Đăng bởi Để lại phản hồi

GIÓ MƯA – CHƯƠNG 18

Chương 18: Mối nợ năm xưa 1

*

Buổi nhận thân kết thúc, huynh muội nhà họ Thôi ai về chốn nấy, Bùi Thứ Chi cũng đưa Lư Hội đầu óc quay cuồng rời đi.

Mộc Hương Trai vẫn tĩnh lặng lạ thường, tĩnh đến mức tưởng như trong vòng năm dặm chẳng có lấy một sinh linh nào. Lần đầu tiên đặt chân đến nơi này, Lư Hội đã cảm nhận được sự quái lạ ấy.

Bùi Thứ Chi sai Tử Liệt mở hết tám cánh cửa sổ cao ngang đầu người.

Chàng ngồi xuống bên cửa sổ, cổ áo đỏ son buông lơi, lộ ra xương quai xanh trắng nõn mảnh mai, mặc cho gió hồ mát rượi lùa vào, hương rượu nhàn nhạt tản ra theo gió.

Lư Hội ôm một bụng câu hỏi, vội vàng bước lại gần: “Thiếu tướng, thật sự phải đi học…”

“Gương.” Bùi Thứ Chi trầm giọng.

Tử Liệt mau mắn bưng đến một chiếc gương bạc cao nửa thước, Bùi Thứ Chi ung dung tháo từng món trang sức trên người xuống: nhẫn đá điền hoàng, dao ngọc xanh, hoa tai vàng, dây chuyền đính bảo thạch, trâm dài nạm ngọc, dải lụa cài minh châu, cùng đủ loại trang sức tinh xảo trong suốt, đẹp đến rạng ngời.

Lư Hội bị một bàn đầy những món đồ sáng loáng ấy làm chói mắt, trấn định lại mới lên tiếng: “Thiếu tướng, sau này tôi thật sự phải đến…”

“Nước sạch.”

“Vâng.”

Tử Liệt lại bưng đến một chậu nước trong. Bùi Thứ Chi nhúng khăn trắng tinh vào nước, rồi đối diện chiếc gương, chầm chậm lau gương mặt thanh tú và chiếc cổ cao dài của mình, thấp xuống nữa là yết hầu rõ ràng… Lư Hội mặt đỏ tai nóng phát hiện — chàng vậy mà đang thoa một lớp phấn mỏng!

Hả?!

Bùi Thứ Chi thấy ánh mắt cô cổ quái, bật cười: “Chưa từng thấy bao giờ à?”

Lư Hội ngơ ngác lắc đầu — mãi đến giờ cô mới chợt nhớ, gương mặt đầy nếp nhăn của Thôi Huyền lúc nãy, chẳng phải cũng bôi phấn đó sao?

“Ở những gia tộc cổ xưa, phong thái đời Ngụy Tấn vẫn còn lưu lại.” Bùi Thứ Chi nhàn nhạt giải thích, “Có khi triều đình mở yến tiệc, nam tử cũng sẽ trang điểm sơ qua dung mạo, chỉ là không quá lố như xưa thôi.”

Lư Hội chẳng hiểu thế nào là “phong thái Ngụy Tấn”, kỳ thực cô thấy Bùi Thứ Chi điểm một chút phấn lại rất hợp, càng làm lộ rõ chân mày dài vắt tận đuôi mắt, sống mũi thẳng tắp, môi đỏ như son, đẹp đến mức lạnh lẽo uy nghiêm, tựa như thần Phật Tây Vực trong bức họa tường chùa Bà Lam, thần sắc mông lung, khó mà chạm đến.

Vì sao công tử thế gia vùng Trung Nguyên lại có dung mạo mang nét Tây Vực?

Dĩ nhiên đó không phải trọng điểm — Lư Hội lắc mạnh đầu, vội hỏi: “Thiếu tướng, tôi thật sự phải tới cái học quán gì đó đọc sách ư?”

“Gọi là cậu.” Bùi Thứ Chi chỉnh lời cô, “Không sai, cô phải đến Tiểu Sơn học quán.”

“Nhưng mà tôi không rành chữ nghĩa cho lắm, thiếu tướng ngài…” Bùi Thứ Chi liếc mắt một cái, ánh nhìn lạnh như băng, khiến Lư Hội lập tức đổi giọng: “Cậu… cậu nghĩ lại thử xem ạ.”

