Chương 6: Cuộc sống cung đình đầy cơ trí – Nhậm chức
*
Lư Hội sau khi trở về Bùi phủ, trước tiên đến bái kiến Tiết phu nhân. Cô dâng lên những món thổ nghi từ Tây Bắc cùng một chiếc lưới mới do chính tay cô đan. Bùi Thứ Chi vốn chẳng thiếu thứ gì quý giá, Tiết phu nhân trong cuộc sống thường nhật cũng chẳng hề thiếu thốn, nên món quà này tuy nhẹ mà tình ý lại nặng.
Tiết phu nhân vẫn mang dáng vẻ mơ màng, hành động như người mộng du. Bà cầm chiếc lưới, khẽ cau mày: “A Cao, ngươi đến xem, tay nghề của Trĩ Nương dường như không bằng xưa. Mấy chỗ thêu này thô ráp quá, cách phối màu cũng bình thường…”
Cao nương tử nén nỗi đau lòng, mỉm cười đáp: “Nay ngày tháng của chúng ta đã khá hơn, không cần phải dựa vào tay nghề để mưu sinh nữa. Tiểu nương tử thường ngày đọc sách, viết chữ, thưởng hoa, thăm bạn, tay nghề không bằng trước cũng là chuyện thường.”
Tiết phu nhân nở nụ cười nhẹ: “A Cao, ngươi nói đúng. Trĩ Nương ở tuổi này đáng lẽ nên vui chơi thoải mái, sau này lấy chồng rồi sẽ chẳng còn tự do như thế. Mỗi ngày phải hầu hạ cha mẹ chồng, mọi việc đều phải chu toàn, nếu không sẽ bị người trách mắng…”
Lư Hội thấy Cao nương tử lộ vẻ cảnh giác, vội cắt lời: “Chuyện cũ đừng nhắc lại, chỉ thêm phiền lòng. Cháu mang đến một bộ cờ Bác Lục mới, là lối chơi mới mẻ ở quê, mọi người học trước đi, tối nay chúng ta cùng chơi vài ván.”
Tiết phu nhân vui vẻ ôm lấy hộp cờ: “Được lắm, A Cao, ngươi cũng chơi cùng nhé.”
Cao nương tử len lén lau nước mắt, lúc tiễn Lư Hội ra cửa thì liên tục cảm tạ: “Đa tạ Hội nương. Cô giờ đây bận rộn, vậy mà vẫn thường xuyên ghé thăm, an ủi phu nhân chúng tôi. Nô thực lòng cảm kích khôn nguôi.”
Cao nương tử là người từng nếm trải khổ đau, hiểu rõ lòng người. Bà biết Lư Hội là người được Bùi Thứ Chi trọng dụng, việc cô quan tâm đến Tiết phu nhân chẳng qua là cái cớ. Vì thế, bà chẳng bao giờ xem sự chăm sóc của Lư Hội dành cho Tiết phu nhân là điều hiển nhiên.
Lư Hội trong lòng buồn bã, chẳng nói thêm gì, chỉ chào rồi rời đi. Tiết phu nhân tựa như một dòng suối nhỏ róc rách, giữa chừng bị sa mạc cắt đứt. Dù có đổ thêm bao nhiêu nước sống, cuối cùng cũng chỉ uổng công, kết cục đã định là cạn khô.
Rời khỏi nơi ở của Tiết phu nhân, Lư Hội rẽ sang viện phía Tây, dâng lên những món quà năm mới tương tự, nhưng không có chiếc lưới.
Khác với không khí tĩnh lặng, dịu dàng ở chỗ Tiết phu nhân, viện phía Tây toát lên vẻ xa hoa, trang nghiêm. Thôi lão phu nhân đã gần bảy mươi, vẫn được chăm sóc chu đáo, khí sắc hồng hào. Qua tấm bình phong thêu hình kỳ lân và phượng hoàng rực rỡ, Lư Hội thấy bà tựa trên chiếc giường Hồ khảm ngọc và xà cừ, tay cầm một chiếc búa nhỏ bằng san hô đỏ thắm, xung quanh là đám thị nữ xinh đẹp, lanh lợi vây quanh.
