Chương 13: Nàng dùng thứ đó để răn đe ta
*
Rốt cuộc chàng có thể tùy tùng Vương Trác Nghi đi săn tuyết ở Tây Sơn hay không, Lý Nhược Lâm đến cuối cùng vẫn chưa nhận được lời chuẩn y thực sự từ nàng.
Vương Trác Nghi đã rời đi, Tạ Nhân cũng buông tha cho chàng.
Lý Nhược Lâm thầm nghĩ, trong những chuỗi ngày chàng ngồi bó gối nơi khoảng trời vuông vức, coi ghen tuông là đức hạnh của kẻ nội sủng, hai người họ trước đây chắc hẳn cũng như thế này, gạt chàng sang một bên để ở trên lầu cao say sưa đàm luận về nền chính trị mục nát tàn tạ của Đại Ngụy, cùng thứ văn nghệ Kiến Nguyên rực rỡ hoa lệ giữa những buổi hào yến chốn Lạc Dương.
Phần lớn thời gian, chàng đều chỉ có một mình.
May mắn thay lần này, khi chàng cầm thanh roi gai trở về Đồng Kính Đài, vẫn còn một mình Lý Thư Thường ngồi dưới cây ô giảo chờ chàng. Cậu ta giống như thực sự coi chàng là người bạn đồng bệnh tương lân, thậm chí đến nay vẫn tôn chàng làm thủ lĩnh tộc của thế hệ trẻ họ Lý, trước nay luôn ỷ lại vào chàng, cũng tìm cách bảo vệ chàng. Nay thấy Lý Nhược Lâm trở về, cậu ta vội vàng đứng dậy đón tiếp.
“Điện hạ không trách phạt huynh chứ?”
“Không có.”
Lý Nhược Lâm dứt lời bèn ném thanh roi gai xuống chân, Lý Thư Thường hoảng sợ nhảy lùi sang một bên, lại hỏi: “Thứ gì thế này…”
Lý Nhược Lâm đá thanh roi gai một cái, đứng dưới gốc cây bình thản đến mức khiến Lý Thư Thường phải sợ hãi.
“Nàng dùng thứ đó để răn đe ta.”
“Thế mà Nhị công tử còn dám đá nó?”
Lý Nhược Lâm ngồi xuống giữa bóng râm của đám cành khô, hai tay đặt trên gối, trố mắt nhìn thanh roi gai lăn dần xuống sườn dốc.
“Không đánh vào người ta thì nó cũng chỉ là một cây gậy, ta sợ nó làm gì?”
Nói xong, chẳng biết vì sao chàng lại đột nhiên đứng bật dậy, đuổi theo mấy bước, nhặt thanh roi gai kia trở về.
“Nhị công tử……”
Lý Thư Thường ngồi xổm trước mặt Lý Nhược Lâm, níu lấy tay áo chàng bảo: “Phò mã và Lương đệ đều nói, trong ngần ấy người chúng ta, chỉ có huynh là có dung mạo đẹp đẽ nhất, dễ chiếm được lòng Điện hạ nhất, huynh có thể ngoan ngoãn với Điện hạ một chút được không, đừng lúc nào cũng mạo phạm người. Đệ nghe nói sau chuyến săn tuyết Tây Sơn, họ Lý chúng ta sẽ bị hạch tội, cha mẹ đệ và ca ca đệ… Nhị công tử, lần trước đệ đến hầu yến cho Điện hạ và Lương đệ, Điện hạ đến một ánh mắt cũng chẳng thèm bố thí cho đệ… Đệ không có cái phúc phận đó, Nhị công tử à, họ Lý chúng ta chỉ có thể trông cậy vào huynh thôi, huynh khéo cầu xin Điện hạ có được không?”
Lý Nhược Lâm nhìn cánh tay đang bị Lý Thư Thường lay qua lay lại, chợt bảo: “Đừng ngốc nữa.”