Bùi Thứ Chi đặt khăn xuống, kiên nhẫn giải thích: “Nếu cô muốn lấy lòng vị lão phu nhân kia, thì ít nhất cũng phải gặp được người trước đã. Nhưng lão phu nhân kia xưa nay sống kín đáo, thường ngày ngoài việc vào cung yết kiến, hầu như không bao giờ bước chân ra khỏi phủ. Cô định ở đâu mà chờ may, đợi vận? Hội ‘Nghe gió soi gương’ mỗi năm một lần ư? Hay là ngày lễ Phật ở chùa Bạch Mã mỗi năm hai dịp? Tiểu Sơn học quán mà cô sắp đến, viện chủ chính là ái nữ của cố nhân lão phu nhân. Lão phu nhân mỗi tháng một đôi lần sẽ ghé học quán ngồi chơi. Hiểu rồi chứ?”

Lư Hội ủ rũ cúi đầu: “Hiểu rồi… Nhưng mà tôi dốt chữ, nếu vào học quán lại làm trò cười thì sao? Tôi nghe nói từ bé cậu đã đọc sách rất giỏi, tôi sợ mình làm mất mặt cậu lắm.”

Bùi Thứ Chi thấy nên khích lệ một chút, kẻo tiểu cút con này bị dọa mà nản chí thực sự.

Chàng quay đầu lại, dịu giọng nói: “Đừng sợ. Có từng nghe câu này chưa? ‘Trượng nghĩa phần nhiều là kẻ đồ tể, phụ tình lại chính là bọn đọc sách.’ Ta từng gặp không ít anh hùng thảo mãng, chữ nghĩa chẳng quen, thế nhưng lại là bậc hào kiệt trượng nghĩa, vì lời hứa ngàn vàng, vì dân thường không quen biết, sẵn sàng liều mình tranh đấu, trừ gian diệt ác.”

Ánh mắt Lư Hội lập tức sáng lên.

“Có điều, nếu cô thi rớt cuối bảng trong học quán, thì đúng là có chút khó coi thật.” Chu Tư Thanh học vấn xuất chúng, Ngụy Quốc phu nhân hẳn chẳng ưa loại kẻ bất tài. Bùi Thứ Chi khẽ nhíu mày, “Vậy thì chỉ có thể…”

“Chỉ có thể nghiến răng học hành một trận thôi.”

“Chỉ có thể nhờ người chạy chọt một phen vậy.”

Cả hai cùng lúc mở miệng, thoáng ngẩn người, rồi nhìn nhau sững sờ.

Lư Hội vui như mở cờ trong bụng: “Hóa ra học quán ở Thần Đô cũng có thể nhờ vả quan hệ à?”

Bùi Thứ Chi bật cười: “Tiểu Sơn học quán có phải thi khoa cử đâu, tiểu nương tử đi học để mở mang kiến thức, chỉ cần vận dụng chút giao tình là được. Lão phu nhân vốn chẳng ưa kiểu trích kinh dẫn cổ, chỉ cần cô không xếp cuối trong thi khảo là đủ rồi, chưa hẳn phải biện luận như suối chảy.”

“Cậu giỏi thật đấy!” Lư Hội vui vẻ nhảy cẫng lên, nhào tới kéo tay áo bậc trưởng bối mới nhận này.

Không biết có phải vì hơi men còn chưa tan hết hay chăng, mà Bùi Thứ Chi lại không hất tay cô ra, để mặc thiếu nữ mặt mày rạng rỡ kia kéo tay áo chàng không buông.

“Thiếu tướng đừng dạy hư con nít nữa!” Giọng Lão Tống vang lên từ ngoài cửa. “Chữ nghĩa không đủ thì nên nghiêm túc đọc sách cho giỏi, sao lại đi tìm đường tắt như vậy cho được!”

Đi cạnh ông là một thanh niên đội kim quan, áo gấm uy nghi, thần sắc anh tuấn.

Lư Hội khẽ giọng hỏi: “Người này là ai vậy?”

Bùi Thứ Chi đáp: “Tín Lăng quận vương, người nhà cả.”

Lư Hội bừng tỉnh, lập tức bước lên nghênh tiếp.

