gian thiên điện phía phải trống không.
“Cô ở đây làm gì!”
Một giọng nam trẻ tuổi có phần sắc nhọn vang lên trong điện vắng.
Lư Hội quay đầu nhìn, người tới dung mạo tuấn mỹ, thần sắc kiêu ngạo, chính là Lục lang Kim Tử Nhạc, kẻ đang được sủng ái nhất hiện nay.
Cô lười chẳng buồn để ý đến hắn, tiếp tục đi quanh trong điện, nhìn đông ngó tây.
Kim Tử Nhạc làm bộ làm tịch, thong thả bước tới: “Nghe nói cô đã xin nghỉ với bệ hạ, lần này đi là cả mười ngày. Không sợ lúc quay lại, bên cạnh bệ hạ đã không còn chỗ cho cô nữa sao?”
Lư Hội vẫn không để ý, đi vòng quanh chân tường, dừng lại bên một cây cột lớn.
Kim Tử Nhạc giậm chân: “Cô chịu nói chuyện đàng hoàng đi, ta sẽ không tính tội trước kia cô bắt nạt anh em chúng ta nữa!”
“Nghiệp Quốc công sao có thể vu oan người khác như vậy?” Lư Hội trong lòng khẽ động, quay mặt về phía tường nói, “Hai vị Quốc công thân thể quý giá như vàng, vi thần nào dám bắt nạt.”
“Cái gì? Cô vừa nói cái gì?” Kim Tử Nhạc xông tới, “Đừng hòng lừa ta, cô giết đám rắn rết chuột bọ kia chính là để dọa chúng ta!”
Lư Hội từ sau cột bước ra: “Vừa rồi ngươi chỉ nghe được nửa câu sau của ta sao?”
Kim Tử Nhạc: “À? Ừ… đúng vậy.”
Lư Hội trầm ngâm.
Cô quay sang hai tiểu hoàng môn phía sau hắn, cười nói: “Ta và Nghiệp Quốc công có lời muốn nói, các ngươi nghe cho kỹ, lát nữa ta sẽ hỏi.”
Nói xong, cô túm lấy cổ áo Kim Tử Nhạc, kéo như kéo xác chó, lôi hắn ra sau cột lớn.
Kim Tử Nhạc bị kéo đến loạng choạng, cả mũ phốc đầu cũng lệch sang một bên, trên mặt nổi lên một vệt đỏ kỳ lạ: “Cô, cô định làm gì!”
Lư Hội hạ giọng: “Ngươi có biết anh em các ngươi hiện giờ đã bị đặt lên lửa mà nướng chưa? Làm dao cho bệ hạ, ngươi chán sống rồi sao!”
Kim Tử Nhạc sững lại: “Cô muốn nói với ta chuyện này?”
Lư Hội: “Không thì ngươi tưởng ta nói gì?” , với nam sủng của Nữ hoàng thì còn có thể nói gì nữa? Kẻ làm công nào dám ve vãn thiếp thất của chủ nhân.
Giọng cô trầm xuống: “Ngươi đừng hồ đồ nữa. Trước đó các lão thần lần lượt qua đời, các vị tướng công lại không quá nghe lời, bệ hạ trong lúc gấp gáp mới đề bạt anh em các ngươi. Vì sao làm vậy, đừng nói ngươi không biết.”
Kim Tử Nhạc bỗng trở nên hung hăng: “Biết thì sao? Phú quý phải cầu trong hiểm nguy, chẳng lẽ muốn anh em chúng ta cả đời cúi đầu khom lưng, chịu người khinh nhục?! Ta biết ai cũng coi thường chúng ta, cả cô cũng vậy!”
Lư Hội oan uổng: “Ta khi nào coi thường các ngươi? Dù anh em các ngươi phụ thân mất sớm, nhưng rốt cuộc vẫn xuất thân quan lại, ta còn là con gái nhà buôn đây.”
Nói ra thì thân phận “con gái nhà buôn” này của cô cũng chẳng giữ được bao lâu nữa.
Anh em Kim thị mỗi người một sở trường.
Ngũ lang Kim Dật Nhiên giỏi cầm tiêu thư họa, dáng vẻ cao ngạo không vướng bụi trần; còn Lục lang Kim Tử Nhạc thì miệng lưỡi lanh lợi, ăn nói khéo léo, thường xuyên hầu bên cạnh Nữ hoàng, nên cũng hay gặp Lư Hội.
