Chương 22: Dư ba (*)
(*) Dư ba: gợn sóng còn lại; thường dùng để ví ảnh hưởng còn lưu lại của một sự kiện lớn đã kết thúc.
*
Nhiều năm sau, khi Lư Hội hồi tưởng lại vụ án đầu độc từng chấn động một thời này, cô vẫn cảm thấy cách “kết án” của người cậu giả kia quả thực là diệu đến đỉnh cao, diệu ở chỗ kẻ ngoại đạo thì không ai không tin, người trong nghề nhìn thấu cũng sẽ không nói toạc ra.
Ngay từ đầu, mạch suy nghĩ của Bùi Thứ Chi đã khác hẳn với tất cả mọi người.
Đêm yến tiệc trong cung ấy tuy người đông việc loạn, nhưng trong mắt chàng chỉ có ba loại người — Chử thị, Lệ thị và đám nô tỳ; hung thủ thật sự, suy đi tính lại cũng không thể vượt ra khỏi ba loại này.
Nếu hung thủ xuất thân từ nô tỳ, thân phận quá thấp, Cù Tùng Phong tất khó tránh khỏi tội quản thúc cung nhân bất lực.
Nếu hung thủ đến từ tiền Chử thị hoặc Lệ thị, vậy thì liên lụy sẽ là luân thường hoàng thất, thân tộc tàn sát lẫn nhau, lại càng khiến người ta suy diễn. Nữ hoàng rốt cuộc phải tàn độc, âm hiểm, bạo ngược đến mức nào, mới bức ép cốt nhục huyết thân ra tay sát hại lẫn nhau?
Bởi vậy, gần như ngay từ khoảnh khắc biết được nội tình vụ án, Bùi Thứ Chi đã đoán trước rằng, với tính tình chấp pháp công chính của Trang Hoài Trinh, tuyệt đối không thể khéo léo xử lý vụ này, cần phải sớm tìm ra một “hung thủ đáng tin”.
Nghiêm Bảo Phương chính là lựa chọn vô cùng thích hợp.
Thứ nhất, huynh trưởng của ông ta là Nghiêm Tuấn Huy, hung danh lẫy lừng, đến nay vẫn đủ sức dọa trẻ con nín khóc ban đêm. Dưới cái bóng hung danh ấy, đệ đệ gây ra đại án đầu độc trong cung yến, một hơi sát hại bốn vị hoàng tôn, mới khiến người ta tin phục.
Thứ hai, Nghiêm Tuấn Huy vốn là ác đồ bị chính tay Nữ hoàng xử quyết, Nghiêm Bảo Phương nuôi lòng báo thù, cuối cùng công bại thùy thành, kết cục như vậy, không hề tổn hại thanh danh của Nữ hoàng.
Sau khi Nghiêm Bảo Phương bị lăng trì xử tử, trong ngoài triều đình đều đồng loạt vỗ tay khen ngợi, còn một đám trọng thần trong Chính Sự Đường, dù trong lòng biết rõ tất có uẩn khúc, nhưng cũng đều làm ra vẻ tin tưởng không nghi ngờ.
Lư Hội không nhịn được hỏi một câu, lẽ nào chân tướng cứ thế bị chôn vùi sao?
Bùi Thiếu tướng cười rạng rỡ như ánh xuân: “Hội Hội lại nói lời ngốc rồi. Trên triều đình, trong cung cấm, thứ không quan trọng nhất chính là chân tướng. Hoặc là…”
Chàng ghé sát tai Lư Hội, giọng nói âm trầm lạnh lẽo: “Rốt cuộc thế nào mới gọi là chân tướng.”
Bề ngoài mà nhìn, chân tướng là mấy vị hoàng tôn bị giam cầm nơi thâm cung cùng hai tên hoạn quan thấp hèn thông đồng gây án; nhưng đào sâu hơn nữa, nguyên nhân tầng đáy lại là do Nữ hoàng bức sát Thái tử bị phế, nâng đỡ Lương Vương, trọng dụng ác quan, mới dẫn đến việc ba người vốn chẳng liên quan gì với nhau ấy, bằng một cách thức kỳ lạ, liên thủ trả thù.
Dưới hoàng quyền của các triều đại xưa nay, rốt cuộc có bao nhiêu chân tướng như thế bị vùi lấp trong vực sâu vô tận?
–
Sự việc liên quan quá lớn, cho dù đối diện ba người bạn thân, Lư Hội cũng không dám tiết lộ nửa phần nội tình.
Dư Xảo Nương lúc thì kinh ngạc trước tâm địa hiểm ác của đệ đệ tên ác quan, lúc thì vì tình tiết hung hiểm của vụ án mà dậm chân thở dài, thuộc hẳn phái tin tưởng không nghi ngờ; Vương Hòa Vi tuy đọc sách không ít, nhưng rốt cuộc trải đời còn nông, nàng cho rằng thế sự vô thường, chuyện gì cũng có thể xảy ra; chỉ có Lâm Mạt Tử đã quen chứng kiến tranh chấp gia tộc là nêu ra nghi vấn.
“Gã Nghiêm Bảo Phương này tán tận gia tài, thân thể tàn phế, ở chốn thâm cung làm những việc hèn mọn hơn mười năm, đủ thấy vì mạng sống, ông ta cái gì cũng có thể buông bỏ. Vậy cớ sao lại đột nhiên không thể nhẫn chịu oán hận, phẫn nộ mà báo thù?”