Kính Tuyên sải bước tiến vào thư trai, miệng oang oang: “Bổn vương với thiếu tướng tình thâm như thủ túc, người nhà của ngài cũng là người nhà của ta, biểu muội của ngài chính là biểu muội của ta. Từ nay về sau, chuyện ăn mặc dùng gì đều do ta lo liệu, đảm bảo cô muốn gió có gió, muốn mưa có mưa…”

Lư Hội vội vàng kéo tay áo y, nhỏ giọng nói: “Điện hạ, điện hạ… thiếu tướng nhận nhầm vai vế rồi ạ, giờ tôi gọi người ta là ‘cậu’ cơ.”

Kính Tuyên sững người một thoáng, rồi lại nhanh chóng lấy lại thần thái, tiếp tục hùng hồn: “Bổn vương với thiếu tướng tình thâm như thủ túc, người nhà của ngài cũng là người nhà của ta, cháu ngoại gái của ngài chính là cháu ngoại gái của ta. Từ nay về sau, chuyện ăn mặc dùng gì đều do ta lo liệu, đảm bảo cô muốn gió có gió, muốn mưa có mưa…”

Lão Tống: …

Tử Liệt: …

Lư Hội ngoảnh đầu hỏi: “Thiếu… à không, cậu, vậy tôi cũng phải gọi điện hạ là ‘cậu’ sao?”

Bùi Thứ Chi đáp: “Không cần, cô cứ gọi là ‘điện hạ’ hoặc ‘quận vương’ là được rồi.”

Kính Tuyên làm ra vẻ oán trách: “Thế chẳng phải khách sáo quá rồi sao?”

Bùi Thứ Chi không thèm để ý, chỉ nói thẳng: “Hội Hội, hành lễ với Tín Lăng quận vương đi. Về sau một thời gian, hắn sẽ dẫn cô đi lại khắp nơi.” Chàng nhanh chóng đẩy rắc rối này ra ngoài, bản thân còn nhiều chính sự phải xử lý.

Lư Hội lập tức làm theo: “Vãn bối tham kiến quận vương điện hạ.”

Kính Tuyên sờ sờ mặt mình, cảm khái: “Sao bỗng dưng thấy mình già rồi nhỉ.”

Bùi Thứ Chi liếc y một cái: “Rượu chè nữ sắc làm người ta mau già.”

Kính Tuyên cười cợt: “Mưu quyền tính toán còn khiến người ta già nhanh hơn.”

Lư Hội nghĩ đến kẻ bụng dạ thâm sâu nào đó, bỗng thật lòng thở dài: “Phải đó…”

Bùi Thứ Chi trừng mắt: “Cô nói gì?”

Lư Hội vội vàng xua tay: “Không, không có gì hết, cậu đâu có già, cậu đang độ tuổi thanh xuân phơi phới!”

Kính Tuyên cười nghiêng ngả trên giường trúc.

Lão Tống từ tốn cảm khái: “So với tiểu cô nương như Hội nương, bọn ta đúng là đã già cả rồi.”

Lư Hội vội vàng lập công chuộc tội, liền bật dậy phản bác: “Tống tiên sinh nói vậy thì quá lời rồi, cậu dù có trông già đi nữa, cũng đâu đến nỗi phải xếp ngang hàng với tiên sinh chứ.” Rồi cô quay đầu lại, nở nụ cười lấy lòng: “Phải không, cậu?”

Bùi Thứ Chi khẽ nhắm mắt, thở ra một hơi nặng nề: “…Cô lui xuống nghỉ đi. Từ ngày mai, Tín Lăng quận vương sẽ dẫn cô đi gặp vài vị danh gia đương thời: có cầm sư Ngô Đại Xuyên, họa sư Nghiêm Tam Đấu, thần trống Tư Mã Hữu Nương, còn có mấy vị nho sĩ nổi tiếng. Cô phải quan sát nhiều, học nhiều, mở rộng tầm nhìn. Gặp người khác nhau thì phải có lễ nghi đối ứng khác nhau. Hiểu chưa?”

— Dẫu đã mang thân phận thương gia xuất thân thì dáng vẻ ứng đối lại càng không thể cẩu thả. Dù có giả vờ đi nữa, cũng phải dựng lên được cái tiếng rằng Hội nương Lư thị lan tâm huệ chất.