Bùi Thứ Chi là người chu đáo. Tuy cậu là giả, nhưng đã là trưởng bối thì phải đối đãi như thật. Vì thế, khi còn ở Đông Đô, cứ cách bảy tám ngày, chàng lại dẫn Lư Hội đến viện phía Tây. Một lần đến, hai lần thỉnh an, Bùi Thiếu Tướng làm việc luôn gọn gàng như thế.
Thôi lão phu nhân không khó hầu hạ, chỉ thích cao ngạo chỉ trích Lư Hội vài câu, nói vài lời chua chát, hoặc nhắc nhở Bùi Thứ Chi quan tâm đến nhà họ Thôi. Hễ nghe đâu có chức quan béo bở, bà liền mong cậu giả tiến cử con cháu Thôi thị.
Lần ấy, Lư Hội học một biết mười, lập tức tóm gọn: “Thiếu tướng, vị bá tổ mẫu này của người đúng là thân ở Tào doanh mà lòng ở Hán!”
“Ai là Tào doanh?” Bùi Thứ Chi liếc cô bằng ánh mắt lạnh lùng, “Sau này đọc sách nhiều vào, bớt làm trò cười.”
Nay cậu giả không còn ở Đông Đô, Lư Hội không thể ngừng việc “bày tỏ lòng hiếu thảo”.
“A Tiết dạo này thế nào?” Thôi lão phu nhân thong dong hỏi.
Lư Hội cúi đầu đáp: “Nhìn khí sắc tốt hơn nắm trước, chỉ là lò than sưởi liên tục, khó tránh khỏi ho khan.”
Thôi lão phu nhân khẽ cười: “Dùng cả núi thuốc bổ, khí sắc sao có thể không tốt? Bà ta đúng là có phúc…”
Chưa dứt lời, Lư Hội trong bụng đã thầm mắng. Cha mẹ anh em đều chết sạch, của hồi môn bị cướp mất, một thân một mình bị đuổi ra ngoài, vất vả nuôi con gái mười mấy năm, vậy mà con cũng bị cướp đi và hại chết. Thế này gọi là có phúc? Phúc này bà có muốn nhận không?
“…Bệ hạ ngự trị mấy chục năm, danh môn tan rã đâu chỉ một hai nhà. Bao nhiêu dòng họ lụi bại, dưới tổ nghiêng làm sao còn trứng lành? Đàn ông còn có thể tự mình tranh đấu tìm đường sống, còn nữ tử chỉ đành mặc người chém giết. A Tiết giờ đây ít nhất cũng được an hưởng tuổi già, không đến nỗi nghèo túng mà chết.” Thôi lão phu nhân chậm rãi nói.
Lư Hội lạnh lùng đáp: “Thế đạo đổi thay, càng nên nuôi con gái như hổ, dù không tranh được đường sống cũng có thể đánh đến cá chết lưới rách! Nuôi con gái như thỏ, một khi gặp người chẳng ra gì, khó tránh khỏi trở thành miếng mồi.”
Thôi lão phu nhân sững người, rõ ràng không ngờ lại nghe được lời này.
Đám thị nữ không dám cười đùa nữa, trong phòng lặng ngắt như tờ.
“Lúc đầu, khi Thất Lang đưa ngươi vào phủ, ta vốn không tán thành.” Bà lão trở lại vẻ thường ngày, hờ hững gõ chiếc búa san hô, “Nay xem ra, ngươi cũng có chút bản lĩnh, lại còn chen chân được đến bên bệ hạ, thậm chí có cả quan thân. Mấy chục năm nay, bên cạnh bệ hạ chỉ giữ được một Đoan Mộc Tuệ. Để xem ngươi trụ được bao lâu.”