Vương Hòa Vi nói: “Chuyện này cũng chưa chắc. Như Tề Thế Tông Cao Trừng năm xưa, văn võ song toàn, mưu tính kín kẽ, vậy mà trăm điều cẩn mật lại sơ sẩy một chỗ, chết trong tay một tên thiện nô nhỏ bé, ai có thể ngờ tới chứ?”
Lâm Mạt Tử không đồng tình: “Văn Tương Đế ấy là kiêu ngạo quá mức. Tên thiện nô kia đâu phải hạng tầm thường, phụ thân hắn là danh tướng Nam triều, từng nhiều lần muốn dùng trọng kim chuộc lại đứa con bị bắt. Văn Tương Đế không giết cũng chẳng thả, cứ khăng khăng giữ con nhà tướng lại trong phủ làm nô dịch, khác nào tự rước họa vào thân.”
Vương Hòa Vi đáp: “Muội cũng nói là Tề Thế Tông kiêu ngạo quá mức, nhưng bệ hạ đương triều đâu phải như vậy.”
Hai người tranh luận mãi không phân thắng bại, liền cùng quay sang nhìn Lư Hội.
Lư Hội thần sắc nghiêm trọng: “Tề Thế Tông thì ta biết, còn Văn Tương Đế là người thế nào của ông ta? Ta hiểu rồi, Văn Tương Đế thấy Tề Thế Tông có ý vấn đỉnh, nên mới muốn hại chết ông ta!” Cô mơ hồ nhớ rằng, Tề Thế Tông khi còn sống chưa từng đăng cơ, ngôi hoàng đế là được truy phong sau khi mất.
Lâm Mạt Tử & Vương Hòa Vi:
“……”
Dư Xảo Nương ghé sát tai cô, nhỏ giọng nói: “Hai người đó là cùng một người, muội không thể bỏ bê việc đọc sách được đâu.”
–
Tin tức liên tiếp bốn vị hoàng tôn đã trưởng thành bỏ mạng phải hơn nửa tháng sau mới truyền ra huyện Dương ngoài thành. Lư Trí Nam nghe xong, đến cá cũng chẳng buồn câu, chạy thẳng lên tửu tứ trà lâu trong trấn để nghe ngóng đủ mọi lời đồn, tối về lại kể cho Tạ Ngọc Phù nghe.
“……Đại khái là như thế, gã họ Nghiêm kia cuối cùng cũng mua chuộc được nô tỳ chuyên lọc rượu, đem viên sáp ong bọc kịch độc dán vào mặt trong vò rượu. Y Lam, con đừng có chen ngang, vò rượu rót đầy rượu lạnh vào rồi thì ai mà nhìn ra được.”
“Cho nên ban đầu mới thử không ra độc, đợi đến lúc hâm rượu, sáp ong tan chảy, kịch độc liền thần không hay quỷ không biết mà hòa vào rượu. Y Lam, im miệng, trong cung quy củ lớn, con tưởng ai cũng như con, dám lén nếm rượu ngon trước sao?”
“Ôi chao ôi chao, không hổ là em ruột của kẻ đứng đầu ‘Thất Liêu’ năm xưa, thủ đoạn thật là tàn độc quỷ quyệt, quả nhiên là nghe cũng chưa từng nghe qua!”
Y Lam kiên trì đưa ra ý kiến khác: “Em ruột thật sao? Con nghe nói là em họ cơ mà, Đông chủ bảo câu chuyện kể thế là không chuẩn.”
Lư Trí Nam gầm lên đáp lại: “Chê ta nói không hay thì lần sau đừng có nghe nữa!”
Tạ Ngọc Phù liên tục tặc lưỡi: “Ta đã bảo rồi mà, ác quan nếu thật sự dễ dùng đến thế, xưa nay bao nhiêu bậc thánh chủ minh quân sao lại chẳng dám dùng bừa? Đủ thấy tất có tai họa phản phệ! Đúng là dọa người quá, nếu kịch độc kia lợi hại thêm chút nữa, e là con cháu của bệ hạ đã bị quét sạch cả rồi!”
Lúc Lư Hội về nhà nghỉ phép, liền thấy cả nhà vẫn còn bàn luận vụ án này sôi nổi không dứt.
Nghe nói con gái mình khi ấy cũng có mặt trong cung yến, Tạ Ngọc Phù sợ đến suýt nữa thì ngất lịm, lập tức yêu cầu Lư Hội từ bỏ chức sai này: “Nguy hiểm biết bao nhiêu! Lỡ như Hội Hội cũng uống phải rượu ấy, thì… thì…”
Càng nghĩ bà càng thấy sợ, lông tơ sau lưng dựng đứng cả lên.
Lư Trí Nam cũng gật đầu lia lịa: “Tuồng tích vẫn hay nói cung đình hiểm ác, trước kia ta còn không tin, giờ xem ra lời xưa quả là có lý. Hội Hội à, vinh hoa phú quý gì chúng ta cũng không cần, cha mẹ nuôi nổi con, con mau rời khỏi cung đi thôi.”
Nghe những lời ấy, Lư Hội lập tức dẹp ý định nói rõ chân tướng cho cha mẹ, phải khuyên giải mãi mới khiến cả nhà yên tâm, rằng cô ở trong cung quả thực như cá gặp nước; nếu không phải Nữ hoàng tuổi đã cao, cô còn phấn đấu thêm hai mươi năm nữa, nói không chừng từ Lư tư trực lại lăn lộn thành Lư Tể tướng.