Dứt lời, chàng định gạt tay Lý Thư Thường ra, nhưng nhất thời lại không nỡ, rốt cuộc vẫn kéo cậu ta cùng ngồi xuống.
Những chiếc lá khô lưa thưa trên đỉnh đầu đang thoi thóp trong cơn gió đêm buốt giá, Lý Nhược Lâm dốc bầu tâm sự với Lý Thư Thường: “Lý Thư Thường, bất kể ngươi có tin hay không, ngoan ngoãn không phải đức hạnh của nam tử, nàng sẽ không thích đâu. Ngươi và ta có quỳ bên sập giường cầu xin nàng suốt đêm, nàng cũng chẳng kéo ngươi và ta lên giường của nàng đâu. Thứ ngươi và ta nhận được chỉ là một đôi đầu gối rẻ mạt mà thôi.”
Lý Thư Thường bảo: “Nhưng Lương đệ và Phò mã đều nói Điện hạ thích nam tử ngoan ngoãn.”
“Ta đã bảo với ngươi là bọn họ đều đang nói càn, ngươi tin ta có được không!” Lý Nhược Lâm nói rất nhanh, thậm chí có phần cấp thiết.
“Nhưng mà……”
Lý Thư Thường luống cuống, cậu ta không hiểu sao Lý Nhược Lâm lại khẳng định như vậy. Nhưng từ ánh mắt tự tin một cách kỳ lạ của Lý Nhược Lâm, cậu ta lại nhìn thấy hy vọng.
Lý Nhược Lâm nghiêm túc nhìn Lý Thư Thường, hạ thấp giọng khẩn thiết bảo: “Ta đã thực sự ngoan ngoãn với nàng rồi, ta hèn mọn hầu hạ nàng nhưng nàng không cần ta, ta kìm nén đau đớn và nước mắt bầu bạn với nàng thì nàng mắng nhiếc ta. Nhưng ta giết nàng, nàng lại cứu ta; ta viết tên nàng để mạo phạm nàng…”
Chàng đang nói thì chợt nhận ra mình đã nhặt thanh roi gai về tự bao giờ, liền hốt hoảng buông tay ném đi. Đồng thời vô thức tăng nhanh tốc độ nói:
“Nàng thỉnh cả roi gai ra nhưng rốt cuộc cũng không thực sự đánh xuống người ta. Lý Thư Thường, ngươi tin ta đi, đối với một nữ tử dưới một người trên vạn người như nàng, nàng chính là thích đùa giỡn thớt cá trên dao, ngươi và ta phải ra sức giãy giụa, ra sức nhảy nhót trước mặt nàng, nàng mới có thể bố thí cho chúng ta một chút nước, để chúng ta sống lây lất thêm vài ngày.”
Lý Thư Thường nghe mà nửa hiểu nửa không, nhưng Lý Nhược Lâm lại từ chính những lời này mà vạch ra được hướng đi tiếp theo.
Một lần hành thích Vương Trác Nghi, là vì đau đớn tột cùng mà làm, không phải bản ý. Một lần tự tay viết danh húy Vương Trác Nghi, là dốc hết vốn liếng để đánh cược.
Chàng đã thử ra rồi. So với kiếp trước, coi lời Vương Trác Nghi như khuôn vàng thước ngọc, đối xử với nàng một cách nhục nhã hèn mọn, chi bằng chủ động dâng cổ vào tay nàng để nàng bóp nghẹt, rồi ngẩng đầu lên, kiễng chân chịu đựng một hơi thở nghẹn ứ ấy, từng bước từng bước đi theo nàng về phía trước.
Nàng không nỡ bóp chết chàng. Phải, kiếp này, trong lòng nàng dường như thực sự giấu giếm một nỗi không nỡ nào đó. Nhưng nàng chắc là rất thích nhìn bộ dạng nghẹt thở mà không chết được của chàng.
Nói như vậy, Vương Trác Nghi vẫn là một kẻ biến thái.