“Không dám, đều nhờ Thiếu tướng dạy dỗ tốt.” Lư Hội đáp không mặn không nhạt, “Thiếu tướng bảo tôi ngu dốt, được bệ hạ chỉ điểm đôi chút đã là thụ ích vô cùng. Ở trong cung được một ngày là thêm một ngày đại lợi.”
“Lời này trả lời khéo lắm, kín như bưng.” Thôi lão phu nhân mỉm cười, “Ngươi không cần phải đề phòng ta. Các gia tộc chúng ta đồng khí liên chi, giúp nhau cùng vinh. Ngươi ở trong cung hầu giá, nếu có gió lay cỏ động, phải báo sớm mới được.”
Lư Hội ngẩng đầu: “Ngày trước nhà họ Tiết cũng đồng khí liên chi sao?”
Thôi lão phu nhân lập tức đổi sắc, nghiêm giọng hỏi: “Ngươi nói gì?”
Lư Hội đáp: “Nếu chỉ khi phồn hoa mới đồng tâm hiệp lực, lúc sa sút lại chẳng đoái hoài, thì cái gọi là đồng khí liên chi ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì.”
Nhà họ Tiết suy tàn, con gái bị nhà chồng ức hiếp, chịu khổ ngoài đời mười mấy năm mà chẳng thấy gia tộc nào ra tay giúp đỡ. Thậm chí, đến người đưa tin cho đôi vợ chồng Đậu Đàm để chịu tang cũng chẳng có, chẳng phải vì thấy nhà họ Tiết không còn nam đinh, vô vọng rồi sao?
Huống chi, gia đình mà Tiết phu nhân gả vào cũng là thế tộc có tiếng tăm ở địa phương. Phì, thế tộc chó má!
Thôi lão phu nhân nhìn cô chằm chằm, Lư Hội không chút sợ hãi, đối diện thẳng thừng.
Một lát sau, Thôi lão phu nhân bỗng cười: “Nhà họ Tiết chống lại bệ hạ, tội đáng muôn chết. Bệ hạ lòng dạ nhân từ, không liên lụy đến con gái đã gả đi, đó đã là ân điển lớn lao. Lang quân là do A Tiết tự chọn, nhà chồng là nhà họ Tiết tự tìm, con gái sau khi xuất giá sống không tốt, liên quan gì đến người ngoài? Xét về công hay tư, chúng ta đều không tiện nhúng tay. Ai ngờ tên súc sinh ấy lòng lang dạ thú, hại chết con gái ruột, chúng ta mới buộc phải ra tay.”
Lời này mới thực là kín kẽ không kẽ hở. Lư Hội trừng mắt hồi lâu, mới từng chữ từng câu nói: “Cao kiến của Lão phu nhân, vãn bối xin thụ giáo.”
Thôi lão phu nhân mỉm cười, vung tay một cái. Hơn chục thị nữ như những con rối, đồng loạt im lặng lui ra, chỉ để lại một bà vú già lặng lẽ đứng hầu ở góc phòng.
Thôi lão phu nhân dịu giọng nói: “Vừa rồi là lão thân thất lễ. Hội nương tuy còn trẻ, nhưng xa đến là khách, lão thân không nên ỷ vào tuổi cao mà buông lời khinh mạn. Nghe nói song thân của Hội nương năm xưa không dựa vào chút bóng mát nào của gia thế, hoàn toàn dựa vào đôi tay đôi chân mà gây dựng nên cơ nghiệp lớn lao. Thật đúng là anh hùng xuất thiếu niên, đáng kính đáng nể!”
Lão phu nhân đổi sắc mặt nhanh như lật sách, thoáng chốc từ vẻ cao ngạo, hờ hững chuyển sang giọng điệu thân thiết, ôn hòa. Thậm chí bà còn hạ mình khen ngợi đôi câu về gia đình thương nhân, khiến Lư Hội không giấu nổi vẻ kinh ngạc.