“Ta cũng không hề coi thường Lư nương tử.” Kim Tử Nhạc dịu giọng, “Trước kia mẫu thân ta trong cung phát bệnh động kinh, đa tạ tiểu nương tử đã ra tay giúp đỡ.”
Lư Hội: “Ôi dào, chuyện nhỏ thôi.”
Kim Tử Nhạc hạ thấp giọng: “Chỉ là… anh em chúng ta không thể sống mãi như thế này.”
“Làm gì có ‘mãi mãi’.” Lư Hội suýt bật cười, “Bệ hạ đã bao nhiêu tuổi rồi, các ngươi hầu hạ bà vài năm, kiếm được một đống vàng bạc châu báu, đủ dùng mấy đời. Sau này về quê an cư lập nghiệp, làm phú gia ông chẳng phải cũng tốt sao.”
Kim Tử Nhạc nghiến răng quát: “Anh em chúng ta cũng là người đọc sách, dựa vào đâu phải cam chịu tầm thường!”
Lư Hội bị hét đến ù cả tai: “Được được được, vậy thì không tầm thường, không tầm thường, được chưa.”
Cô đi tới trước hai tiểu hoàng môn đứng ở cửa: “Vừa rồi lời ta nói, các ngươi nghe rõ chưa?”
Hai tiểu hoàng môn cùng lắc đầu: “Hoàn toàn không nghe rõ.”
Lư Hội lại hỏi: “Vậy lời Nghiệp Quốc công nói, các ngươi nghe rõ chưa?”
Hai tiểu hoàng môn do dự một lát, rồi đều thừa nhận phần lớn đều nghe rõ.
Kim Tử Nhạc cũng bước tới, tự cho là đã hiểu ý Lư Hội, nữ quan bên cạnh Nữ hoàng mà tụ lại với nam sủng, quả thật là tình thế dễ sinh điều tiếng, gió chưa thổi cũng dậy sóng.
Hắn vỗ ngực đảm bảo: “Cô yên tâm, bọn chúng không dám nhiều chuyện đâu. Lộ ra một chữ, ta lột da sống chúng.”
Hai tiểu hoàng môn lập tức hoảng sợ.
“Ta đương nhiên yên tâm.” Lư Hội buộc lại hành trang, “Nghiệp Quốc công cũng tự bảo trọng. Cứ vậy chia tay, hẹn ngày tái ngộ.”
Hôm nay phần thiện ý của cô đã dùng hết rồi.
–
Trở về sơn trang ngoài huyện Thị Dương, từ xa đã thấy cha mẹ đứng đợi trước cổng trang. Lư Hội lao một mạch tới, suýt nữa đâm ngã cả hai, rồi ôm lấy đệ muội nhỏ mà xoa nắn cọ cọ một hồi.
Ba tháng hơn không gặp, đây là quãng thời gian xa cha mẹ lâu nhất kể từ khi Lư Hội hiểu chuyện.
“Ta không nhìn nhầm chứ? Hội Hội có phải gầy đi rồi không, gầy rồi nhỉ, gầy hẳn đi rồi!” Lư Trí Nam kéo con gái nhìn tới nhìn lui, như miếng thịt ba chỉ nhà mình bị người ta cắt mất mấy miếng.
Tạ Ngọc Phù lau nước mắt: “Không sai, gầy rồi! Người thì không cao lên mà lại gầy đi, có phải trong cung bị bắt nạt không?”
Lư Hội ra sức biện giải: “Không ai bắt nạt con cả, thật đấy! Ai dám bắt nạt người trước mặt bệ hạ chứ! Là bệ hạ bệnh, mấy tháng nay con luôn ở cạnh chăm sóc. Cù đại giám còn nói con gầy đi lại càng xinh, trông như tiểu thư thướt tha rồi.”
Lư Trí Nam liên tục “phi phi phi”: “Cái gì mà lời lẽ vớ vẩn! Không phải con ruột nhà hắn nên nói nhẹ tênh như vậy!”