Lư Hội rầu rĩ: “Hiểu rồi…”

Cô hiểu quá đi chứ. Cái gọi là “giới thiệu”, chẳng qua là đi bái kiến hết người này đến người nọ, ngồi nghe mấy vị đó bụng phệ phồng mang trợn mắt khen tụng lẫn nhau, chán ngắt lại còn gò bó. E là cô chỉ có thể như hôm nay, cả buổi đóng vai tiểu thư ngoan ngoãn biết điều. Cô thở dài… Cô ngờ rằng mình giống hệt a gia, tám chữ số mệnh chẳng hợp với đất Thần Đô này.

Bùi Thứ Chi liếc nhìn cô một cái: “…Gặp mặt là được rồi, không cần xã giao lâu, rảnh rỗi cứ việc tự đi chơi.”

Ánh mắt Lư Hội lập tức sáng rỡ. Cô nhấc vạt váy dài vướng víu lên, hỏi ngay: “Cậu ơi, ngày mai tôi có thể mặc đồ nhẹ nhàng hơn không ạ?”

Thật ra ra ngoài chơi vẫn là mặc nam trang là tiện nhất. Vừa hay cô có mang theo mấy bộ nam phục mới may.

Bùi Thứ Chi dường như đoán được tâm tư cô: “Nam phục thì không được, mặc hồ phục đi.”

Lư Hội cúi đầu: “Mẹ không may hồ phục mới cho tôi…”

— Đã đến Thần Đô, dĩ nhiên Tạ Ngọc Phù chỉ cho con gái mặc toàn kiểu đoan trang nhã nhặn.

Bùi Thứ Chi: “Ta có chuẩn bị cho cô rồi.”

Lão Tống và Kính Tuyên cùng lúc quay đầu nhìn chàng đầy kinh hoảng.

Kính Tuyên tạm thời quên luôn chuyện trêu ghẹo, bật thốt: “Ngài thật là… chu toàn.”

Tử Liệt thì cúi đầu thấp đến mức như muốn dính vào ngực — chính hắn là người cầm bản danh sách dài ngoằng đến xưởng may, dặn dò phải ngày đêm gấp rút làm ra đủ loại y phục. Cũng hết cách, người cũ bên công tử kẻ thì đã chết, kẻ thì đã tan, chuyện cũ thôi đừng nhắc nữa.

“…” Lư Hội cảm thấy có gì đó là lạ: “Ờm… đa tạ cậu…”

Nhìn bóng thiếu nữ vui vẻ tung tăng chạy đi xa, Lão Tống chân thành cảm thán: “Thiếu tướng sau này nhất định sẽ là một người cha hiền từ.”

Bùi Thứ Chi trở nên cay nghiệt một cách lạnh lùng: “Phải chăng tiên sinh tự biết bản thân già rồi không làm cha nổi nữa, nên mới bỏ trốn khỏi trướng mỹ nhân đất Quy Tư?”

Lão Tống lập tức ngậm miệng, mặt già đỏ lựng như gan heo.

Kính Tuyên không nhịn được mà thở dài: “Lúc nhỏ ngài dịu dàng biết bao nhiêu, sao càng lớn tính khí lại càng nóng nảy thế này.”

Bùi Thứ Chi xoay đầu, lạnh nhạt nói: “Ta định mời Lăng Dương vương trở về.”

Lời đại sự chấn động như trời long đất lở ấy, thốt ra từ miệng chàng lại nhẹ nhàng như mây khói.

Nụ cười uể oải nơi khóe môi Kính Tuyên lập tức tan biến không dấu vết, còn Lão Tống thì ‘cạch’ một tiếng, làm rơi cả thẻ ngọc trong tay.

Một hồi lâu sau, Kính Tuyên mới khó khăn cất lời: “Ngài đã tính kỹ cả rồi?”

Bùi Thứ Chi đáp: “Mấy ngày trước bệ hạ lại lâm bệnh nhẹ một trận. Cứ kéo dài như vậy, ngai vàng thực sự sẽ rơi vào tay Chử thị mất.”

Kính Tuyên trầm mặc, không nói gì.

Lão Tống than: “Tuy rằng huynh đệ Chử thị tham tàn vô đức, nhưng rốt cuộc cũng cắm rễ tại Thần Đô mười mấy năm, phe cánh đông đảo trong triều, lại có không ít tay chân trong Vũ Lâm vệ và cấm quân.”