Thôi lão phu nhân khẽ nghiêng người về phía trước, thần sắc càng thêm hòa nhã: “Nhà họ Thôi nay tuy đã suy vi, nhưng thuyền hỏng vẫn còn ba cân đinh. Đời người sống trên thế gian, ắt có lúc cần đến người khác. Nhà họ Lư cũng vậy, Hội nương nghĩ sao?”
Lư Hội há miệng, định thẳng thừng từ chối, nhưng nghĩ đến cha và mẹ, cô lại không dám đắc tội nhà họ Thôi quá mức.
Thôi lão phu nhân mỉm cười: “Làm điều thiện cho người khác, chính là làm điều thiện cho chính mình. Lão thân cả gan nói một câu, con người ta không nên chỉ để lại cho mình một con đường lui. Hội nương nghĩ thế nào?”
Nụ cười của lão phu nhân cao quý mang nét bí ẩn, như thể bà biết hết mọi chuyện. Vì một lý do nào đó, Bùi Thất Lang đã đưa cô gái trước mặt này đến, để đạt được một mục đích nào đó.
Bà không hỏi gì, chỉ ám chỉ một cách kín đáo rằng, nếu đã là mối quan hệ lợi dụng lẫn nhau, thì mọi người đều có thể hợp tác.
Lư Hội đầu óc choáng váng bước ra khỏi phòng.
Cậu giả đúng là không nói sai, phàm những ai sống sót qua cơn mưa máu gió tanh năm xưa, kẻ nào cũng là lão hồ ly nghìn năm.
–
Sáng hôm sau, Lư Hội vào cung nhận ngư phù mới. Quan phục của cô vẫn xanh biếc như cũ, nhưng thắt lưng giờ được đặc cách đeo dây vàng.
Lư Hội vội vàng đeo con dao trang điểm nhỏ và móc ngọc mà Bùi Thứ Chi đã chuẩn bị sẵn cho cô lên dây lưng. Đặc biệt, chiếc hộp thuốc nhỏ tinh xảo, làm hoàn toàn bằng bạc nguyên chất, chạm khắc hoa văn tiên hạc ngậm cành tùng bằng vàng, nắp hộp còn khảm hơn chục viên hồng ngọc và lam ngọc cỡ hạt đậu.
Đoan Mộc Tuệ đứng bên cạnh nhìn mà mí mắt giật giật, đúng là phong cách điển hình của Bùi Thứ Chi.
Lư Hội nhìn thấy vẻ mặt của Đoan Mộc Tuệ.
Giờ đây cô đã gặp không ít công tử thế gia, nhưng chẳng ai sống tinh tế như Bùi Thứ Chi. Từ một ngụm nước, một miếng ăn, một tấm áo, một dải lưng, chàng đều tỉ mỉ đến mức cầu kỳ. Phải biết rằng trong hai mươi tám thế tộc, Bùi thị Hà Đông không phải nổi danh vì giàu sang. Không rõ cái thói xa xỉ này của cậu giả là từ đâu mà có.
Lư Hội vào điện bái kiến.
Nữ hoàng liếc nhìn cô vài lần: “Mới mấy ngày mà mặt đã tròn ra một vòng. Quan phục còn vừa không?”
Lư Hội đỏ mặt: “Vừa, vừa ạ.”
Nữ hoàng cười lớn: “Có Hội nương chia sẻ gánh nặng, Tuệ Nhi cũng được nghỉ ngơi đôi chút.”
Đoan Mộc Tuệ giơ tay hành lễ: “Được hầu bên cạnh bệ hạ, Tuệ Nhi tam sinh hữu hạnh, nào dám nói đến nghỉ ngơi. Chỉ là hiện nay Tuệ Nhi phụng chỉ bệ hạ biên soạn Phụng Nghi Kinh Thế Tập, thực sự phân thân không nổi, bất đắc dĩ phải làm phiền Hội nương.”