“Người ta là hoạn quan, lấy đâu ra con cái.” Tạ Ngọc Phù cũng vô cùng bất mãn, “Được rồi, Hội Hội ở trong cung lâu như vậy, cũng đã thấy đủ, thưởng cũng nhận không ít. Lần này về thì xin bệ hạ cho xuất cung đi thôi.”
“Lời mẹ con nói đúng đấy, nhà ta không ham vinh hoa phú quý, chỉ mong con bình an khỏe mạnh. Cha với mẹ vất vả cả đời tích cóp từng ấy gia sản, chẳng lẽ là để Hội Hội đi hầu hạ người khác sao?”
“A, khẩu khí của cha lớn thật đấy. Con hầu hạ là bệ hạ cơ mà, đâu phải người bình thường!”
“Cũng như nhau thôi, đã là hầu hạ người thì không có chuyện không chịu khổ chịu ấm ức! Mau xin rời cung đi, nghe lời.”
“Vâng vâng vâng, chuyến này về con sẽ thử.” Lư Hội đáp cho có lệ.
Y Lam đứng bên cạnh nhìn mà cười: “Mau dọn cơm đi thôi, để Hội Hội đói thêm chút nữa lại gầy mất.”
Mâm cơm bày ra, cả nhà vừa ăn vừa chuyện trò. Điều Lư Hội quan tâm nhất vẫn là chuyến đi của cha mẹ: “Cha mẹ đã gặp Lư lão tiên sinh chưa? Thế nào thế nào?”
Lư Trí Nam không ngớt lời khen: “Ban đầu cha còn lo không nói chuyện được với mấy người đọc sách. Ai ngờ Lư lão tiên sinh lại rất hòa nhã, chẳng hề làm giá, còn nói ‘đọc vạn quyển sách không bằng đi vạn dặm đường’.”
Tạ Ngọc Phù tiếp lời: “Lư lão phu nhân cũng rất hiền hậu, còn nói với mẹ nhiều lời tâm tình. Chúng ta đã bàn xong rồi, đợi chọn được ngày tốt sẽ chính thức làm lễ nhận con nuôi.”
Lư Trí Nam bỗng nói: “Ta nghĩ chuyện nhận làm con nuôi… thôi bỏ đi.”
Lư Hội ngạc nhiên: “Cha hồ đồ rồi sao? Nếu Lư lão phu phụ tốt như vậy, sao lại không nhận? Cha là không nỡ bỏ dòng dõi cũ sao?”
Lư Trí Nam thở dài: “Từ nhỏ ta đã thấy tổ phụ thiên vị trưởng phòng, bạc đãi các phòng khác; mười tuổi cha mẹ đều mất, phải nương nhờ người khác; mười tám tuổi đã cùng mẹ con lang bạt thiên hạ, cái gọi là dòng dõi ấy, hừ, ta chẳng còn chút lưu luyến nào.”
Lư Hội lại hỏi: “Vậy là cha thấy gia thế của Lư lão tiên sinh không tốt sao?”
Lư Trí Nam: “Nói bậy gì thế! Lư lão là đại nho chính tông của Lư thị Phạm Dương, trước tác lập thuyết, danh vang thiên hạ. Đừng nói làm con cháu được nhận nuôi, chỉ cần bái làm môn hạ đệ tử thôi, ra ngoài cũng đủ vinh hiển rồi.”
Lư Hội càng không hiểu: “Vậy vì sao cha lại không muốn?”
Lư Trí Nam nhìn vợ một cái, hai người tâm ý tương thông.
Tạ Ngọc Phù nói: “Ngốc à Hội Hội, con nghĩ xem, nhà ta chỉ là thương nhân, bỗng chốc một bước lên trời như vậy, là đã mắc nợ Bùi thiếu tướng bao nhiêu ân tình rồi. Nếu Bùi thiếu tướng muốn con tiếp tục ở lại trong cung làm việc, chúng ta làm sao từ chối? Thà rằng không nhận làm con nuôi, cứ là thương nhân thì là thương nhân. Chỉ cần con có thể thoát thân, chuyện báo ân cha mẹ con sẽ tự nghĩ cách. Dù có tán gia bại sản, cũng không thể để con tiếp tục chịu khổ.”
Lư Hội sững lại.
