Chương 44: Nỗi bi thương ly loạn (1)
*
Khi Lâm Mạt Tử từ Mân Việt đi ngược lên phía bắc đến Thần Đô, vốn không ngờ tới sẽ gặp được hai người bạn thân thiết tri kỷ nhất trên đời này.
Cô ấy và Vương Hòa Vi có tính tình khác biệt một trời một vực, gia thế cũng hoàn toàn khác biệt, thế nhưng vận mệnh lại là thù đồ đồng quy.
Các nàng đều là người có thiên phú và tâm tính xuất chúng nhất trong gia tộc, trớ trêu thay lại sinh ra trong thân nhi nữ. Với tài năng của các nàng, chỉ cần là nam nhi, Lâm Mạt Tử đã sớm bắt tay vào việc tiếp quản đội thuyền của nhà họ Lâm rồi, còn Vương Hòa Vi nói không chừng đã thi đỗ khoa cử, đang nỗ lực tranh thủ vào Hoằng Văn quán làm một Học sĩ hay chức quan gì đó.
Trăng núi vô tâm, mây suối vô định, những lúc rảnh rỗi sau giờ học, cô ấy cùng Vương Hòa Vi ngồi ngắm nhìn cánh đồng xanh mướt của Tiểu Sơn học quán, khó tránh khỏi buông lời thở dài ảo não. Sao lại xui xẻo đến thế cơ chứ? Chỉ vì mang thân nhi nữ, mà bến bờ nhân sinh dường như đã bị ngăn cách bởi một rãnh sâu trời vực.
Nếu nói Lâm Mạt Tử và Vương Hòa Vi là đồng bệnh tương liên, cảm thông trân trọng lẫn nhau, vậy thì với Y Lam chính là vừa gặp đã thân, chí đồng đạo hợp.
Người trước dạy người sau thông thạo thủy tính, người sau dạy người trước thuần phục ngựa hoang.
Vương Hòa Vi và Mạt Tử dẫu có tâm đầu ý hợp đến đâu, cũng kiên quyết không chịu theo nàng đi dạo chốn khói hoa yến nguyệt, càng không thể cùng nàng phóng ngựa thâu đêm nơi hoang dã, lúc rượu say tai nóng liền để trần nhảy xuống hồ hoang cất vang tiếng hát, cuối cùng lại bắt vài con cá béo nướng ăn ngay tại trận.
Hành vi nhường này trong mắt người thường là sự phóng đãng kinh thế hãi tục, nhưng đối với hai người bọn họ lại là bản tính trời sinh.
Mạt Tử thường nghĩ, nếu mình sinh ra ở Tây Vực xa xôi, nay ắt sẽ giống như Y Lam; nếu Y Lam sinh ra ở vùng biển Mân Việt, cũng ắt sẽ lớn lên với cái bản tính chết tiệt giống như mình. Hai người bọn họ dường như là hai hòn đá được đục ra từ cùng một tảng đá lớn, bản chất giống hệt nhau không sai biệt chút nào.
Cho nên vào cái ngày Trang Lư đột ngột gặp kiếp nạn ấy, đất trời như chìm trong tiếng la sát vang vọng không trung, hai người bọn họ chỉ cần nhìn nhau một cái, liền biết đối phương đang nghĩ gì trong lòng.
Y Lam nhét hai đứa trẻ vào lòng cô ấy: “Muội bị thương rồi, không chạy được xa đâu. Ta đưa Lang chủ và phu nhân đi, muội dẫn theo A Kỷ và A Ỷ trốn vào trong hồ hoa sen. Chúng ta chia nhau ra chạy trốn, còn hơn là bị gom lại bắt trọn một mẻ.”
“Được. Tìm cho ta một cái thùng gỗ, ta có thể dẫn chúng trốn chừng ba, bốn canh giờ.” Lâm Mạt Tử tìm hai bát nước trong, đổ bột thuốc mê vào trong đó, “Tỷ và Lang chủ đi bằng cách nào?”
Y Lam nhìn về phía dòng suối ở hậu sơn: “Dòng suối này chảy vòng qua Trang Lư, hội tụ vào con sông dưới núi, chỉ cần ba người chúng ta có thể tránh được tai mắt của đám tặc nhân ở cửa trước, sau khi xuống sông là an toàn rồi.”
Lâm Mạt Tử lập tức phản đối: “Dòng suối đó mực nước còn chưa cao bằng một người, làm sao lặn xuống được?”
“Không lặn. Ta dùng da cừu làm vài cái túi khí, dẫn Lang chủ và phu nhân trườn qua từ dưới đáy suối.”
“Quá hung hiểm rồi!”
Y Lam đè tay cô ấy lại, khuôn mặt mỹ diễm tựa như bị đóng băng: “Muội phải mang theo hai đứa trẻ, trốn trong cái hồ hoa sen nhỏ bé đó suốt vài canh giờ, lẽ nào không hung hiểm sao? Tất cả đành nghe theo ý trời vậy.”