Lư Hội vội xua tay: “Không phiền, không phiền…”
Nữ hoàng khẽ thở dài: “Trẫm cả đời này làm bao việc, lập bao chí hướng, luôn muốn lưu lại một dấu ấn. Tuệ Nhi, hãy dồn tâm sức, Kinh Thế Tập sau này sẽ theo trẫm vào lăng tẩm.”
Đoan Mộc Tuệ thần sắc cung kính: “Bệ hạ yên tâm, Tuệ Nhi nhất định dốc hết tâm sức!”
Phụng Nghi Kinh Thế Tập là một bộ sưu tập chú giải do Nữ hoàng hạ chỉ cho Đoan Mộc Tuệ biên soạn. Phần thượng ghi chép hành trình của Nữ hoàng từ lúc còn hèn mọn cho đến khi lên ngôi cửu ngũ chí tôn. Phần hạ là những tâm đắc về trị quốc lý chính cùng hoài bão chí hướng của Nữ hoàng, tổng cộng khoảng một trăm quyển.
Lư Hội lấy mình suy người, cảm thấy quyết định này vô cùng đúng đắn. Dù sao Nữ hoàng sau này ắt sẽ bị người đời bàn tán, chi bằng tự mình viết trước. Bộ sách này có thể coi là tổng kết cả đời Nữ hoàng, cần người được Nữ hoàng cực kỳ tin cậy để chủ trì. Người này phải văn bút xuất chúng (sách phải viết hay), lại cần hiểu rõ Nữ hoàng (nội dung phong phú, xác thực), và phải một lòng hướng về Nữ hoàng (khi cần thì dùng lối viết Xuân Thu). Xét khắp triều đình, quả thực chỉ có Đoan Mộc Tuệ đủ sức đảm đương trọng trách này.
Càng nghĩ, Lư Hội càng thấy hợp lý, trong lòng tự đắc, cảm thấy mình quả là thông minh lanh lợi.
Đoan Mộc Tuệ đã hầu hạ bên Nữ hoàng gần ba mươi năm, gánh vác không ít trách nhiệm.
Ban đầu, bà chỉ thay Nữ hoàng soạn thảo một số khẩu dụ. Sau này dần được Nữ hoàng tin cậy, có thể thay Nữ hoàng phê duyệt các tấu chương thông thường, hai việc này Lư Hội không làm được. Soạn thảo chiếu thư thì văn bút của cô chưa đủ, phê duyệt tấu chương thì cô chẳng hiểu nổi những ẩn ý quanh co trong đó.
Đoan Mộc Tuệ đôi khi còn phụng mệnh tham vấn ý kiến quan viên tam tỉnh lục bộ, điều phối chính lệnh, đốc thúc thi hành, thậm chí triệu tập các quan lại liên quan để phân công nhiệm vụ, đồng thời luôn báo cáo tiến độ cho Nữ hoàng, việc này Lư Hội cũng không làm nổi. Chính sự là chuyện lớn, không quan sát chính sự ba năm năm, căn bản không thể xen vào.
Ngoài ra, Đoan Mộc Tuệ còn chủ trì biên soạn các điển tịch chính thức. Mỗi dịp lễ tiết hay khi sứ giả ngoại bang đến thăm, bà tổ chức yến tiệc thơ ca trong cung, Lư Hội lo rằng thơ lục bát của mình sẽ làm nhục quốc thể, nên việc này cô cũng chẳng thể đảm đương.
Quan trọng nhất, khi biên soạn điển tịch hay bình phẩm thơ văn, Đoan Mộc Tuệ có thể tiến cử những người bà cho là tài hoa xuất chúng, người thường khổ học mấy chục năm, chỉ cần một lời của Đoan Mộc Tuệ là có thể bước lên thang trời. Quyền lực này quá lớn.
Lư Hội thầm nhủ, Đoan Mộc Tuệ vốn văn tài xuất chúng, danh vang thiên hạ. Bà nói ai tài cao tám đấu, Nữ hoàng sẽ tin. Nếu đổi lại là tiểu nương tử Lư Hội nói ai tài cao tám đấu, e rằng Nữ hoàng chỉ cười rồi hỏi ngược lại: “Cái đấu của ngươi to bằng miệng bát thôi đúng không?”