Huống chi còn có Bùi Thứ Chi ở bên chăm nom, quyết không thể xảy ra chuyện gì.
— Nhắc tới Bùi Thứ Chi, Y Lam cười như không cười liếc cô một cái.
Chú chim cút nhỏ trong lòng chột dạ, không dám nhìn lại.
Tóm lại mà nói, nói gọn lại thì, vụ án đầu độc cung yến từng gây chấn động một thời, cuối cùng cũng xem như khép lại.
Đêm ấy, Tạ Ngọc Phù bày một bàn gia yến trong chòi tranh giữa núi.
Không có tường thành cao lớn của Đông Đô ngăn trở, hơi xuân dường như đến sớm hơn ở sơn trang nhà họ Lư. Trăng sáng treo cao, dế gáy râm ran, không khí ẩm ấm, phảng phất mùi cỏ cây thanh tân đang rục rịch sinh sôi.
Tiệc rượu quá nửa, từ viện xa bỗng truyền đến một trận ồn ào. Gia đinh hộ viện giơ cao đuốc lửa, hợp lại thành từng đốm hồng lấm tấm, dường như đang bắt giữ và quát mắng ai đó.
Lư Trí Nam sai người đi hỏi đã xảy ra chuyện gì, một lát sau lão quản sự tới bẩm: “…Mấy nô bộc mua ở địa phương, rất không hiểu quy củ, vậy mà lại dám đốt giấy ngay trong nhà chủ.”
Lư Hội hơi ngà ngà say, gục bên bàn, trong cơn lơ mơ chợt nhớ đến La Tam Lai bị diệt cả nhà, trong lòng không khỏi sinh ra thương cảm.
“Người ta ai chẳng có cha mẹ cốt nhục, tế bái thân nhân cũng là lẽ thường, chi bằng tha cho họ một lần đi.”
Lão quản sự nhìn Lư Hội lớn lên, nào có chiều cô: “Tiểu nữ lang không biết nội tình. Ở thôn dã quanh Đông Đô có một tục lệ, đốt giấy tiền không chỉ để tế bái thân nhân, mà còn có thể làm vu cổ nguyền rủa, mấy kẻ bị bắt tối nay đều chẳng làm chuyện tốt lành gì!”
Lư Hội ngơ ngác: “Nguyền rủa?”
Lão quản sự đáp: “Đúng vậy! Viết tên kẻ mình oán hận lên giấy, đốt cùng giấy tiền gửi xuống âm ty, coi như mua chuộc quỷ sai giáng tai ương xuống đầu kẻ thù!”
Đầu óc Lư Hội bỗng chốc sáng tỏ.
Cô rốt cuộc đã hiểu, Lâm Huấn đã nhận ra La Tam Lai bằng cách nào.
Đêm ấy, ở một góc hẻo lánh trong thâm cung, đội tuần tra ban đêm bắt gặp La Tam Lai đang đốt giấy tiền.
Trong lúc La Tam Lai hoảng loạn giãy giụa, giấy tiền và tro tàn bay tán loạn khắp nơi, đúng lúc có nửa mảnh giấy chưa cháy hết rơi xuống bên chân Lâm Huấn, trên đó viết tên Chử Thừa Cẩn.
Lương Vương vẫn sống yên ổn, không cần tế bái, vậy thì chỉ còn lại một khả năng khác.
Trong khoảnh khắc ấy, Lâm Huấn liền hiểu, tiểu hoạn quan trước mắt mình và hắn có chung một kẻ thù.
Lư Hội dường như đã nhìn thấy cảnh tượng khi đó. Lâm Huấn mặt không đổi sắc, giẫm lên mảnh giấy viết tên Lương Vương, nghiền nát nó vào bùn đất trong bồn hoa, rồi chủ động xin áp giải La Tam Lai đi chịu trượng hình. Sau đó hai người thẳng thắn nói rõ tâm nguyện, quyết ý liên thủ báo thù.
Y Lam vẫy tay trước mặt cô: “Hội Hội, Hội Hội? Say rồi à, có uống bao nhiêu đâu, sao lại cười ngốc thế kia.”
Lư Hội ôm bát rượu, cười khờ khạo.
— Hoàng thân quốc thích cao cao tại thượng thì đã sao? Dẫu quyền thế có hiển hách ngút trời, vẫn có những kẻ bé nhỏ không đáng kể, cúi rạp mình trong góc tối, ôm giữ mồi lửa báo thù trong lòng, quyết không chịu buông tay.
–
Tháng ba xuân ấm, trời quang nắng đẹp.
Liễu ven đê sông mềm mại uyển chuyển như vòng eo thiếu nữ, tinh nghịch đung đưa; những mảng tuyết còn sót lại nơi góc khuất cũng đã tan sạch. Thần Đô tựa như một khối minh ngọc thấm đẫm trong làn nước xuân xanh biếc, lại giống món gốm màu vừa mới tráng men, vừa trong veo vừa rực rỡ.
Đáng lẽ là tiết trời thích hợp để du xuân dạo chơi, nào ngờ Nữ hoàng và Bùi Thứ Chi lại đồng thời lâm bệnh, khiến Lư Hội không sao thoát thân được.