Nàng thấp giọng cười khổ: “Ta đã sớm giao phó cái mạng này cho Nhà họ Lư rồi, vì họ mà chết cũng chẳng sao, chỉ là liên lụy đến muội…”
Nàng đến từ phía tây của Tây Vực xa xôi, một nơi mà ngay cả trên bản đồ Kham Dư cũng không hề đánh dấu, một tiểu bộ lạc vô danh trên vùng hoang nguyên.
Sau kiếp nạn đáng sợ nọ, nàng khi ấy còn nhỏ tuổi theo song thân lênh đênh lưu lạc trốn đến Sa Châu, gần như chết vì đói bệnh, may mà được vợ chồng Lư Trí Nam thu lưu. Về sau, phụ mẫu lần lượt qua đời, cả vương triều Trung Nguyên rộng lớn này chẳng còn lấy một người đồng tộc nào của Y Lam.
Chỉ có người nhà họ Lư, là chí thân cốt nhục duy nhất còn sót lại của nàng trên cõi đời này.
Tất cả những điều này Lâm Mạt Tử đều biết, cô ấy cười rạng rỡ đầy phóng khoáng: “Tỷ nói câu này, cứ làm như hiện tại ta ra ngoài đầu hàng, đám tặc nhân đó sẽ thả cho ta một con đường sống không bằng. Đừng nói nhảm nữa, mau đi buộc túi khí đi! Nếu tỷ và ta đều có thể sống sót, ta sẽ dẫn tỷ đến Nam Hải hái trân châu!”
Hai người cứ thế mà quyết biệt.
Lúc Lâm Mạt Tử từ trong hồ hoa sen đi ra thì đã mất máu quá nhiều, toàn thân lạnh ngắt, nằm liệt trên giường ròng rã ba ngày mới hồi lại được một hơi, có thể ngồi dậy nói chuyện đàng hoàng.
“Vẫn chưa tìm thấy họ sao?” Cô ấy tựa lưng vào chiếc gối tựa đầu giường.
Lư Hội buồn bã lắc đầu.
Thần sắc cô tiều tụy, hai mắt sưng đỏ: “Chúng ta dọc theo hai bên bờ sông tìm kiếm suốt ba ngày, nhưng chẳng có chút tung tích nào.”
Lâm Mạt Tử thở dài nói: “Chỉ giá như cái hồ hoa sen đó lớn hơn chút nữa, thì sáu người chúng ta đều có thể trốn vào trong.”
Lư Hội cũng hối hận không kịp, năm ngoái lúc đào hồ sao lại không làm cho lớn hơn một chút chứ.
Hai người không thốt nên lời, lặng lẽ ngồi đối diện nhau.
Trong phòng phảng phất hương thơm thanh nhã thoang thoảng, bức bình phong thêu hắt lên bóng dáng một nam tử cao lớn đang ngồi ngay ngắn.
Lâm Mạt Tử thầm biết người này ắt hẳn là Thiếu tướng Bùi Thứ Chi, kẻ đã chọc giận khiến Y Lam đầy bụng oán khí, ác niệm nảy sinh, hận không thể nhân lúc đêm đen lẻn vào Bùi phủ rạch cho hai nhát lên khuôn mặt như hoa như ngọc của chàng.
Trầm mặc hồi lâu, Lâm Mạt Tử chật vật cất lời: “Hội Hội, hiện tại nhà cô gặp nạn, đáng lý ra ta nên ở bên cạnh cô, nhưng mà…”
Lư Hội đã đoán được: “Có phải cô muốn về Mân Việt rồi không?”
Lâm Mạt Tử gật gật đầu: “Ngày trước luôn cảm thấy bản thân còn nhỏ tuổi, năm tháng sau này vẫn còn dài. Lần này suýt chút nữa mất mạng, mới biết thời gian chẳng chờ đợi ai. Nếu ta cứ thế mà chết đi, hoài bão từ thuở bé của ta biết tính sao đây? Ta một ngày cũng không thể đợi thêm được nữa, ta phải về Mân Việt ngay đây, dù thế nào cũng phải tự mình ra biển một chuyến, dẫu có chết giữa biển khơi mênh mông cũng chẳng sao.”
“Không được nói những lời xui xẻo!”
Lư Hội ôm lấy cô ấy: “Cô cứu được đệ muội nhỏ tuổi của ta, ta cảm kích còn không kịp, làm sao lại không hiểu tâm ý của cô chứ. Chỗ của ta nhân thủ rất đầy đủ, thiếu một mình cô cũng không sao. Cô cứ về Mân Việt đi, trên đường trở về nhớ dưỡng thương cho tốt. Ta chỉ hận bản thân mình không thể dứt ra được, để trợ giúp cô một tay.”