Vẫn nên đừng tự chuốc lấy nhục.
Việc duy nhất Lư Hội có thể giúp Đoan Mộc Tuệ là sắp xếp tấu chương cho Nữ hoàng và ghi chép hàng ngày các cuộc họp lớn nhỏ cùng thảo luận chính sự giữa Nữ hoàng và triều thần.
Hai việc này không chỉ vụn vặt mà còn tốn thời gian. Đặc biệt, Nữ hoàng tính tình nóng vội, hễ nghĩ ra việc gì, dù nửa đêm cũng triệu kiến trọng thần. Trước đây, Đoan Mộc Tuệ gần như phải túc trực ngày đêm, thậm chí có vài gian phòng riêng ở bên điện ngủ của Nữ hoàng. Nay thì chia đôi, ban ngày thuộc về Lư Hội.
Lư Hội rất tự biết mình. Cô cẩn thận ghi chép mọi việc ban ngày, văn bút vụng về cũng chẳng sao, chỉ cần chi tiết đầy đủ. Trước khi tan ca, cô mang bản ghi chép cho Đoan Mộc Tuệ xem lại và trau chuốt, cuối cùng chép thành những câu từ tinh tế, tao nhã. Một số bản ghi quan trọng sẽ được lưu trữ và niêm phong ngay trong ngày.
Nghĩ đến đây, Lư Hội không khỏi đoán, liệu Đoan Mộc Tuệ dễ dàng chấp nhận cô làm trợ thủ có phải vì văn bút của cô quá thô thiển, chẳng thể cấu thành uy hiếp? Chứ không phải như lời Mạt Tử nói, “sóng gấp buồm căng, sinh ra ý nghĩ khác thường” chứ?
–
Bùi Thứ Chi từng nói, dù chuyện kinh ngạc khó chịu đến đâu, chỉ cần qua bảy ngày là có thể thở phào một hơi, mười bốn ngày thì dần quen, hai mươi mốt ngày thì coi như bình thường.
Bảy ngày đầu tiên Lư Hội chính thức nhậm chức trôi qua trong chớp mắt. Mỗi buổi chiều tan ca, cô như người mất hồn.
Cô từng nghĩ Nữ hoàng đã lớn tuổi, dù bận rộn cũng chẳng bận đến đâu. Nhưng quốc sự chẳng vì tuổi tác của hoàng đế mà nương tay. Dù hoàng đế hai mươi hay tám mươi tuổi, ngàn đầu vạn mối chính sự vẫn cuồn cuộn tràn đến ngự án, ngày nào cũng không ngừng.
Tấu chương từ các địa phương và các bộ trình lên mỗi ngày đầy một sọt. Nếu may mắn, gió thuận mưa hòa, thiên hạ thái bình, mỗi ngày chỉ khoảng bảy tám chục bản. Đoan Mộc Tuệ bảo, nếu gặp chiến sự lớn, hai trăm bản cũng không đủ.
Số tấu chương này cần Đoan Mộc Tuệ và Lư Hội sắp xếp trước. Mỗi tấu chương kèm một mảnh giấy, trên đó ghi nội dung tóm tắt không quá năm mươi chữ, đảm bảo Nữ hoàng chỉ cần liếc qua là biết ngay nội dung thuộc lĩnh vực nào.
Đoan Mộc Tuệ một mắt đọc mười dòng, suy nghĩ cực nhanh. Một chồng tấu chương dày, bà chỉ cần lướt vài cái là nắm được điểm mấu chốt, rồi hạ bút như bay viết xong mảnh giấy. Nửa canh giờ, bà có thể xử lý khoảng mười tấu chương.