Trong mắt cô, bệnh của vị cữu phụ giả kia phần nhiều là do từ nhỏ được nuông chiều quá mức. Cứ mỗi lần giao mùa, hễ có chút gió lay cỏ động liền choáng đầu nghẹt mũi, hai gò má ửng hồng, hệt như món ngọc thượng hạng, không được quá nóng, không được quá lạnh, chẳng thể gặp nước dính gió, phải dùng loại vải tốt nhất lau chùi cẩn thận, gìn giữ chu toàn; so ra thì Lư Hội chỉ là một chiếc chum gốm thô mộc, rắn rỏi mà thôi.
Bùi Thứ Chi nhìn ra vẻ ân cần bên ngoài nhưng thờ ơ bên trong của cô, đau lòng dậm chân mắng Lư Hội là đồ vô lương tâm, bạc nghĩa vô tình, chẳng biết săn sóc vỗ về; mắng xong còn bảo cô cút đi.
Kỳ thực Lư Hội chỉ xin nghỉ nửa ngày. Từ Bùi phủ “cút” ra, cô dứt khoát quay về cung.
So với người cậu giả còn có thể mắng người trung khí mười phần, tình trạng của Nữ hoàng mới khiến Lư Hội âm thầm kinh hãi.
Ngự y, cận thị, cung tỳ, thậm chí cả Đoan Mộc Tuệ và Cù Tùng Phong, tất thảy đều khuyên giải rằng Nữ hoàng chỉ là cảm phong hàn thoáng qua; nhưng Lư Hội lại nhìn thấy trong đáy mắt Nữ hoàng một tia tử khí xám bại.
Đã thế lại càng họa vô đơn chí: những tấu chương trước kia chất cao như núi, đồng loạt đàn hặc tội trạng của Lương Vương, nay lại biến thành từng chồng từng chồng tấu xin lập Lăng Dương Vương làm trữ quân, núi vẫn là ngọn núi ấy, chỉ là mức độ khiến Nữ hoàng phiền lòng lại tăng thêm một bậc.
“……Hoàng tam tử điện hạ vốn là dòng dõi hoàng thất, long chương phượng tư, thực là người thừa kế chính thống của xã tắc, nên lập làm hoàng trữ.” Lư Hội ngồi bên ngự tháp, chậm rãi đọc nội dung tấu chương.
Nữ hoàng khép mắt: “Đổi quyển khác.”
Lư Hội đặt quyển đang cầm xuống, chọn quyển khác đọc tiếp: “Kính cẩn tâu rằng, bệ hạ anh minh. Lăng Dương Vương tuy thuở nhỏ phóng túng chưa cẩn trọng, song trải qua hơn mười năm rèn luyện tại Võng Châu, nay đã trầm ổn kiên nghị, sáng suốt thấu đạt, đức hạnh khí độ ngày một đổi mới…”
Hơi thở Nữ hoàng bắt đầu dồn dập: “Đổi nữa.”
Lư Hội: “…Thần xem phong thái của điện hạ, đủ sức gánh vác trọng trách Cửu miếu; xét lời nói việc làm của điện hạ, quả thích hợp chủ trì vạn cơ. Kính xin bệ hạ soi xét lòng dân, sớm định quốc bản.”
“Đổi!” Trong giọng nói lộ rõ vẻ bực bội.
Lư Hội: “Hoàng tam tử đang độ tráng niên, trên có thể giám quốc xử lý triều chính, chia sẻ ưu phiền cùng bệ hạ; dưới có thể phủ quân an dân, trọn đạo hiếu làm con. Thần khẩn cầu bệ hạ sắc lập trữ phó để an định kỳ vọng của thiên hạ thần dân, thì tông miếu được phúc, sinh linh được phúc. Thần liều chết kính tâu, cẩn trình.”
Lần này Nữ hoàng không bảo dừng, chỉ lặng lẽ nhìn chằm chằm vào hoa văn thêu trên đỉnh màn, ngẩn ngơ xuất thần.
Lư Hội đọc xong toàn bộ, trong tẩm điện yên tĩnh đến mức nghe rõ tiếng kim rơi.
Một lúc sau, Nữ hoàng bật ra một tràng cười lạnh rợn người, phất tay đánh đổ đống tấu chương kia: “Những kẻ này, ai nấy đều từng chịu ân đề bạt của trẫm, giờ lại từng người từng người đến bức ép trẫm.”
Lư Hội cúi người xuống: “Bệ hạ, người khác thì không nói, nhưng Lưu tướng cùng bệ hạ mấy chục năm tình nghĩa quân thần, tuyệt đối sẽ không bức ép bệ hạ. Những đại thần dâng sớ này, cũng chưa chắc ai nấy đều vì tư tâm.”
Cô cúi xuống nhặt từng bản tấu chương rơi trên đất, lẩm nhẩm: “Vi thần cho rằng… mọi người kỳ thực là đang lo lắng, lo rằng nếu bệ hạ không có sắp xếp thỏa đáng, sau này… e sẽ xảy ra chuyện chẳng lành…”
Lương Vương dù có vô dụng đến đâu, Chử thị rốt cuộc cũng đã kinh doanh tại Đông Đô nhiều năm, có tiền có người, lại giao hảo với mấy chi quân trấn thủ Đông Đô, thậm chí còn có không ít quan hệ thông gia. Dù chỉ là giao tình rượu thịt, cũng vẫn hơn Lăng Dương Vương bị lưu đày hơn mười năm, không có căn cơ gì; huống chi còn có không ít người lo sợ sau này sẽ bị Lệ thị trả thù.