Y Lam cúi đầu nhịn cười: “Lang chủ và nương tử cứ yên tâm, tên họ Bùi Bùi thiếu tướng, sẽ không khiến chúng ta tán gia bại sản đâu.”
Lư Hội lúng túng: “Không… không phải ý đó, thật ra thì…”
Thật ra thế nào, chính cô cũng không biết nói sao.
Y Lam khẽ đá nhẹ chân bàn, mấy đôi đũa thìa leng keng rơi xuống.
“Ôi chao, nhặt lên cũng đừng dùng nữa, ta sai người đi lấy cái sạch.” Tạ Ngọc Phù quay đầu gọi tỳ nữ.
Hai thiếu nữ cúi xuống nhặt đũa thìa, Y Lam ghé sát tai Lư Hội thì thầm: “Mau tranh thủ đi, bắt được người rồi, đến lúc đó họ Bùi muốn gì cũng phải nghe theo.”
Lư Hội đỏ bừng cả tai: “Câm miệng đi!”
Khi hai người ngồi lại, Lư Hội đổi sang nụ cười tươi: “Tóm lại, cha cứ yên tâm nhận làm con nuôi đi. Bùi thiếu tướng chỉ là người kết nối thôi, việc được Lư lão để mắt tới vẫn là do cha mẹ có nhân phẩm tốt. Giờ mọi chuyện đã bàn xong cả rồi, cha mẹ đột nhiên đổi ý, mặt mũi của Lư lão để đâu?”
Vợ chồng Lư thị vẫn đầy vẻ do dự.
Lư Hội đành phải tiếp tục dùng tài ăn nói, kể lại sinh động những ngày mình ở trong cung Nữ hoàng, tô vẽ đến mức như hoa nở, đặc biệt nhấn mạnh mình đang gánh trọng trách, Nữ hoàng tuổi già cô quạnh, ít nhất cũng phải chờ người khỏi bệnh rồi mới xin rời đi, hơn nữa bên cạnh Nữ hoàng không thể thiếu người, nên ngày mai cô phải quay lại…
Vợ chồng họ Lư đành miễn cưỡng đồng ý.
Sáng sớm hôm sau, Lư Hội theo cha mẹ đến trước mộ Khang Khuất Để thắp hương, rồi dập đầu ba cái.
Lúc xuống núi vừa hay gặp mẹ con Khang Ngũ Nương.
“Kẻ này có lòng rồi.” Khang nương tử sắc mặt tái nhợt gầy yếu, thần sắc tiều tụy, “Đương gia đã qua tuần bốn mươi chín ngày, ta định bán nhà, cùng Ngũ Nương dọn về chỗ huynh tẩu ở, cũng tiện có người chăm nom.”
Tạ Ngọc Phù biết Khang nương tử thuở nhỏ mất cha mẹ, huynh tẩu trong nhà nuôi nàng như con ruột. Nay nàng trở về nhà mẹ đẻ, nghĩ cũng sẽ sống thoải mái hơn.
Lư Hội nhìn Khang Ngũ Nương luôn cúi đầu, như đứa trẻ không biết làm sao, nhớ đến lúc Khang lão đại còn sống, hễ mở miệng là khen con gái mình tươi sáng đáng yêu, không khỏi thở dài.
Trở về sơn trang, cả nhà dùng xong bữa trưa, Lư Hội liền chuẩn bị lên đường. Mọi người theo lệ tiễn cô đến tận chân núi.
Lư Trí Nam mặt đầy buồn bã: “Đường đại nhân là vị quan tốt như vậy, sao nói mất là mất chứ.”
Tạ Ngọc Phù khẽ sụt sùi: “Vốn định đợi con rời cung, không còn vướng bận, cả nhà mình sẽ đích thân đến cảm tạ ân tình năm xưa… giờ thì… ôi.”
Lư Hội cũng thở dài: “Bệ hạ bệnh lâu không khỏi, cũng vì đau lòng chuyện Đường đại nhân tuẫn chức. À, nghe nói dân địa phương định lập sinh từ cho Đường đại nhân đấy.”
“Đáng lắm, đáng lắm.” Lư Trí Nam liên thanh nói.
Sau khi vợ chồng Lư thị quay về, Y Lam lại tiễn Lư Hội thêm một đoạn.