Giữa bạn bè thân thiết vốn chẳng cần nhiều lời, Lư Hội nhanh chóng sai người khiêng Lâm Mạt Tử lên xe ngựa, đồng thời chất vào trong xe rất nhiều dược liệu và đồ trân ngoạn. Đám nô tỳ nhà họ Lâm đang túc trực chờ lệnh ở ngoại viện thi nhau xúm lại quanh xe ngựa, định bụng về Lâm phủ trước, chuẩn bị xong hành trang rồi mới khởi hành về Mân Việt.
Trước lúc lên đường, Lâm Mạt Tử do dự dăm lần bảy lượt, cuối cùng vẫn vén rèm xe kéo Lư Hội lại gần: “Trước lúc ta và Y Lam chia tay, tỷ ấy có để lại một câu dặn dò cô…”
[Tiếng la sát và bước chân đồ sát ngày càng đến gần, hậu viện cũng không còn an toàn nữa. Tạ Ngọc Phù ngấn lệ đặt hai đứa trẻ đang ngủ mê man vào trong thùng gỗ, Lư Trí Nam ôm cánh tay bị thương nặng lặng lẽ nhìn, ánh mắt chan chứa sự lưu luyến không nỡ rời. Lâm Mạt Tử băng bó kỹ vết thương trên người, sau khi cởi giày liền buộc chặt tay áo và ống quần, cẩn thận nhét nhánh lau sậy rỗng dài vào trong ngực.
Sắp đến lúc sinh tử chia ly, Y Lam chợt ghé sát vào tai Lâm Mạt Tử: “Nói với Hội Hội, nếu như ta và Lang chủ, phu nhân… không trốn thoát được, khoan hãy báo thù! Khoan hãy báo thù, nhớ kỹ chưa? Phải sống cho thật tốt, dẫn theo các đệ muội sống cho thật tốt! Chí ít cũng phải đợi A Kỷ thành gia lập nghiệp, A Ỷ gả cho người ta sinh con đẻ cái, muội ấy mới có thể bắt tay vào báo thù! Sau này phải hiểu chuyện, phàm việc gì cũng đừng hành động theo tính tình bốc đồng nữa, thực ra người họ Bùi không hề xấu…”]
Lư Hội mở to hai mắt, nhịp tim như thể cũng ngừng đập.
Lâm Mạt Tử gắng sức nằm tựa trở lại: “Thực ra, người Y Lam xót xa nhất vẫn là cô.”
Lư Hội hít mạnh một hơi, cố kìm nén nước mắt mỉm cười: “Mạt Tử, thuận buồm xuôi gió nhé, ta liền… ta không tiễn cô nữa…” Cố kìm trước khi giọt lệ trào ra, cô cắm cúi lao nhanh về phía Lộc Dã Đường, ôm chầm lấy hai đệ muội nhỏ tuổi khóc lóc thảm thiết một trận.
Bùi Thứ Chi đứng bên cạnh lạnh nhạt bàng quan, thấy Lư Hội vừa khóc vừa chạy đi thì không khỏi nhíu mày.
Chàng bước đến cạnh xe ngựa: “Cô đã nói gì với Hội Hội? Mấy ngày nay nàng ăn ngủ không yên, vốn dĩ đã đau buồn khó nén, cô cớ sao còn chọc cho nàng khóc thêm một trận.”
“Chính vì sợ cô ấy khóc, ta mới nhịn đến tận bây giờ mới nói.” Lâm Mạt Tử sờ lên vết thương trên người mình, không khỏi nhe răng xuýt xoa, “Nói không chừng đó chính là lời trăng trối của Y Lam, ta chung quy không thể tự ý giấu đi được.”
Đối với vị quyền thần trẻ tuổi hách hách uy danh trong thành Thần Đô này, trước đây Lâm Mạt Tử chỉ mới nghe danh, sau khi quen biết Lư Hội mới gặp mặt từ xa vài lần. Người này không phải là đứng đợi ở cửa học quán đón Lư Hội tan học, thì là đứng trong sân viện dặn dò Lư Hội về nhà sớm đừng đi chơi linh tinh khắp nơi. Đủ bề quan tâm chăm lo, nói năng nhỏ nhẹ dịu dàng, so với hình tượng tâm cơ thâm trầm, tinh thông quyền thuật trong lời đồn đại thì quả thực khác xa một trời một vực.
Ban đầu, Lâm Mạt Tử cũng giống như Vương Hòa Vi và Dư Xảo Nương, thầm tin vào cái lời đồn nọ. Rằng Lư Hội thực chất là con gái do ngoại thất của phụ thân Bùi Thứ Chi sinh ra, vì Bùi Hoàn sợ vợ nên không dám đón về Bùi phủ, chỉ đành gửi nuôi ở nhà thương gia.
Bùi Thứ Chi là con trai độc nhất, đột nhiên có thêm một muội muội, quan tâm nhiều hơn chút thì cũng coi như hợp tình hợp lý.
Mãi cho đến khi thân thiết với Y Lam rồi biết được nội tình, Lâm Mạt Tử mới bừng tỉnh đại ngộ: Hèn chi cô ấy cứ luôn cảm thấy có gì đó kỳ quái không thể nói rõ!