Nếu Nữ hoàng cứ tiếp tục mập mờ về người kế vị, đến lúc hai bên đánh nhau, ắt sẽ là cảnh máu chảy thành sông.
Lư Hội tuy không nói tiếp, nhưng Nữ hoàng nhất định hiểu, tất cả mọi người đều đang chuẩn bị cho cái chết của bà.
Vì thế, tử khí xám bại trong mắt bà lại càng thêm đậm.
Dạng thần sắc ấy Lư Hội chẳng hề xa lạ. Những năm trước, cô từng theo Tạ Ngọc Phù đi thăm hỏi người già bệnh nặng, đã không ít lần thấy qua: kỵ sĩ từng rong ruổi như bay, mục dân vung roi mạnh mẽ, thợ săn gan dạ lanh lợi, nói già là già ngay. Mỗi lần Lư Hội nhìn thấy tử khí ấy trong đáy mắt họ, Tạ Ngọc Phù liền bắt đầu chuẩn bị tang nghi và tiền vật trợ cấp.
Mà tình hình của Nữ hoàng còn tệ hơn thế.
Tây Vực mười dặm đất Phật, từ quý tộc đến thứ dân đều một lòng sùng Phật; đối với họ, cái chết chưa hẳn đã đáng sợ. Trải qua một đời lao khổ gập ghềnh, trong tiếng tụng kinh nhắm mắt xuôi tay, họ thường mong đợi một kiếp sau tốt đẹp sung túc.
Theo lẽ thường, Nữ hoàng sùng Phật cũng nên như vậy. Thế nhưng ngoài tử khí, Lư Hội còn nhìn thấy trong mắt bà những cảm xúc mãnh liệt đến gần như chấp niệm: không cam lòng, khát vọng, phẫn nộ, và… oán hận.
Tạ Ngọc Phù từng nói, người già càng phú quý thì càng luyến tiếc mạng sống, ai biết kiếp sau còn có được phú quý như vậy hay không?
Mà trong thiên hạ, kẻ phú quý nào sánh bằng ngôi cửu ngũ chí tôn? Lại thêm quyền thế ngập trời, nỗi sợ hãi cái chết của một đế vương tuổi xế chiều thường sẽ gây ra tai họa vô cùng lớn.
Lư Hội cảm thấy thế này không ổn, cô phải nghĩ cách dỗ dành Nữ hoàng mới được.
“Bệ hạ, người còn nhớ lời Bành Thành quận vương từng trách mắng vi thần không?”
Lư Hội cẩn thận vuốt phẳng lại tấm thảm lông, “Ngài ấy nói vi thần vì cha bị ác quan bắt đi chịu hình, nên trong lòng oán hận bệ hạ.”
Nữ hoàng uể oải phất tay: “Sao, ngươi muốn đi tìm Khánh Nghĩa tính sổ à? Yên tâm, trẫm biết ngươi không có tâm tư ấy.”
Lư Hội vội đáp: “Không không, vi thần chẳng hề nghĩ đến chuyện tính sổ. Vi thần chỉ muốn kể với bệ hạ vài chuyện cũ của cha mẹ mà thôi.”
Nữ hoàng miễn cưỡng gật đầu.
Lư Hội nói: “Mấy chục năm trước, cha mẹ bất hòa với gia tộc, bèn dứt khoát tự lập môn hộ. Khi rời Đông Đô, một người mười bảy, một người mười lăm, đều tay trắng đơn độc, không chỗ dựa dẫm. Thuở đầu, họ nương nhờ đoàn thương nhân người Hồ, định bỏ ra bảy tám năm học cách buôn bán.”
Nữ hoàng thở dài: “Buôn bán đâu có dễ, ngành nào cũng có quy củ, có những nghề nước sâu lắm. Song thân ngươi không manh động là đúng, bảy tám năm cũng chẳng phải quá dài.”
Lư Hội: “Nhưng cha mẹ mới rèn giũa được bốn năm đã ra tự mình làm ăn rồi. Trong đó dĩ nhiên có bản lĩnh của họ, song còn bởi một người nữa, bệ hạ đoán xem là ai?”
Nữ hoàng rốt cuộc nặn ra được một nụ cười: “Không học điều hay, lại học người ta úp mở, mau nói đi.”
“Chính là bệ hạ.” Lư Hội nói đầy thành khẩn. “Cha mẹ vi thần là người Đông Đô, từ nhỏ nhìn thấy nghe thấy, làm quan đều cao cao tại thượng, miệng nói toàn đạo lý huyền hồ, còn quan tâm đến sinh kế dân chúng thì như cách núi đánh trâu.”
Nữ hoàng hừ một tiếng: “Từ Ngụy Tấn trở đi, kẻ làm quan phần nhiều xuất thân huân quý thế tộc, họ biết gì nỗi khổ của lê dân? Sinh ra đã có quan làm rồi!”
Lư Hội: “Vâng. Chỉ là cha mẹ không ngờ, mới bốn năm năm mà quan trường địa phương đã đổi khác hẳn. Bệ hạ liên tục đề bạt con em hàn môn, rốt cuộc cũng thấy hiệu quả. cha phát hiện những quan viên hàn môn ấy không chỉ có tài, mà còn rất nhiệt tâm. Có lần, cha chở một lô giống trà từ Lĩnh Nam đến một huyện nọ, vị huyện lệnh ấy lại đợi sẵn ở trạm dịch trước hai ngày, hận không thể kết nghĩa anh em với cha mẹ.”