“… Cả một dải núi rừng kia đều là của Lư lão phu phụ, còn sắp xếp cho chúng ta một viện riêng, vừa tinh xảo vừa rộng rãi. Lại còn có thác nước và suối trong, Hội Hội nhìn thấy nhất định sẽ thích.”
Y Lam thao thao bất tuyệt: “Trong môn hạ của Lư lão còn có không ít thiếu niên tuấn tú, ta đều đã xem xét giúp muội rồi, đợi muội thoát khỏi tay họ Bùi, quay đầu chúng ta sẽ tìm một người thật tốt…”
“Y Lam…” Lư Hội cúi đầu, dùng mũi giày khẽ hất mấy viên đá nhỏ.
“Sao vậy?”
“Ta… thích chàng.”
“…Ai?”
“Tỷ biết mà.”
“Hừ.”
“Ta không chỉ muốn cùng chàng vui vẻ một đoạn, ta muốn cùng chàng làm vợ chồng. Chàng nói, chúng ta phải dài lâu bền chặt, vĩnh viễn không rời.”
“…”
“Y Lam, sao tỷ không nói gì?” Lư Hội kéo tay áo nàng.
Y Lam quay người bỏ đi, đi được mấy bước lại quay lại, mắng: “Lúc họ Bùi sắp xếp cho cha muội nhận làm con nuôi, ta đã đoán ra rồi! Chỉ để dỗ dành tiểu nương tử mình thích, cho thêm ít vàng bạc châu báu là đủ, cần gì phải rắc rối chuyện nhận con nuôi!”
Nàng tức giận đi qua đi lại mấy vòng, rồi lạnh mặt: “Hội Hội, muội không thể đổi người khác sao?”
Lư Hội ngẩn ra: “Hả? Vì sao?”
“Ta nhìn hắn không vừa mắt!” Y Lam đi tới bên gốc cây khô, đá mạnh mấy cái, “Tên họ Bùi đó vừa nhìn đã biết là loại người thích ăn một mình.”
Nàng bỗng quay phắt lại, nhìn chằm chằm Lư Hội: “Hắn muốn độc chiếm muội!”
Lư Hội hiểu ý của bạn thân, giữa hai người vốn không cần nói nhiều.
Cô lại cúi đầu: “Ta biết… tính tình chàng không tốt, tâm tư lại sâu. Đến giờ, ta vẫn không biết rốt cuộc chàng đang âm thầm mưu tính điều gì, nếu có thể đổi một người khác thì tốt biết bao.”
“Y Lam à… nếu có thể đổi một người khác thì tốt biết bao.”
Hốc mắt cô nóng lên, hàng mi bỗng nặng trĩu: “Nhưng không được… ngoài chàng ra, trong mắt ta không còn ai khác nữa.”
Thấy cô như vậy, Y Lam mềm lòng, ôm lấy cô, nhẹ nhàng vỗ về: “Không khóc, không khóc.”
Lư Hội lại càng nức nở hơn.
Từ nhỏ đến lớn, cô luôn nghĩ cuộc đời mình tràn đầy nắng gió, dù gặp ghềnh thác hay núi cao, cũng có thể cười lớn mà bước qua.
Ai ai cũng khen cô rộng rãi, vui vẻ, là người có phúc trời ban. Chỉ có lão hòa thượng ở chùa Bà Lan từng nói: đời người trăm vị, vui giận buồn thương, yêu ghét ly biệt, vốn dĩ phải nếm đủ mới trọn vẹn. Chỉ có niềm vui mà không biết nỗi buồn thì đời ấy chưa gọi là tròn đầy.
Giờ đây, Lư Hội dần hiểu ra.
Được rồi lại lo mất, lúc vui lúc buồn, vừa giận vừa cười, cô đều đã trải qua, chẳng biết sau này còn phải trải qua những gì nữa.
Y Lam cố nén sự bực bội trong lòng.
Nàng nghiêm giọng nói: “Hội Hội, đừng sợ. Muội muốn gả cho ai thì gả cho người đó. Bên cha mẹ muội, ta sẽ nói giúp. Nhưng phải nhớ một điều, nếu ở bên hắn mà không vui, muội phải quay đầu ngay! Nhớ chưa, phải quay đầu kịp lúc!”
Lư Hội bật cười qua nước mắt, gật đầu thật mạnh.