“Lời ta nói ngươi có hiểu không?” Lý Thư Thường nửa hiểu nửa không gật đầu.
Bóng hoàng hôn tràn ngập khu vườn len lỏi qua những cành cây khô khốc, sắc trời dần tối muộn. Lý Nhược Lâm kéo Lý Thư Thường dậy: “Đi, về ăn chút gì đó.”
Lý Thư Thường bảo: “Huynh không bỏ đói vòng eo của huynh nữa à?”
Lý Nhược Lâm bỗng khựng lại: “Phải, không được ăn quá nhiều đồ tanh mỡ.”
Lý Thư Thường chợt mỉm cười: “Nhị công tử, lời của huynh dẫu đệ nghe không hiểu lắm, nhưng huynh đối với chính mình quả thực cũng tàn nhẫn thật.”
Lý Nhược Lâm cúi đầu hạ quyết tâm, siết thật chặt dải thắt lưng quanh eo, thầm nghĩ không tàn nhẫn thì sao có thể thực sự mở rộng lối đi, nhìn ngắm thế giới rộng lớn bên ngoài.
Cái gọi là “nhìn ngắm thế giới rộng lớn”, đối với toàn bộ triều Kiến Nguyên mà nói, quả thực không có cảnh tượng nào bề thế hơn chuyến săn tuyết Tây Sơn. Nếu nói yến tiệc đêm xuân của Vương Trác Nghi kề nước soi trăng, phong cách khúc múa thanh mảnh gầy guộc là đỉnh cao của phong lưu tình chí triều Kiến Nguyên, thì chuyến săn tuyết Tây Sơn vào khoảng tết Nguyên tiêu hằng năm chính là một buổi hào yến vô cùng xa xỉ tột cùng của hoàng tộc Lạc Dương và ngũ tính thất tộc.
Hội tụ trăm người, tiệc tùng ba ngày liên tiếp, món ăn tất phải là trân kỳ dị bảo bốn phương. Những hoàng tử công chúa của thiên gia như Vương Trác Nghi, Vương Hiến, nếu chỉ tính riêng chi phí cung ứng ăn uống, một người một ngày đã ngốn hết hơn ba vạn tiền.
Những kẻ khác như phú tộc họ Tống, hằng năm đều là cả tộc dốc túi xuất hành, tháp tùng thị giả bên quân vương. Mỗi người mang theo mười mấy tỳ nữ sai vặt, tính gộp cả xe ngựa y phục ăn uống, một người một ngày vạn tiền cũng chẳng thấm vào đâu.
Thế nhưng heo, bò, ngựa, cừu, thỏ hoang, hoẵng núi cung ứng khôn cùng, mổ xẻ ròng rã suốt ngày đêm, máu gia súc tuôn chảy nhuộm đỏ cả khe núi mới chớm tan băng như những dòng máu dài mảnh khảnh, vậy mà các bậc quý nhân ngồi đầy tọa vẫn chê việc ăn uống nhàm chán, chẳng biết hạ đũa vào đâu.
Năm Kiến Nguyên thứ bốn mươi tư lại là một năm thiên tai. Nhưng năm này, Kiến Nguyên Đế đón mừng tuổi hoa giáp của mình, thế nên mặc cho nạn hạn hán ở Hàn Châu ra sao, mặc cho dịch bệnh ở Hàn Thành cướp đi bao nhiêu sinh mạng, năm Kiến Nguyên thứ bốn mươi tư vẫn là một năm đại cát để ca công tụng đức cho thiên gia.
Chuyến săn tuyết năm nay, Kiến Nguyên Đế ngự giá tại Minh Nguyệt Viên của Vương Trác Nghi, số lượng người tháp tùng vượt xa mọi năm. Hoàng Môn Tự vì việc này đã phái sứ giả vào Minh Nguyệt Viên trước để điều phối vật dụng. Tuy nhiên, ngay ngày đầu tiên, Kiến Nguyên Đế lại đột ngột quyết định tổ chức yến tiệc uống rượu đêm trên bãi Thiển Vân bên ngoài bãi săn Tây Sơn.