Ờ thì, thế cũng được đi, con người Bùi Thứ Chi ra sao thì khó mà nói, nhưng dung mạo thì đúng là đẹp hàng nhất đẳng. Người không phong lưu uổng phí năm tháng thiếu niên, chỉ cần Hội Hội vui vẻ là được.
Ba ngày trước lúc cô ấy lại đến Trang Lư, nhìn thấy Y Lam chán nản buồn bã, uống không ít rượu giải sầu rồi mới thấp giọng nói cho cô ấy biết, sau này không cần phải giấu giếm Vương Hòa Vi và Dư Xảo Nương nữa, nói không chừng qua năm sau là được uống rượu mừng của Hội Hội và Bùi Thứ Chi rồi.
Lúc mới đầu Lâm Mạt Tử còn tưởng mình nghe nhầm, gia thế của hai nhà Bùi – Lư cách biệt quá lớn. Cô ấy cảm thấy khả năng Y Lam quyến rũ Hoàng tử kiếm một cái thân phận còn cao hơn là việc Hội Hội gả cho đệ tử đang rực rỡ quyền thế nhất của Bùi thị Hà Đông. Thế nhưng liên tưởng đến việc nhận con nuôi thừa tự mà nhà họ Lư dạo gần đây đang âm thầm tiến hành, cô ấy mới phản ứng lại kịp, kẻ họ Bùi kia đã có dự mưu từ sớm rồi!
“Không biết Bùi Thiếu tướng có chỉ giáo gì.” Lâm Mạt Tử quan sát từ trên xuống dưới. Đây là lần đầu tiên cô ấy nhìn kỹ người này ở khoảng cách gần. Chẳng thấy cái gọi là hổ mặt cười khiến người ta như tắm gió xuân đâu, cô ấy chỉ thấy một vị quý công tử lạnh lùng xa cách, dung mạo tuấn mỹ mà thôi.
Bùi Thứ Chi vén lên một góc rèm xe: “Ta có một xưởng gỗ ở trong thâm sơn Lĩnh Nam, có không ít gỗ tốt, có thể men theo vách núi treo dây đưa xuống. Ta còn có thể điều động cho cô mười mấy lão thợ mộc chuyên đóng thuyền, nhưng thuyền trên sông và thuyền đi biển có nhiều điểm khác biệt, lúc đóng thuyền phải có người ở bên cạnh chỉ điểm.”
Lâm Mạt Tử cảnh giác: “Ngài có ý gì?”
Bùi Thứ Chi: “Ta lại cho cô thêm một khoản tiền, đủ để cô thuê thuyền công cần thiết cho cả một chiếc thuyền. Còn việc có chiêu mộ được nhân thủ hay không, rồi thuận lợi nhổ neo khởi hành, thì phải xem danh vọng và bản lĩnh của bản thân cô thế nào.”
Lâm Mạt Tử tức giận: “Ngài cảm thấy ta giúp Hội Hội, chính là vì để được báo đáp sao?”
Bùi Thứ Chi nhạt giọng nói: “Dù sao thì cũng phải tạ ơn, Hội Hội cảm tạ cô, với ta đến cảm tạ cô, cũng chẳng có gì khác nhau.” Nói xong chàng liền buông rèm xuống, xoay người rời đi.
Lâm Mạt Tử ngồi lại một mình trong xe ngựa tức đến mức ngửa người ra sau. Y Lam nói chẳng sai chút nào, cái tên họ Bùi này quả thực là quá ngứa mắt mà!
Trong sương phòng phía đông Lộc Dã Đường.
Lư Kỷ đầu năm ngoái đã bắt đầu học chữ, đại khái hiểu được trong nhà giờ phút này đang gặp nạn, phụ mẫu và Y Lam không rõ tung tích.
Lư Ỷ lại còn quá nhỏ tuổi, chỉ ngây ngây ngốc ngốc không ngừng gặng hỏi: ‘Cha mẹ đi đâu rồi, muội muốn Y Lam chơi búp bê đất sét với muội cơ’.
Lư Hội nén nước mắt, dỗ dành lừa gạt nói rằng có một mối khách cực kỳ lớn tới, cha mẹ đi ra ngoài làm ăn buôn bán rồi, Y Lam phải theo sát dọc đường để bảo vệ cho hai người họ. Bởi vì vợ chồng Lư Trí Nam quả thực thường xuyên đi xa, Lư Ỷ đối với lý do này hoàn toàn tin tưởng không chút mảy may nghi ngờ.
Lư Kỷ cúi gằm mặt, mang theo giọng khóc nức nở ồm ồm hỏi: “Mẹ sẽ còn trở về chứ tỷ?”
Lư Ỷ không hiểu: “Sao lại không trở về ạ? Làm xong buôn bán, cha và mẹ liền về nhà thôi mà.”
Lư Hội đau lòng như cắt, ôm chặt lấy hai đứa nhỏ: “Đúng, họ nhất định sẽ trở về!”