“Dần dần cha mẹ ngộ ra, những quan viên hàn môn kia khuyến nông khuyến tang, vỗ về bách tính, là vì họ biết chỉ cần làm ra chính tích thì triều đình sẽ nhìn thấy, sẽ được bệ hạ đề bạt, thế là làm ăn liền dễ. Nơi nào thiếu giống dâu, cha bán giống dâu; chỗ nào thiếu dược liệu, cha bán dược liệu.”
Giọng Lư Hội trong trẻo, chậm rãi kể.
“Có một nơi thóc gạo dồi dào, nhưng vì đường sá không thông, lúa chất đống cũng không vận ra được. cha bèn dựng một tửu phường ngay tại chỗ. Một thạch thóc có thể nấu ra sáu mươi cân rượu thô, ba mươi cân rượu tinh, lại dùng thùng gỗ hay túi da chở đi thì tiện hơn nhiều. Nhưng vài năm sau, nơi ấy dần giàu có, liền bỏ tiền sửa đường, tửu phường của cha đành phải đóng cửa.”
Thiếu nữ mặt đầy vẻ tiếc rẻ, thoáng mang khí chất mê tiền, khiến Nữ hoàng bật cười.
“Lại có một quận khác, chỗ thấp năm nào cũng hạn, chỗ cao năm nào cũng gặp lũ núi. Hai nơi nhìn như cách xa đường sá, song cha cùng mấy vị thúc bá cùng trong nghề mời sơn dân địa phương xem xét địa thế, phát hiện chỉ cần xuyên qua một cánh rừng rậm khe rãnh chằng chịt, hai nơi chỉ cách nhau hơn hai mươi dặm. Tuy không tiện cho người đi, nhưng có thể thông thủy lộ. Quận thái thú địa phương biết chuyện, liền quyết tâm đào một con kênh nối liền hai nơi; vì cha bọn họ xem địa thế có công, nên ưu tiên mua gỗ đá của họ.”
Nghe đến đây, Nữ hoàng cười lớn, ngồi thẳng dậy: “Trẫm biết ngươi nói đến ai rồi, vị quận thái thú ấy chính là Đường Nghĩa Phương. Ông ta nói năng vụng về mà lòng dạ sáng suốt, tính tình kiên nghị, vùi đầu khổ làm năm sáu năm mới tu xong kênh, một lần dẹp yên tai họa nhiều năm ở hai nơi, trẫm bèn đề bạt ông ta vào trung khu!”
Nghe tiếng cười của Nữ hoàng đã lâu không xuất hiện, cung tỳ trong điện đều lộ vẻ hiếu kỳ, ngay cả Cù Tùng Phong canh ngoài tẩm điện cũng thò đầu vào nhìn mấy lần.
Lư Hội: “Đúng đúng, cách bao năm rồi, cha chỉ nhớ vị quận thái thú năm ấy rất trầm mặc ít lời.”
Lão Đường nói lắp, nên cố gắng nói ít.
Nữ hoàng cười nói: “Đường Nghĩa Phương không chỉ trị địa phương có công, mà còn khá thông quân sự. Năm đó chỉ dùng hai nghìn dân phu đào kênh, đã chặn được gần vạn sơn dân công kích huyện thành, tránh cho bách tính cảnh đao binh.”
Lư Hội có phần bất ngờ: “Đường đại nhân trông nho nhã thế kia, thật không nhìn ra.”
Nữ hoàng: “Nói vậy thì, lệnh tôn làm ăn buôn bán cũng giúp ích không ít cho địa phương.”
Sợ lời nói quá đầy, Lư Hội vội bù lại: “Đâu có, mọi người đều chỉ vì mưu sinh thôi. Thật ra cha cũng từng gặp quan viên nhẹ dạ cẩu thả, nhưng thường là ông chạy ngược chạy xuôi bên ngoài một vòng về, thì phát hiện trên chức vị ấy đã đổi người rồi. cha nói, đó chính là ‘chế độ thử quan’ của bệ hạ, dùng trước đã, tốt thì giữ, không tốt thì cút.”
“Còn có ‘Nam tuyển’, ‘điện thí’, ‘khoa cử hồ danh’ của bệ hạ nữa… đều tuyển ra không ít quan tốt, tạo phúc cho một phương.”
Nữ hoàng thở ra một ngụm trọc khí, tinh thần chấn hẳn.
Bà trầm giọng thở dài: “Nghe vậy thì, trẫm rốt cuộc cũng có chút công tích.”
Lư Hội nói chắc nịch: “Nói bệ hạ không có công tích, thì việc làm ăn của cha mẹ vi thần cũng không đồng ý!”
Nữ hoàng lại cười vang một tràng.
Kỳ thực Lư Trí Nam từng riêng tư nói với vợ con rằng, cách chọn quan của Nữ hoàng tuy linh hoạt hiệu quả, nhưng quá dựa vào sự cần mẫn giám sát của người cầm quyền; một khi hoàng đế lười biếng, những chế độ ấy rất dễ bị kẻ khác chui lọt.