Ông liếc nhìn Kính Tuyên: “Lạc Xuyên vương bị giam lỏng trong cung, người ngoài khó lòng tiếp cận, còn Lăng Dương vương thì lưu đày phương xa. Một khi bệ hạ băng hà, Chử Thừa Cẩn sẽ thuận thế đoạt ngôi xưng đế.”

“Một khi Chử Thừa Cẩn đăng cơ, danh chính ngôn thuận, ông với ta là thuận theo hay không thuận?” Bùi Thứ Chi lạnh lùng nói tiếp: “Nếu không thuận, vậy thì phải lập tức nổi cờ khởi nghĩa, gươm đao chém giết.”

“Chi bằng mưu tính sớm từ bây giờ, đỡ để đến lúc đó tay chân luống cuống.”

“Kính Tuyên, ta mong cậu hiểu, đưa Lăng Dương vương hồi kinh là lựa chọn tốt nhất.”

Sắc mặt Kính Tuyên trở nên u ám, rất lâu sau mới cất tiếng: “Ta hiểu. Phụ vương ta cả ngày sống trong nghi thần nghi quỷ, lòng đầy sợ hãi, ngoài huynh trưởng Kính Nguyên ra thì hầu như không gặp ai cả.”

Đúng như dự liệu năm xưa của Bùi Ánh, lưng của Lạc Xuyên vương đã bị bẻ gãy rồi, không còn sinh nổi chút ý phản kháng nào nữa.

Kính Tuyên nghiến răng nói: “Phụ vương ta… là không được nữa rồi. Để bá phụ kế vị, dù sao cũng vẫn là giang sơn Lệ thị, còn hơn để chử Thị đoạt mất cơ nghiệp tổ tông. Nếu là ngài ra tay, vậy thì cứ thẳng tay mà làm. Cần ta làm gì, thì cứ mở miệng.”

Tiễn bước Kính Tuyên, bầu trời đã phủ lên một tầng lụa mỏng sẫm màu, ánh sáng dần dần phai nhạt.

Bùi Thứ Chi lặng lẽ nằm trên ghế hồ cạnh cửa sổ, thân hình cao gầy trắng trẻo ôm lấy một quyển cổ thư, gối đầu lên hương trúc dịu dàng, mắt hướng về bầu trời đêm thăm thẳm rải đầy tinh tú.

Lão Tống thong thả bước tới: “Thiếu tướng.”

“Có chuyện gì?”

“Thiếu tướng tốn công bày mưu tính kế như vậy.” Lão Tống chậm rãi nói, “Chẳng lẽ chỉ là để đưa Lăng Dương vương lên ngôi sao?”

Bùi Thứ Chi không đáp thẳng câu, chỉ nhẹ giọng: “Tôn ti có thứ tự, Lăng Dương vương so với Lạc Xuyên vương, danh phận chính đáng hơn.”

Lông mày Lão Tống nhíu chặt lại: “Bệ hạ hiện chỉ còn hai vị hoàng tử, một là Lăng Dương vương, một là Lạc Xuyên vương. Nếu ngài không muốn để huynh đệ Chử thị kế vị, thì ắt phải chọn một trong hai vị vương gia này mà phò trợ. Nhưng hai người đó…”

Ông lắc đầu, hiển nhiên là không mấy hài lòng: “Một kẻ thì ngu xuẩn nhu nhược, một người thì bị hù đến vỡ mật, suốt ngày sống trong sợ hãi, cả hai đều không phải nhân chủ cường minh.”

Bùi Thứ Chi chậm rãi nghiêng đầu, dung nhan thanh tú nhu hòa như ngọc, dưới ánh sao càng toát lên vẻ mỹ lệ khiến người khó rời mắt, đôi môi khẽ nhếch cười như chẳng để tâm: “Tiên sinh còn nhớ lời ước định giữa ta và người bảy năm trước không? Ta cứu mẹ con tỷ tỷ của người, lo liệu cho họ một đời yên ổn, đổi lại tiên sinh vì ta mà dốc lòng cống hiến. Vừa có thể báo thù cho Tiên đế, vừa có thể thi thố tài năng.”

Thần sắc Lão Tống trở nên nghiêm nghị: “Lão nhớ.”

“Tiên sinh cũng rõ.” Khóe môi Bùi Thứ Chi vẫn mỉm cười, nhưng ánh mắt đã rét lạnh thấu xương, “Thù hận giữa ta và Chử thị, tuyệt không kém gì người.”