Sau khi giao hai huynh muội cho Tứ Hỷ và vú em do Bùi Thứ Chi sắp xếp, Lư Hội lại muốn ra ngoài tìm kiếm, bèn bị Bùi Thứ Chi cản lại, kéo vào trong thư phòng.
“Hội Hội, ta đã phái người dọc theo bờ sông tìm kiếm dấu vết ẩu đả.” Bùi Thứ Chi mím môi, dường như không biết nên nói tiếp thế nào, “Theo thân thủ của Y Lam, tuyệt đối không thể đơn giản bị người ta bắt giết, ắt sẽ xảy ra kịch chiến. Chỉ cần có dấu vết, thì có thể tìm được.”
Lư Hội sững sờ: “Chàng đang nói gì vậy? Tại sao phải tìm dấu vết, chàng, chàng cảm thấy cha mẹ ta đã… đã bị…” Cô còn chẳng dám nói tiếp nữa.
Bùi Thứ Chi: “Hội Hội, nàng nghe ta nói, đám ác đồ đó cho dù không phải người trong quân ngũ, thì khẳng định cũng từng lăn lộn trong quân. Tử sĩ như vậy không phải là gia đình bình thường có thể dùng được. Ba ngày nay ta đã động viên tất cả tai mắt ngầm, tra xét khắp các cao môn đại hộ trong thành Thần Đô, từ thân vệ của Bệ hạ đến Ngụy Quốc phu nhân, còn có Đông Cung, Công chúa Vĩnh Ninh, cha con Lạc Xuyên vương, thậm chí là anh em Kim thị… Bọn họ hoàn toàn không có dấu hiệu điều động nhân mã.”
“Chuyện này chỗ nào cũng lộ ra vẻ kỳ quái, ta khổ tư minh tưởng, lại hoàn toàn không nghĩ ra kẻ nào có khả năng ra tay.”
Bùi Thứ Chi nắm lấy đầu vai cô: “Nàng cũng nghe thấy lời của bọn Tứ Hỷ rồi, đám tặc nhân đó là muốn bắt sống người nhà nàng. Bắt sống để làm gì? Tự nhiên là để uy hiếp nàng, hoặc là ta. Ba ngày trôi qua rồi, chúng ta đã không tìm được tung tích cha mẹ nàng bỏ trốn, cũng không có ai tới cửa uy hiếp, đây là cớ làm sao?”
Lư Hội không cách nào trả lời: “Đây là bởi vì… vì sao…?” Cô cũng không biết.
Bùi Thứ Chi: “Chỉ có hai khả năng. Hoặc là, song thân của nàng và Y Lam đã ngộ hại, tặc nhân mang theo thi thủ của họ đi, lúc này đang tính toán bước tiếp theo; hoặc là, ba người họ đã đi trốn rồi.”
Trong mắt Lư Hội lóe lên tia sáng hy vọng: “Chàng nói bọn họ đi trốn rồi sao?”
Bùi Thứ Chi không nỡ phủ nhận: “Cho nên ta mới để Tử Liệt tìm kiếm tỉ mỉ xung quanh Trang Lư xem có dấu vết đánh nhau kịch liệt hay không. Nếu như không có, vậy thì khả năng rất lớn là bọn họ đã trốn đi rồi.”
Lư Hội hai tay đan vào nhau, lẩm bẩm dốc sức tự thuyết phục chính mình: “Nhất định là như vậy! Ắt hẳn là như vậy!”
Thực ra Bùi Thứ Chi nói những lời này, là hy vọng Lư Hội đừng không quản ngày đêm đi tìm kiếm nữa, uổng công làm hỏng cả thân thể. Đã qua ba ngày rồi, vợ chồng Lư thị và Y Lam bất luận là chết, là trốn hay là bị bắt sống, giờ phút này đều đã thành định cục.
“Công tử, trong cung có người tới.” Quản sự ở ngoài cửa trầm giọng bẩm báo, “Bệ hạ triệu kiến Lư nương tử.”
Bùi Thứ Chi chầm chậm buông tay: “Trước đó ta xin nghỉ cho nàng ba ngày, lúc này đã đến hạn rồi.”
Mắt Lư Hội sáng lên: “Đúng, ta nên tiến cung, ta phải cầu xin Bệ hạ hỗ trợ tìm kiếm cha mẹ!”
Lư Hội dọc đường chạy thục mạng, xông đến trước bậc thềm ngọc của Phượng Nghi điện, từ xa đã nhìn thấy trong tiền điện cửa lớn mở toang, các vị Tể tướng Chính Sự đường đứng đầu là Thôi Thăng đang cãi vã với anh em Kim thị.
“Bọn ta muốn diện kiến Bệ hạ!” Thôi Thăng không kìm nén được lửa giận, “Hằng Quốc công còn muốn ngăn cản bọn ta đến khi nào?”
Kim Dật Nhiên ngạo mạn cười một tiếng: “Không phải tại hạ muốn cản trở Thôi tướng công, mà là Bệ hạ đang ngọa bệnh, không tiện gặp người.”