“Cho nên, dẫu cha bị tên ác quan kia đánh gãy chân,” Lư Hội nhấn mạnh lần cuối, “nhưng ông ấy thực sự không hề oán hận bệ hạ nửa phần nào.”
Nữ hoàng long nhan đại duyệt, tại chỗ liền nói muốn trọng thưởng Lư Trí Nam, còn định phong cho ông một chức tản quan.
Lư Hội giật nảy mình, vội vàng khéo léo từ chối: “Vạn vạn không thể. cha chỉ là thương nhân tầm thường, không có một tấc công lao nào, chỉ vì nói vài câu dễ nghe mà được phong thưởng, e sẽ khiến người khác dị nghị. Nếu bệ hạ nhất định muốn ban thưởng, xin cứ thưởng cho vi thần, nói vi thần khiêm cẩn cung thuận gì đó là được rồi.”
Nữ hoàng cười đến không chịu nổi: “Tháng trước trong ngự hoa viên trừ chuột sâu, ngươi nhấc băng ghế đá lên đập chết hai con chuột cống to đến máu thịt be bét, dọa hai anh em nhà họ Kim ghê tởm đến mấy ngày liền không dám ăn thịt. Ngươi còn dám nói mình khiêm cẩn cung thuận ư!”
Lư Hội đỏ mặt.
Cô đâu thể nói rằng khi ấy hai anh em họ Kim đang liếc mắt đưa tình với cô, cô tức quá mới tiện tay trổ tài, hiệu quả vô cùng kinh người, tại chỗ dọa chạy mất hai mỹ nam như hoa như ngọc ấy.
May mà Nữ hoàng ngày thường chuyên tâm xử lý chính sự, rất ít khi triệu kiến hai anh em kia, cô cũng chẳng còn cơ hội nào để phô bày sự “dũng mãnh” của mình.
“Vậy thì… nói vi thần hầu bệnh có công đi.” Lư Hội vừa nói vừa giúp nữ hoàng vuốt ngực cho đỡ cười.
Nữ hoàng cười mắng: “Ngươi mà cũng gọi là hầu bệnh có công? Thuốc thang bưng tới miệng trẫm, một bát chỉ còn nửa bát, trẫm không trị ngươi tội thất trách đã là khai ân rồi!”
Lư Hội ngốc nghếch cười: “Cũng… vẫn hơn nửa bát một chút mà, phải không ạ.”
Nữ hoàng cười lắc đầu: “Thôi được rồi, từ ngày mai, ngoài lúc thượng triều, ngươi cũng giống như Tuệ nhi, mặc váy áo mà làm việc, không cần ngày nào cũng khoác bộ quan phục xanh này nữa. Trẫm sẽ thưởng thêm cho ngươi ít đồ trang sức y phục.”
Lư Hội tạ ơn.
Đúng lúc này, Cù Tùng Phong vào bẩm báo, nói rằng Chử Thừa Cẩn đang cầu kiến ngoài điện, đây đã là lần thứ năm trong thời gian gần đây.
Sắc mặt Nữ hoàng lạnh xuống, lần nữa sai người từ chối.
“Lương Vương quả thật rất hiếu thuận, luôn nhớ đến bệ hạ.” Lư Hội dè dặt nói.
Nữ hoàng trầm mặt: “Chẳng qua là muốn xem trẫm chết hay chưa mà thôi. Đồ vô dụng! Bị người ta vu oan mà cũng không biết cách rửa sạch, Trang Hoài Trinh chỉ vài câu đã ép nó đến mức chó cùng rứt giậu. Trẫm vừa thấy nó là bực, không gặp!”
Bà lại chuyển giọng hỏi: “Nghe nói lúc Trang Hoài Trinh xuất thành, ngươi có đi tiễn. Hắn nói gì, có oán trách trẫm không?”
Lão Trang cuối cùng vẫn rời khỏi chốn phồn hoa Thần Đô, mang theo hành trang đơn giản cùng mật báo lệnh phù của Nữ hoàng, như nguyện đến vùng trời rộng lớn để thi thố hoài bão.
Trước lúc đi, hắn khuyên Lư Hội: “Cô và ta đều là người thích gió mát tự do, trong cung đình lòng người quỷ quyệt, nơi nơi đều là lợi hại toan tính, ở lâu dễ sinh tâm ma. Hội nương tử nên sớm rời đi thì hơn.”
Những lời ấy dĩ nhiên không thể nói với Nữ hoàng, vì thế Lư Hội đáp: “Tính tình của Trang đại nhân, bệ hạ còn không rõ sao? Năm xưa vì thay dân Kim Châu đòi công bằng, một ngày ba lần dâng sớ, thậm chí giữa ban ngày ban mặt còn chở cả xe thủ cấp bọn cướp đến Đông Đô. Trang đại nhân cố chấp như vậy, nếu không thật sự hiểu nỗi khổ tâm của bệ hạ, thì thà chết chứ cũng không nhận lời kết án của Bùi Thiếu tướng.”
Nữ hoàng im lặng một lúc, khẽ mắng một câu: “Cái tính thối tha!”
Lư Hội cười: “Vi thần nghe mẹ nói rồi, đàn ông đều là cái tính ấy, trong lòng có hiểu cũng nhất định không chịu nhận miệng. Nào giống vi thần, biết nghe lời phải. Sau này bệ hạ cứ trọng dụng thêm vài nữ thần tử, là không phải chịu ấm ức nữa.”