Lư Hội thì khổ sở vô cùng. Đọc chậm, viết còn chậm hơn. Có khi đọc ba lượt vẫn chẳng hiểu tấu chương rách nát này viết gì, chỉ muốn cầm dao xông đi chém tên quan cẩu ấy, thi khoa cử kiểu gì mà lời lẽ chẳng rõ ràng! Đông kéo tây lôi, văn tứ lục, khoe học thức giỏi lắm sao?
Ba đêm đầu nằm trên giường, cô toàn thân vô lực, đầu óc ù ù, vô số câu chữ hóa thành bướm đêm bay lượn trước mắt. Đến ngày thứ bảy, cô gần như hấp hối, cuối cùng không nhịn nổi, tìm đến quản sự vô danh của Lộc Dã Đường, nhờ hắn nhanh chóng gửi thư cho cậu giả.
Trong thư, cô miêu tả chi tiết nỗi khổ của mình, từng chữ như máu hòa lệ, khiến người đọc phải xót xa. Lư Hội cảm thấy lá thư này quả là đỉnh cao văn chương cả đời mình. Cuối thư, cô hỏi liệu có thể tiến cử Vương Hòa Vi cùng phụng sự Nữ hoàng, Hòa Vi học vấn uyên thâm, mới là người thích hợp làm nội đình tư trực!
Nửa năm trước, Lư Hội xem một bức chữ do huyện lệnh viết còn phải đoán già đoán non mới nhận hết chữ, vậy mà giờ đây chẳng hiểu sao lại lọt vào bên cạnh Thiên Tử, ngày ngày vật lộn với núi sách biển văn. Nhân sinh biến đổi kỳ diệu đến thế, còn gì kỳ lạ hơn nữa chăng?
Ai đó quản lão thiên gia một chút đi, có phải ăn nhầm ngũ thạch tán rồi không, ra đây nói chuyện nào!
Đến ngày thứ mười bốn, Lư Hội vẫn ăn không ngon, ngủ không yên, thư hồi âm của cậu giả vẫn chưa tới. Nhưng nhờ sự chăm sóc của Đoan Mộc Tuệ, cô dần dần thích nghi, không còn thấy chữ là hoa mắt nữa.
Tấu chương tuy nhiều, nhưng việc có nặng nhẹ, khẩn cấp khác nhau. Phàm là những việc liên quan đến bổ nhiệm quan viên, động tĩnh nơi biên cương, hay thiên tai nhân họa, Nữ hoàng nhất định phải xem. Những việc khác có thể chậm lại một hai ngày cũng chẳng sao. Nếu gặp tấu chương quan trọng, Nữ hoàng còn sai người chuyển cho các vị Tể Tướng cùng bàn bạc.
Nếu không có đại sự, hai người họ cố gắng đảm bảo Nữ hoàng xử lý xong tấu chương trong hai canh giờ buổi sáng. Nhưng Nữ hoàng chẳng bao giờ rảnh rỗi. Xong tấu chương, ngài hoặc triệu kiến tân quan để vấn đáp, hoặc đến diễn võ trường xem cấm vệ võ sĩ tỷ thí, đôi khi còn kéo Lưu Ngữ cùng vài lão thần trò chuyện (thực ra Lư Hội thấy họ từng lời đều sắc bén như lưỡi dao). Chỉ đến những lúc thưởng hoa, nghe nhạc, nghỉ ngơi, Đoan Mộc Tuệ và Lư Hội mới không cần có mặt để ghi chép.
Lư Hội đoán rằng Nữ hoàng còn có những con đường khác để thu thập tin tức, như mật báo của Ngụy Quốc phu nhân hay tấu chương mật trong hòm đồng khóa kín.
Hiện tại, hai việc lớn nhất trên triều đình là cứu tế thiên tai và trấn áp giặc cỏ. Một ngày Lư Hội có thể đọc năm sáu bản tấu chương của Đường Nghĩa Phương, nhưng tấu chương của cậu giả, cô chỉ thấy đúng hai bản: một bản nói chàng đã đến địa phương, bản thứ hai nói mọi việc thuận lợi.