Trương Hán Dương tiến lên một bước: “Đã hơn hai tháng rồi, bọn ta chưa từng được gặp Bệ hạ lấy một lần, triều chính làm sao vận hành?”
Kim Tử Nhạc giọng điệu thong thả chậm rãi: “Thánh chỉ của Bệ hạ bọn ta tự sẽ truyền đạt, Trương tướng công có việc gì cần bẩm báo, cũng có thể giao cho hai huynh đệ chúng ta mà.”
Trần Huy mang vẻ mặt khinh bỉ: “Ai biết được huynh đệ các ngươi có ở giữa giở trò cản trở, họa loạn triều cương hay không!”
“Kẻ họ Trần kia, ngươi…!” Kim Tử Nhạc giận dữ.
“Thôi nào thôi nào!” Phạm Ngạn Chân đứng giữa giảng hòa, “Bệ hạ ngọa bệnh, kẻ làm thần tử như chúng ta sao có thể cãi vã vào lúc này? Chẳng bằng chúng ta mỗi bên nhường một bước, thỉnh hai vị Quốc công cho phép một hai người trong chúng ta tiến vào trong điện, cách bình phong bẩm báo vài câu cũng được.”
“Không được.” Kim Dật Nhiên dứt khoát từ chối, “Có chuyện gì thì cứ nói đi, đừng có giả thần giả quỷ. Trên triều đường có chuyện gì mà huynh đệ chúng ta không nghe được cơ chứ.”
Viên Thương tính tình cương trực, nhịn nửa ngày rốt cuộc cũng không nhịn được nữa: “Vi thần muốn hỏi Bệ hạ một chút, tháng trước Bệ hạ đại xá thiên hạ, tháng này Bệ hạ lại đại xá thiên hạ. Chư phạm trong ngục đều đã qua Hữu tư xét duyệt theo luật, chứng cứ phạm tội rành rành, không phải là kẻ bị hàm oan. Nếu cứ liên tục xá tội, thì hình luật chẳng còn uy nghiêm, khiến cho kẻ tiểu nhân càng thêm phóng túng làm ác, người lương thiện khó lòng làm rõ nỗi oan. Lâu dần e rằng sẽ tổn hại quốc thể, liên lụy xã tắc. Mong Bệ hạ cẩn trọng trong việc thi ân, để nghiêm minh pháp kỷ.”
Kim Tử Nhạc nhếch mí mắt lên: “Tháng trước Bệ hạ bệnh lâu mới khỏi, bèn đại xá thiên hạ; tháng này Bệ hạ lại ngọa bệnh lần nữa, hy vọng đại xá thiên hạ để cầu phúc. Chỉ là dăm ba tên tù phạm quèn mà thôi, lẽ nào lại sánh được với long thể của Bệ hạ sao? Viên tướng công đúng là chuyện bé xé ra to.”
Viên Thương tức đến mức râu cũng thổi vểnh cả lên.
Đã cãi cọ rồi thì Trần Huy cũng la lối oang oang: “Tư Lễ thừa Giản Phụng Minh và Phượng Các xá nhân Vệ Ám có tội tình gì, đang yên đang lành cớ sao lại bị ngươi tống vào đại ngục!”
Kim Dật Nhiên cười lạnh: “Hai kẻ này lén lút nghị luận Bệ hạ bệnh nặng, còn nói chẳng bằng sớm quy thuận Đông Cung, lại càng mưu đồ muốn Bệ hạ đem đế vị thiền nhượng cho Thái tử vân vân. Những cái này còn chưa tính là có tội sao?!”
Trần Huy mắng: “Là chính tai ngươi nghe thấy sao? Nói miệng không bằng chứng, chứng cứ ở đâu!”
Kim Dật Nhiên: “Chứng cứ ta tự khắc sẽ đưa ra, ông cứ chờ đó đi!”
Trương Hán Dương nhân cơ hội nói: “Để tránh việc ngươi nghiêm hình bức cung, đánh đập ép nhận tội, ta đã chuyển hai người Giản, Vệ từ đại lao Hình bộ sang Đại Lý tự rồi, chỉ còn chờ chứng cứ của Hằng Quốc công thôi.”
Kim Dật Nhiên xối xả chửi ầm lên: “Không có thủ lệnh của ta, ông dám tự ý điều động nhân phạm!”
Diêu Nguyên Hiếu nãy giờ vẫn đứng ở trong góc đột nhiên cất giọng lạnh lẽo: “Có bản lĩnh thì ngươi đem Đại Lý tự khanh cũng đổi thành nanh vuốt của ngươi luôn đi, bằng không dưới ánh mặt trời tỏ rạng, quyết không dung túng cho hai người các ngươi làm càn làm bậy!”
Mọi người cãi vã ầm ĩ thành một mớ hỗn độn, Phạm Ngạn Chân không ngừng đứng ra khuyên can giảng hòa.