Hoàng Môn Tự không kịp trở tay, bọn người Vương Hiến đã an tọa ở chùa Trường Thu trên Tây Sơn cũng vì thế mà một phen náo loạn. Vương Trác Nghi trái lại biết trước sẽ có chuyện này, thế nên vào giờ Thìn ngày mười tám tháng Giêng, nàng đã thu xếp vẹn toàn, thậm chí còn chất đầy ba xe than bạc, giải vây cho nỗi cấp bách “nước xa không cứu được lửa gần” của Hoàng Môn Tự.
Việc bốc dỡ than bạc lên xe rốt cuộc vẫn làm chậm trễ một lúc, Vương Trác Nghi bèn cùng Tạ Nhân ở trên Lầu Minh Nguyệt đàm luận ngắn gọn vài câu về chuyện quân phí Tây Lũng.
Vương Trác Nghi hôm nay bó chặt ống tay áo, búi tóc cũng được chải chuốt gọn gàng sạch sẽ. Nàng nghĩ xe nặng ngựa đông hành quân trên đường núi khó tránh khỏi việc đình trệ chậm trễ, thế nên đã tiết chế việc ăn uống, bát canh mà Hàm Chu bưng lên nàng cũng chỉ nhấp môi một hai hớp.
“Ta không cần biết việc tính toán sổ sách hằng năm của Độ Chi Tào các huynh ra sao, ta phải bảo đảm phần chi dùng trong quân đội của biểu huynh ta.” Vương Trác Nghi dứt lời bèn đặt bát canh xuống, ngắm nhìn làn sương mù nơi núi xa, “Lời của ta đã rất rõ ràng, huynh còn dây dưa với ta nữa……”
Tạ Nhân quỳ thẳng xuống bảo: “Trách phạt thần ra sao thần cũng cam lòng, nhưng Điện hạ trước đây đã có giao ước với thần, nếu Tiêu Duy Xuân có thể chủ trì việc kiểm toán và vận chuyển kho tàng Tây Lũng, Điện hạ sẽ chỉ lệnh cho huynh ấy ngầm bớt lại ba phần để sung làm quân tư, tại sao hôm nay lại nâng lên thành năm phần?”
Vương Trác Nghi bảo: “Bởi vì không đủ.”
Tạ Nhân có phần sốt ruột: “Mấy năm nay kháng cự Mạc Bắc, bạc, đồng, sắt của thiên hạ sắp sửa đánh cược cạn kiệt cả rồi, nay đến cả quốc khố cũng khan hiếm tiền tệ…”
“Cho nên vẫn là không đủ đấy thôi.” Vương Trác Nghi nhìn Tạ Nhân, “Một khi ải Phi Tuyết bị phá, Trung Nguyên sẽ như bị kiếm sắc đâm xuyên tim, đến lúc đó tất cả chúng ta đều trở thành nô lệ của Hồ vương Mạc Bắc. Khanh hiếm tiền tệ? Ai thèm bận tâm chứ?”
Tạ Nhân bảo: “Vậy vùng Hàn Thành không màng đến nữa sao? Cứ để nó hạn hán mãi như thế à?”
Vương Trác Nghi rất muốn bảo với Tạ Nhân rằng nàng từng màng đến, nàng cùng Lý Nhược Lâm đã từng dốc hết tim gan để màng đến một lần.
Khi đó, Lý Nhược Lâm nhờ sự tiến cử của Vương Hiến và Cố Vi Ngôn mà xuất nhiệm chức Chư Tào Tòng Sự ở Hàn Châu. Mùa hè năm Kiến Nguyên thứ bốn mươi tư, Lý Nhược Lâm dâng lên triều đình tờ sinh tử thư – Hàn Thành có loạn thì mạng thần đền, ngày sau xác treo tường thành, chưa thành xương trắng chưa vùi đất.