“Nếu Lăng Dương vương không trở về, làm sao có thể khuấy cho nước đục lên được?”

Lão Tống như đã hiểu ra đôi phần, khẽ khom lưng: “Thiếu tướng ý chí đã quyết, lão phu lắm lời rồi.”

Ông bước thêm một bước, trầm giọng khuyên nhủ: “Xin thiếu tướng cẩn trọng. Năm xưa những vị lão thần từng một lòng hướng về Lăng Dương vương, nay đều không còn một ai sống sót.”

“Từ Vương Muội, Chu Trực Đoan, Lý Đức Chiêu, Lam Triệu Kỳ, Tề Chính Tiên, cho đến bao nhiêu ngự sử gián thần khác… không kể học vấn cao hay công lao lớn, dù cho từng ngồi đến chức tể tướng, chỉ cần dám khuyên phục quyền về cho Lệ thi, hoặc can gián lập người Lệ thị làm thái tử thì đều chết trong ngục, hoặc chết dọc đường lưu đày, không sót một ai. Thiếu tướng nhất định không thể đi lại vết xe đổ ấy.”

Bùi Thứ Chi ngồi thẳng dậy, ôn hòa nói: “Tiên sinh yên tâm, ta sẽ không dại dột dâng lời can gián đâu.”

Lão Tống ngắm kỹ sắc mặt chàng, nửa cười nửa hỏi: “Lẽ nào thiếu tướng đã có đối sách rồi?”

“Cũng có chút manh mối, tốt nhất là mai sẽ tìm người xác nhận thêm.” Nói đến đây, Bùi Thứ Chi chợt nở nụ cười nhàn nhạt: “Người có biết không, Thôi Tề lại trúng phải một người phụ nữ đã có chồng.”

Buổi trưa hôm sau, sau khi hạ triều, Bùi Thứ Chi trở về phủ, vừa bước vào đã cười với Lão Tống: “Quả nhiên không ngoài dự liệu, Chử Thừa Cẩn lại…”

Chàng vừa nói đến đoạn quan trọng, thì từ xa bỗng vang lên tiếng Tử Liệt kêu thất thanh: “Công tử! Công tử! Tống tiên sinh! Không ổn rồi! Người của phủ Tín Lăng quận vương đến báo, quận vương bị đập vỡ đầu, Lư tiểu nương tử cũng xảy ra chuyện rồi!”

Bùi Thứ Chi và Lão Tống cùng biến sắc.

Bùi Thứ Chi cau mày: “Không phải bọn họ đi bái kiến danh sư rồi sao?”

Lão Tống cũng như rơi vào sương mù: “Phải rồi, lão còn cẩn thận chọn ra hai khối thanh thạch làm lễ gặp mặt cho quận vương nữa cơ mà. Hội nương ăn no ngủ kỹ, hớn hở theo người ra cửa kia mà.”

Hai người nhìn nhau không hiểu, Bùi Thứ Chi thậm chí còn chưa kịp thay quan phục, đã cùng Lão Tống vội vàng chạy đến phủ Tín Lăng quận vương.

Vừa tới phủ, Bùi Thứ Chi trông thấy trước cổng có một thiếu niên anh tuấn vận hồ cừu, sắc mặt bối rối đứng ngồi không yên, phía đối diện, quản sự trong phủ đang liên tục đuổi khéo: “Công tử đi trước đi, đứng chình ình mãi ở đây làm gì! Muốn báo quan hả? Mà báo rồi thì khó thu xếp lắm đấy. Phủ chúng ta mà, điện hạ là người chính trực… sẽ không tra khảo nghiêm hình đâu…”

Bùi Thứ Chi sinh nghi, bước chân bất giác chậm lại. Lão Tống đã sớm xông vào như tên bắn, chàng đành phải theo sát.

Hai người được tỳ nữ dẫn vào nội đường phủ quận vương, chỉ thấy giữa sảnh có một thiếu nữ bị trói gô như bánh chưng, quỳ gối giữa đất. Kính Tuyên thì ngồi vắt chân trên ghế lớn, một tay ôm đầu đắp thuốc, quanh thân là bảy tám vị thiếp thất vừa khóc vừa loạn.

Lư Hội đứng ngẩn người bên cạnh, không biết nên làm gì cho phải.