Lư Hội đứng ngoài cửa nghe thấy mà liên tục lắc đầu, thầm nghĩ Bệ hạ quả thực đã già rồi, vậy mà có thể dung tẫn triều thần ầm ĩ rộn nhộn đến nhường này.
Cô cất bước vào cửa, chắp tay thi lễ nói: “Bẩm báo hai vị Quốc công, Bệ hạ triệu kiến vi thần.”
Hai gã này chắc không đến mức cũng chẳng cho cô diện kiến Nữ hoàng chứ.
Hiển nhiên là cô đã lo xa, Kim Dật Nhiên vừa thấy là cô liền phẩy tay nói: “Bệ hạ đang ở Trường Sinh điện, ngươi tự đi đi.”
Viên Thương tức muốn đứt hơi: “Bệ hạ nếu đã ở Trường Sinh điện, các ngươi cớ sao lại ở chốn này cản trở bọn ta?”
Nói đoạn ông cũng toan cất bước đi về phía Trường Sinh điện, các vị Tể tướng khác liền đi theo.
Kim Dật Nhiên cười gằn hai tiếng: “Phượng Nghi Điện coi như là tiền triều, nhưng Trường Sinh điện lại là trọng địa hậu cung. Không có sự triệu kiến của Bệ hạ, ngoại nhân tùy ý ra vào chính là tội chết. Mấy vị tướng công cứ suy nghĩ cho kỹ.”
Trương Hán Dương nổi trận lôi đình: “Bọn ta là ngoại nhân, huynh đệ các ngươi lẽ nào không phải ngoại nhân sao! Lũ nhãi ranh vô tri làm loạn cung vi, thật đáng để tiếng dơ muôn đời!”
Tất thảy mọi người lại một lần nữa cãi vã ầm ĩ, Phạm Ngạn Chân đành tiếp tục đứng ra hòa giải vỗ về.
Lúc Lư Hội bước qua ngưỡng cửa, Kim Tử Nhạc chợt đuổi theo vài bước, thấp giọng nói: “Lư nương tử, ta đã nghe nói chuyện sơn trang nhà cô gặp kiếp nạn rồi, hy vọng người nhà của cô có thể bình an trở về.”
Lư Hội nhạt giọng nói: “Nghiệp Quốc công vẫn là nên tự lo cho bản thân mình trước đi. Kính Mỹ điện hạ cùng hai vị Quận chúa qua đời, huynh đệ các người tính ra đã một hơi đắc tội với cả hai nhà Lệ – Chử rồi. Ngoại trừ Bệ hạ, thiên hạ này chẳng còn ai bảo vệ được các người nữa đâu.”
Sắc mặt Kim Tử Nhạc trắng bệch, trong ánh mắt xẹt qua tia kinh hãi sợ sệt: “Ta, ta… Lư nương tử, thực ra ta vốn dĩ muốn…”
Lời còn chưa dứt, Cù Tùng Phong đã vội vội vàng vàng chạy tới: “Ôi chao Lư nương tử, sao cô còn chậm trễ ở đây thế này? Bệ hạ đang đợi cô đấy, mau, mau qua đó đi!”
Lư Hội vội vàng lên tiếng đáp lời: “Vâng vâng, ta qua ngay đây!”
Cô nối gót Cù Tùng Phong chạy xuống bậc thềm ngọc trải dài, chợt trong lòng lay động, bèn quay đầu nhìn lại. Chỉ thấy những mái vòm cung điện nhô cao sừng sững đang bị bao phủ dưới màn sương chiều nặng nề, tựa như một con dã thú khổng lồ đang phủ phục chực chờ.
Bên trong điện, Kim Dật Nhiên vẫn ngẩng cao đầu, gân cổ cãi vã cùng chư vị Tể tướng, còn Kim Tử Nhạc thì đứng thẫn thờ bên cạnh cột cửa màu chu sa đỏ rực, vẫn đang dõi mắt nhìn về phía Lư Hội rời đi.
Đây là lần cuối cùng Lư Hội nhìn thấy anh em Kim thị.
Là anh em Kim thị khi còn sống.
Bên trong Trường Sinh Điện ngập tràn hương Trầm Thủy ung dung quý phái, mùi hương nồng đậm đến mức gần như khiến người ta phát ngấy. Nữ hoàng một mình khoác áo ngồi đó, kề sát bên ngọn cung đăng nheo mắt xem một phong mật báo, kề lại vô cùng gần.
Lư Hội chợt nhớ đến lời lão hòa thượng ở chùa Bà Lam từng nói, người già yếu trước lúc lâm chung sẽ dần đánh mất đi ngũ cảm, thường thường đều bắt đầu từ khứu giác và thị giác trước…
Nữ hoàng trông thấy cô thì vô cùng hoan hỉ, bèn đặt phong mật báo xuống ngồi thẳng người dậy: “Mau bình thân, qua đây kể cho trẫm nghe chuyện trong nhà của ngươi xem nào.”