Tiết Xử Thử năm đó, Vương Trác Nghi đến Hàn Thành thăm Lý Nhược Lâm, tận mắt nhìn thấy Lý Nhược Lâm tóc tai bù xù y phục rách nát đi lại giữa vùng đất hạn hán, ở trong lán cháo tàn tạ, cùng với vô số nạn dân nuốt chửng thứ cháo bùn vẩn đục.
Ngày hôm ấy, một người phụ nữ gầy trơ xương chìa đứa trẻ trong lòng ra cho nàng, bảo dùng đứa trẻ để đổi lấy một bát cháo. Nàng rất sợ hãi, nhưng mắt thấy đứa trẻ sắp rơi xuống đất liền đưa tay đỡ lấy ôm vào lòng.
Đứa trẻ đó đã chết rồi.
Những kẻ không sống nổi vốn đã cạn khô nước mắt. Thế nên thật mỉa mai mà cũng thật hợp lý, đối diện với cái xác đã bắt đầu thối rữa của đứa trẻ kia, tại trường gia khi ấy chỉ có một mình Công chúa Thọ Linh Vương Trác Nghi là bật khóc.
Đêm hôm đó, Vương Trác Nghi trằn trọc thế nào cũng không ngủ được. Lý Nhược Lâm vốn luôn ngoan ngoãn cung kính cũng không còn quỳ phục bên gối nàng như trước nữa, mà ngồi bó gối ở tận đằng xa ngoài cửa phòng nàng.
Chàng bảo trên người chàng toàn là bùn máu của Hàn Thành, sẽ làm vấy bẩn ngọc thể của Vương Trác Nghi, chàng không xứng nằm bên cạnh nàng. Chàng bảo: “Điện hạ, tiểu nhân hận bản thân không phải vật hiến tế, chết có thể cầu mưa thần, xác có thể cứu vạn dân.”
Đến nước này, Vương Trác Nghi không thể nhìn tiếp được nữa, cũng không thể nghe tiếp được nữa, thế nên tự mình ra tay, đâm một nhát thật hiểm vào tư khố của họ Tiêu.
Năm ấy, nạn hạn hán ở Hàn Châu nhờ vào sự khốn cùng tự rạch thịt mình của nàng mà được giảm nhẹ đi rất nhiều. Cũng chính vào năm đó, Tiêu Duy Xuân để trấn áp những người trong tộc họ Tiêu bất mãn với hành vi của Vương Trác Nghi, đã lấy danh nghĩa quyên góp lương quân, xin chỉ thị trưng thu vơ vét sạch sành sanh cả thảy ba quận ở Tây Lũng, gượng gạo bù đắp cho phần tiền lương mà Vương Trác Nghi đã dịch chuyển tới Hàn Châu.
Đây chính là Vương Trác Nghi của khi ấy, kẻ giương cao ngọn cờ lương thiện nhưng lại tự đào mồ chôn mình trên chính trường Lạc Dương. Lúc này nàng vừa hồi tưởng lại, vẫn thấy căm hận chính bản thân mình năm xưa.
“Tạ Nhân.” Vương Trác Nghi nhìn xuống dưới lầu, bình thản bảo, “Vương Hiến sở dĩ không làm gì được ta là vì biểu huynh ta đang mang vạn quân trấn giữ ải Phi Tuyết. Biểu huynh là chỗ dựa của ta, cũng là chỗ dựa của họ Tạ các huynh.”
Tạ Nhân lắc đầu bảo: “Nhưng tộc Tiêu của nàng thóc lúa đầy kho…”
“Thì đã sao?” Vương Trác Nghi vặn hỏi, “Thóc lúa đầy kho thì đó cũng là để phụng dưỡng con cháu tộc Tiêu, họ cũng không đời nào chịu bỏ ra một xu để sung làm quân phí Tây Lũng đâu. Tạ Nhân, nếu ta bảo huynh và cha huynh đâm họ Tạ các huynh một nhát vào tư khố để giải vây cho cái khốn của Hàn Thành, các huynh có chịu đâm không?”