“Cô giả ngốc cái gì! Còn không mau đứng ra nói rõ mọi chuyện cho bản vương!” Kính Tuyên giận đến phát rồ, quay đầu thấy Bùi Thứ Chi cùng Lão Tống đứng ở cửa, lập tức rống lên: “Cuối cùng ngài cũng tới! Chậm chút nữa là bản vương đi gặp Diêm Vương rồi!”

Lư Hội ngượng nghịu nói nhỏ: “Chỉ là vết thương ngoài da thôi mà, nào đến nỗi gặp Diêm Vương…”

“Cô còn dám nói!” Kính Tuyên giận dữ, “Đều do cô hại cả! Bản vương đúng là vì trọng nghĩa khinh thân mới đen đủi như thế!”

Y quay đầu hét lên: “Các cô đừng khóc nữa! Bản vương còn sống nhăn ra đây mà! Ầm ĩ chết đi được, nghe cũng không ra tiếng người! Nhiễm cơ, mang người đi hết cho ta!”

Từ sau rèm bước ra một phụ nhân trẻ tuổi, dung mạo đoan trang, dáng vẻ đoan thục uyển chuyển, tay bưng khay thuốc đưa cho Lư Hội: “Phiền Hội nương tử giúp đỡ.”
Rồi cô nâng giọng đôi chút: “Các muội muội, điện hạ có việc cần bàn, chúng ta tạm lui một lát.”

Dù lời lẽ nhẹ nhàng, nhưng hành động lại dứt khoát đến lạ, bất kể đám thiếp kia có bằng lòng hay không, đều bị sai tỳ kéo lui xuống.

Đợi mọi người rút hết, Bùi Thứ Chi bước đến, gỡ gói thuốc trong tay Kính Tuyên ra, chỉ thấy trán y sưng một cục to tướng, bầm tím như mực, còn có vài đường máu, hiển nhiên là bị vật cứng không đều đập trúng mà thành.

“Rốt cuộc chuyện gì xảy ra? Đừng vội chửi người, kể rõ ra trước đã.”

Kính Tuyên gắng nhịn đau, kể lại rành rọt: “Hôm nay bọn ta đến bái kiến họa sư Nghiêm Tam Đấu, uống trà, ngắm tranh, ta còn dâng lên hai khối thanh thạch. Nghiêm Tam Đấu khen A Hội là trầm tĩnh nhã nhặn…”

“Thực ra là khen tôi không nói năng gì.” Lư Hội chen vào.

“Cô câm miệng cho ta!” Kính Tuyên tức đến đau cả đầu, mắng như tát nước. “Họ Nghiêm đó thật đúng là keo kiệt! Thanh thạch quý như vàng, vậy mà hắn cũng chẳng giữ chúng ta lại dùng bữa. Ra khỏi nhà hắn, ta với A Hội đói đến ruột quặn thắt, bèn định lên chợ Bắc ăn một bát cơm Vương mẫu với mấy xiên thịt nướng Kim Linh. Ai ngờ mới vừa đến Đôn Hậu phường thì cái con điên này…” Y giơ tay chỉ vào thiếu nữ đang quỳ dưới đất, giọng đầy phẫn uất. “Nó đột nhiên lao ra, miệng thì hô hào toàn lời bẩn thỉu, rồi cầm cái hòm trang sức to tướng ném thẳng về phía ta. Ta lòng tốt che chắn cho A Hội, kết quả thành ra bộ dạng này!”

— Sau đó, gia đinh và vệ sĩ trong phủ vội xông ra, bắt trói thiếu nữ ấy mang về.

Lư Hội áy náy lên tiếng: “Đa tạ điện hạ… Thật ra tôi cũng né được, lần sau ngài không cần đỡ giúp tôi đâu…”

“Lại còn có lần sau?!” Mũi Kính Tuyên suýt nữa lệch hẳn đi vì tức.

Lư Hội dịu giọng dỗ dành: “Hay là ngài uống thuốc trước đã?”

“Cô định chọc ta tức chết sao!”

Bùi Thứ Chi đưa hai ngón tay kẹp lấy cổ áo Lư Hội, kéo cô lại gần: “Đặt thuốc xuống, đừng đánh trống lảng nữa. Nói rõ đi, chuyện gì xảy ra?”