Nữ hoàng lắc đầu: “Ngươi đó, không làm nịnh thần thì thật uổng. Cậu ngươi Nhược Trạm chẳng lẽ không phải nam nhân sao? Sau này làm việc, ngươi nên học hắn nhiều hơn, nghe một biết mười, phòng xa lo trước, làm việc đâu ra đấy.”
Lư Hội nghe ra ý chưa nói hết trong giọng của Nữ hoàng.
Xét về nhân phẩm, Nữ hoàng kỳ thực càng thưởng thức bậc chính nhân quân tử ghét ác như thù như Trang Hoài Trinh, nhưng khi thực sự cần dùng người, lại không thể không thừa nhận rằng quyền thần tâm cơ thâm trầm như cậu giả kia dùng thuận tay hơn, giống như Vương Muội năm xưa.
Nữ hoàng nhìn làn khói mỏng lượn lờ từ lư hương trúc ngọc, gương mặt già nua dần khuất trong bóng tối màn gấm.
“Hôm đó, ngươi nói kẻ hạ độc rất có thể không có thế lực, cũng thiếu kinh nghiệm, trẫm liền nghĩ đến Kính Nhân và Kính Thuận. Nhưng ngay sau đó Kính Thuận độc phát mà chết, Kính Nhân lại mấy lần cận kề cái chết, trẫm liền do dự.”
“Nói cho cùng, trẫm không ngờ Kính Nhân lại hận trẫm đến vậy, hận đến mức thà giết chết người em trai nương tựa lẫn nhau, giết chính mình, cũng quyết liều chết một phen.”
Vị lão phụ chí tôn than thở u sầu. Lư Hội dường như cũng bị lây, thuận miệng thở dài: “Phải rồi, vi thần cũng không ngờ tới.”
Nữ hoàng thấy khuôn mặt tròn trịa của cô đầy vẻ u hoài, ngược lại bật cười: “Ngươi thì hiểu cái gì? Ngươi mà nghĩ ra được mới là gặp quỷ! Thôi, hôm nay đến đây thôi, trẫm cho ngươi tan trực sớm, ra ngoài ngắm xuân sắc đi.”
Chuyện tốt thế này, Lư Hội xưa nay chưa từng khách sáo, lập tức mừng rỡ tạ ơn rời đi, vừa khéo gặp Đoan Mộc Tuệ đang ôm một chồng tấu chương bước vào.
Đoan Mộc Tuệ đặt chồng tấu chương cao ngất bên giường nữ hoàng, nhìn theo hướng Lư Hội rời đi, như có điều suy nghĩ: “Tuy nói Thiếu tướng trung thành, Hội nương thuần phác, nhưng bệ hạ xưa nay nghiêm cấm nội ngoại cấu kết, chẳng lẽ không lo lắng…?”
Nữ hoàng cầm lấy một quyển tấu chương, khóe môi hơi cong: “Tuệ nhi à, trẫm già rồi, nhưng con mắt nhìn người vẫn chưa mù. Hội nương trông thì trung hậu ôn hòa, nhưng trong lòng tự có chủ kiến, nàng sẽ không thật sự nghe lệnh bất kỳ ai. Bùi Nhược Trạm tự phụ không gì không làm được, e là cũng nhìn nhầm rồi.”
Nếu không có Cao Tổ Lưu Bang từng bị chê là “vô lại chợ búa”, thì dù Tiêu Hà, Chu Bột có tài cao đến đâu, sợ rằng cả đời cũng chỉ quanh quẩn nơi đất Bái. Đôi khi, gan dạ còn quan trọng hơn mưu lược.
Tuệ nhi tuy văn tài vô song, thông tuệ tinh tế, nhưng không có khí phách xoay chuyển cục diện, nhiều lắm chỉ thuận nước đẩy thuyền, giữ mình an toàn; trái lại, loại người như Lư Hội, tâm vô tạp niệm, lại dám buông tay đánh cược vào thời khắc then chốt, dù có ngọc nát đá tan.
Lòng người, là thứ khó nắm bắt nhất dưới gầm trời.
Đoan Mộc Tuệ mỉm cười: “Ánh mắt của bệ hạ tất nhiên không thể sai. Huống chi Hội nương quả thật rất đáng mến, không chỉ bệ hạ ưu ái, ngay cả Ngụy Quốc phu nhân cũng rất thích nàng.”
Nữ hoàng hơi ngạc nhiên: “Tinh nương ư? Ôi chao, nàng nhất định lại nhớ đến Hoan Tử. Nếu Hoan Tử còn sống, vừa khéo cũng bằng tuổi Hội nương.”
Một phen cảm khái xong, bà cúi đầu xem những tấu chương mới đưa tới, không thấy được trên mặt Đoan Mộc Tuệ thoáng hiện một tia trầm tư kỳ diệu.
Sau khi rời Phượng Nghi Điện, Đoan Mộc Tuệ sai tâm phúc đưa một cuốn họa tập đến phủ Công chúa Vĩnh Ninh. Trong họa tập kẹp một mảnh giấy, trên đó chỉ có bốn chữ — “Được rồi, mau làm.”
Mặt trời mọc trăng lặn, sao dời vật đổi, thiên hạ sắp có đại biến. Bà, một nữ tử xuất thân tội nô, giữa thế gian không thân không thích, muốn sống cho tử tế, chỉ còn cách tự tìm đường lui cho mình.