Tạ Nhân nghẹn lời.
Vương Trác Nghi bảo: “Dẫu huynh có bằng lòng thì cha mẹ huynh muội của huynh cũng sẽ coi huynh là mọt mọn của gia tộc thôi. Tất nhiên, nếu họ thực sự bằng lòng tự đâm mình một nhát ấy, trong buổi yến tiệc đêm nay, ta sẽ thay các huynh xin chỉ thị của phụ hoàng, thỉnh công ban thưởng. Ta sẽ đích thân đưa huynh đi mở phủ khố của Tạ Lâu, vợ chồng chúng ta cùng chung tay dọn sạch một nửa nơi đó, huynh đi cứu Hàn Thành, còn ta đến chống đỡ ải Phi Tuyết.”
Tạ Nhân nhất thời im lặng. Y chưa từng nghe thấy những lời như vậy thốt ra từ miệng Vương Trác Nghi. Cay đắng, tuyệt vọng, lại ẩn chứa lòng từ bi.
Vương Trác Nghi không muốn bận tâm đến y nữa, đã đứng bật dậy. Khi đi đến lối rẽ cầu thang, Tạ Nhân lúc này mới đuổi theo một câu: “Lời của Điện hạ khiến thần thấy nản lòng.”
Vương Trác Nghi ngoảnh đầu nhìn Tạ Nhân: “Huynh có tin không, vì cái bản tính toán sổ sách cho năm tới mà huynh và cha huynh làm, phụ hoàng căn bản không muốn để biểu huynh ta tới kiểm toán phiên khố của họ Lý đâu. Người thà để Vương Hiến đi Tây Lũng, đem cái món hàng triệu tiền kia tính ra vài đồng bạc lẻ nộp cho quốc khố, phát ra một hai đồng để nuôi dưỡng vạn quân, phần còn lại cha con họ đều dùng để nuôi mỹ nhân, đốt than bạc. Huynh nản lòng sao?”
Nàng lạnh cười một tiếng, một lần nữa hướng mắt nhìn về phía Phù Cử Hải lấp lánh ánh sóng trong ánh ban mai, “Ta thì đã sớm chết tâm rồi.”
Tạ Nhân lặng lẽ đứng bên thành lầu, không nhúc nhích.
Vương Trác Nghi vịnh vào lan can, không nhịn được lại bảo: “Thực ra chẳng ngại nói với huynh một câu thật lòng, Đại Ngụy đã trăm bề thủng lỗ chỗ, Tạ Nhân huynh nhìn thấu được mà ta cũng nhìn thấu được. Huynh nói đúng, những kẻ như chúng ta không rạch thịt thì vĩnh viễn chẳng bù đắp nổi ngàn vạn vết thương trên thế gian này. Thế nhưng chúng ta vừa rạch thịt, những kẻ không chịu rạch thịt kia sẽ thừa cơ chúng ta trọng thương chảy máu mà ra tay lấy mạng chúng ta ngay lập tức.”
“Điện hạ nhất định phải nói những lời tuyệt tình đến thế sao, chẳng lẽ Kiến Nguyên không còn lối thoát nào khác?” Tạ Nhân hỏi Vương Trác Nghi.
Vương Trác Nghi bảo: “Có chứ. Để Vương Hiến chết sớm một chút.”
“Điện hạ!”
“Huynh sợ cái gì? Đây là Minh Nguyệt Viên của ta.” Vương Trác Nghi hếch cằm lên, “Để Vương Hiến chết sớm một chút, tốt nhất là lập tức chết ngay, để ta không phải lo sợ việc bị đâm sau lưng khi tự rạch thịt mình tổn hại bản thân, để ta thực sự nắm thóp được mạch máu của triều Kiến Nguyên khi Hàn Châu còn chưa hoang tàn hết sạch, ải Phi Tuyết còn chưa thất thủ. Đến lúc đó, ta mới có mặt mũi đi gặp bách tính của ta, trước mặt bọn họ, tự mình cầm đao rạch thịt chính mình.”