Lư Hội né tránh ánh mắt chàng, lí nhí đáp: “Cô ấy… cô ấy hình như họ Chu Gia…”

Ánh mắt dài hẹp của Bùi Thứ Chi híp lại: “Chu Gia thị? Là người Sa Đà tộc?”

Lư Hội gật gù: “Phải, phải… cô ấy là người Sa Đà, tên cụ thể tôi không nhớ rõ lắm, chỉ biết cha cô ấy hình như là trưởng lão trong tộc…”

Bùi Thứ Chi nhìn dáng vẻ cô nói năng lộn xộn, liền xoay người chỉ vào thiếu nữ Chu Gia đang bị trói: “Tháo thứ trong miệng cô ta ra.”

Miệng vừa được giải thoát, thiếu nữ Chu Gia lập tức chửi ầm lên: “Tiện nhân Lư thị! Hóa ra ngươi trốn đến đây! Bảo sao cả Sa Châu lục tung lên cũng tìm không thấy ngươi! Ngươi đừng tưởng tìm được chỗ dựa thì ta không làm gì được!”

Lư Hội bất đắc dĩ: “Chúng ta đâu phải chưa từng giao thủ, cô đánh không lại ta, ta cần gì phải tìm chỗ dựa?”

Thiếu nữ Chu Gia nghẹn lời, càng giận dữ hơn: “Đồ đê tiện không biết xấu hổ! Ta đã thề sẽ rạch nát cái mặt của ngươi! Dù có mất mười năm tám năm, ta cũng nhất định khiến ngươi thân bại danh liệt!”

“Câm miệng!” Mặt Bùi Thứ Chi trầm xuống, giọng lạnh lẽo như băng: “Giữa thanh thiên bạch nhật, ngay dưới chân thiên tử, ngươi dám công khai hành hung? Mà còn dám đả thương hoàng thân quốc thích! Là sống chán rồi? Hay là bộ tộc ngươi có lòng tạo phản?”

Thiếu nữ Chu Gia cứng đờ, mặt ngơ ngác: “Tạo phản? Ai thèm tạo phản? Ta chỉ muốn tìm tiện nhân Lư thị này báo thù thôi mà!”

Lư Hội vỗ tay đánh bốp một cái, như vừa nhớ ra: “A, tôi nhớ rồi! Cô ấy tên là Chu Gia Lệ!”

Kính Tuyên chỉ cảm thấy trán càng thêm đau, giận dữ mắng: “Người ta xem cô như kẻ thù không đội trời chung, vậy mà cô đến cả tên người ta còn không nhớ nổi! Bị người ta truy đánh đến tận Thần Đô là đáng đời cô!”

Bùi Thứ Chi vừa ngồi xuống, vừa thản nhiên hỏi: “Giữa hai người rốt cuộc có thù hận gì?” — Hai cô nương ngây ngô cộng lại chưa tới ba mươi tuổi, có thể kết thâm thù đại hận gì cơ chứ?

“Cô ta cướp mất người trong lòng ta!” Chu Gia Lệ rưng rưng gào to: “Tiện nhân vô sỉ kia, dám quyến rũ vị hôn phu của ta!”

Tiếng tố cáo này vang như tiếng vịt luộc bị nhổ sạch lông, bốc thẳng lên tận trời, bay ba vòng rồi độn mất — đến cả khi Chử Thừa Cẩn tự mình xuống tóc làm sư cũng chưa chắc khiến người ta sửng sốt đến thế.

“Quyến rũ? Cô ấy?” Kính Tuyên phá lên cười: “Ha ha ha, cô ấy quyến rũ được ai chứ? Ha ha ha… a đau!” Cười chưa được dăm tiếng đã kéo trúng vết thương, khiến y ôm trán rên rỉ.

Lão Tống quay người đánh giá Lư Hội — tròn tròn, phúc hậu, ngoan ngoãn, chất phác thật thà, liền không nhịn được nói: “Chu Gia cô nương, hay là cô nhìn nhầm rồi.”

Nào ngờ Lư Hội lại thản nhiên thừa nhận: “Cô ấy không nhầm đâu, là thật đấy.”

Không khí trong phòng thoắt chốc trở nên kỳ diệu. Ba người nam tử, một già hai trẻ, cùng lúc quay phắt đầu, ánh mắt sắc như dao thi nhau chiếu thẳng tới.

Gửi phản hồi