Nữ hoàng không hề nhắc đến, các Tể Tướng ở Chính Sự Đường cũng rất ăn ý chẳng hỏi một lời. Nhưng Lư Hội biết, cứ hai ngày một lần, Ngụy Quốc phu nhân lại báo cáo hành tung của gia đình Lăng Dương Vương cho Nữ hoàng. Cù Tùng Phong cũng thỉnh thoảng mang đến một hòm đồng khóa kín, bên trong là tấu chương mật của các quan viên không rõ danh tính từ khắp nơi. Lư Hội cá rằng trong đó chắc chắn có tấu chương của cậu giả.
Đến ngày thứ hai mươi mốt, Lư Hội cuối cùng nhận được thư hồi âm của Bùi Thứ Chi. Quản sự vô danh của Lộc Dã Đường còn mang theo một lời nhắn: ngoài trời lạnh giá, Thiếu tướng bảo nương tử may hai chiếc áo tay lông thú gửi đi, dùng tấm da chồn xám ngọc trai trong kho.
Lư Hội cười khẩy hai tiếng, qua loa với quản sự, rồi vội về phòng mở thư.
Thư chỉ có bốn dòng, mỗi dòng hai chữ:
Đần độn, chư tướng,
Cô thần, đần độn,
Đần độn, cô thần,
Tài tướng, đần độn.
Lư Hội lật qua lật lại tờ thư, tìm mãi chẳng thấy chữ thứ chín.
Cô nghĩ ngợi, phun hai ngụm nước lên thư, bôi chút nước cam chua, lại hơ trên ngọn đèn.
Bận rộn cả buổi, chẳng thu được gì.
Cô ngồi bệt xuống sàn, tức tối thở phì phò. Quả nhiên cô nghĩ nhiều rồi, thư chẳng có mật mã gì, chỉ đúng tám chữ này.
Dựa vào “tu vi” hai mươi mốt ngày của mình, cô dịch nội dung như sau:
“Hỏi chuyện như thế này, cô đần độn sao? Vương Hòa Vi có chị là Vương Lãnh Tường, danh tài còn lẫy lừng hơn, từng được Nữ hoàng triệu kiến và khen ngợi. Nếu Nữ hoàng muốn dùng Vương Hòa Vi, còn cần cô tiến cử sao?”
“Dùng cái đầu ngập nước của cô mà nghĩ cho kỹ, vì sao Đoan Mộc Tuệ ở bên Nữ hoàng được ba mươi năm? Thiên hạ chỉ có mình bà ta là tài hoa trung thành sao? Vì bà ta là cô thần, hiểu chưa, cô thần!”
“Cô không phải cô thần thì sao được dùng? Thứ nhất, nhà cô gia thế thấp kém, cha chỉ là thương nhân chẳng hiểu chính sự. Thứ hai, những gì cô biết về triều chính, các Tể Tướng phần lớn cũng biết, trong đó có cả ta — Thiếu tướng tài hoa xuất chúng, nên chẳng cần kiêng dè cô. Nếu việc bị lộ, trách nhiệm chỉ đổ lên đầu kẻ xui xẻo là ta. Nhà Vương Hòa Vi đông người, lắm miệng, mấy đời chẳng ai làm quan trên lục thất phẩm, Nữ hoàng làm sao yên tâm để nàng ta ở bên?”
“Đần độn, ôi đần độn, sau này làm gì cũng suy nghĩ kỹ trước khi mở miệng!”
Một lá thư chỉ tám chữ, vậy mà có đến bốn chữ mắng cô, Lư Hội phùng má, càng nghĩ càng tức.
Còn áo tay lông thú? Còn da chồn xám ngọc trai? Mơ đi nhé!
Họ Bùi, người cứ ở ngoài đó đừng về nữa!
—
Tác giả có lời muốn nói:
Cậu giả có lẽ cuối chương sau sẽ trở về.