“Điện hạ đừng nói những lời như vậy, phải biết kiêng kỵ lời gở, thần sẽ giúp Điện hạ…”
“Đừng ngốc nữa.” Vương Trác Nghi nhìn Tạ Nhân, “Tạ Nhân, ta không biết còn có ai có thể giúp ta làm được điều này. Ta thử qua rồi, dẫu sao chính ta cũng không được, có thêm Tạ Nhân huynh cũng chẳng xong.”
Nàng dứt lời liền thẳng bước xuống Lầu Minh Nguyệt, bọn người Hàm Chu chờ sẵn dưới lầu vội vàng tháp tùng theo Vương Trác Nghi. Vương Trác Nghi bước đi rất nhanh, bên tai cứ vảng vất mãi câu nói nàng vừa bảo với Tạ Nhân: “Ta không biết còn có ai có thể giúp ta làm được điều này, dẫu sao chính ta cũng không được, có thêm huynh cũng chẳng xong.”
Vô tình đã đi đến cổng vườn, Ngô Doanh lại với vẻ mặt bất lực đứng bên chiếc xe ngựa của Vương Trác Nghi, thấy Vương Trác Nghi đi tới liền biết điều lui sang một bên.
Và khi dáng người ông dạt ra, Vương Trác Nghi nhìn thấy bọn người Lý Thư Thường đang hoang mang lo sợ tháp tùng chuyến săn tuyết, cùng với một Lý Nhược Lâm chỉ mặc một chiếc áo lót, chân trần đứng đó.
“Ngô Doanh.”
“Có ạ, thưa Điện hạ.”
“Đôi khi ta thấy các ông quản thúc nội bộc thực sự chẳng có chút cứng rắn nào cả.”
“Ý của Điện hạ là…”
Vương Trác Nghi nhìn về phía Lý Nhược Lâm: “Kẻ ăn mặc như thế này đến gặp ta, trước đây sẽ bị xử trí thế nào?”
Ngô Doanh rất muốn bảo rằng, vị chủ tử này liệu có phải đã quên mất rồi không, trước đây nàng thích nhất chính là cái bộ dạng nam nhân gầy gò mảnh khảnh làm bộ làm tịch này của chàng.
“Chuyện này…”
Vương Trác Nghi ho khan một tiếng, nàng rất không muốn thừa nhận rằng, khi Ngô Doanh lui ra, khung cửa như một bức họa khổ rộng, đóng khung cả non nước Tây Sơn và cả con người vào trong đó.
Khoảnh khắc Lý Nhược Lâm lọt vào tầm mắt, trong đầu Vương Trác Nghi vừa vặn đang vang vọng dòng suy nghĩ: “Ta không biết còn có ai có thể giúp ta làm được điều này…”
Tác giả có lời muốn nói:
Đối với Vương Trác Nghi mà nói, khắc phục thói lụy tình là điều rất khó.
Đối với Lý Nhược Lâm mà nói, quỳ quá lâu rồi muốn cứng cỏi trở lại cũng chẳng dễ dàng, chàng cứ ngỡ Vương Trác Nghi thích cái vẻ bất cần liều mạng này của mình, nhưng thực ra Vương Trác Nghi lại thích dáng vẻ thuở ban đầu khi chàng lặng lẽ tự rạch thịt hủy hoại chính mình.
Đối với cả Vương Trác Nghi và Lý Nhược Lâm, bản sắc của một người vốn dĩ luôn đồng nhất, bất kể nếm trải những gì, trưởng thành ra sao, đến cuối cùng đều sẽ tự hòa giải để trở về làm chính con người ban sơ của mình.