Lư Hội liền chọn lựa những chuyện mấu chốt khẩn yếu kể lại một lượt.
Nữ hoàng buông tiếng thở dài thườn thượt, một lát sau mới chậm rãi cất lời: “cậu của ngươi nói có lý, nếu đã không tìm thấy thi thủ, cũng không có kẻ nào gửi thư đòi đưa ra điều kiện, song thân ngươi ắt hẳn là trong lúc tình thế cấp bách đã đi trốn rồi.”
Lư Hội nóng ruột lo âu: “Đã ba ngày trôi qua rồi, cớ sao họ vẫn cứ trốn biệt không chịu ra mặt thế ạ?”
Nữ hoàng: “Thế sự khó lường, nói không chừng bọn họ lại gặp được kỳ ngộ gì đó mà ta chưa hay biết.” Bà cúi đầu dịu giọng an ủi, “Thôi đừng khóc nữa. Là phúc thì không phải họa, là họa thì có tránh cũng chẳng thoát.”
“Không, không phải vậy đâu.” Lư Hội dùng cả hai tay quệt nước mắt tèm lem, “Lúc vi thần còn nhỏ, từng có một lão hòa thượng nói vi thần có tướng mạo vô cùng kỳ lạ, thoạt nhìn thì thấy phúc thọ mỏng manh, nhưng nhìn kỹ lại dường như hoàn toàn trái ngược. Lão, lão còn nói vi thần sinh ra vốn đã bạc duyên với phụ mẫu, là cái mệnh cách khiến song thân đoản thọ. Vi thần tức điên lên được, thế là liền, liền…”
“Liền hung hăng tẩn cho tên lão hòa thượng đó một trận tơi bời chứ gì?” Nữ hoàng tiếp lời giúp cô.
Lư Hội: “Hả? Sao Bệ hạ đoán ra hay vậy?”
Nữ hoàng hừ lạnh một tiếng: “Chẳng cần phải đoán. Nếu đổi lại là trẫm, trẫm lao vào là cho ngay một trận đòn nhừ tử rồi! Tên hòa thượng khốn kiếp gì không biết, sao có thể nói ra những lời như vậy với một đứa trẻ chứ! Huống hồ tướng mạo của ngươi vừa nhìn đã biết là người có phúc trạch thâm hậu, học nghệ không tinh còn dám nói hươu nói vượn, đáng bị đòn lắm!”
Trên mặt Lư Hội hãy còn vương mấy giọt lệ châu, nhưng lại không kìm được bật cười phì một tiếng: “Vi thần chồm lên cổ lão hòa thượng đó vừa đạp vừa đánh, còn bứt rụng luôn nửa bên râu của lão! Thế rồi lão hòa thượng đó bèn sửa miệng ngay, bảo là lúc trước lão nhìn nhầm rồi, song thân của vi thần là người tích đức hành thiện, nửa đời sau ắt nhiều phúc nhiều thọ, con cháu đầy đàn.”
Nữ hoàng lắc đầu lia lịa: “Trẫm biết ngay mà, quả nhiên chỉ là một tên bịp bợm giang hồ! Ngươi đáng lý ra nên vặt sạch nốt nửa đám râu còn lại của hắn, xem hắn còn dám nói thêm gì nữa không.”
Lư Hội mếu máo nhăn nhó mặt mày: “Vi thần không dám đâu, nhỡ đâu người ta thẹn quá hóa giận, nguyền rủa vi thần mai này phải gả cho một tên xấu xí ma chê quỷ hờn thì biết làm sao? Vẫn là nên biết chừng mực mà thu tay lại thì hơn.”
Hai người vua tôi cùng nhau cất tiếng cười giòn giã.
Cười đùa một trận xong, Nữ hoàng lấy xuống một chuỗi tràng hạt bằng tử thủy tinh đang bày trên thư án: “Đây là cống vật do Phật quốc ở phía bên kia tuyết sơn dâng lên, đi theo trẫm cũng đã được mấy năm rồi. Xem như trẫm cho ngươi mượn, đợi đến khi song thân ngươi bình an trở về, ngươi lại mang đến trả cho trẫm.”
Lư Hội vô cùng cảm kích, vội quỳ gối liên tục bái tạ ân điển.
Nữ hoàng: “Trẫm sẽ ban thêm một đạo khẩu dụ, sai Nam nha cấm quân đi cùng giúp ngươi tìm người. Chẳng qua cái công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ chu đáo này, xưa nay quan binh vốn chẳng mấy hữu dụng, vẫn phải dựa vào Ngụy Quốc phu nhân thôi…”
Lư Hội vội nói: “Lát nữa vi thần sẽ lập tức đi cầu xin phu nhân giúp đỡ ạ.”
Nữ hoàng: “Trẫm cũng sẽ tự mình dặn dò nàng ấy một tiếng. Dạo này ngươi cứ dốc lòng tìm kiếm cha mẹ cho tốt đi, không cần phải vào cung đương sai nữa.”
Lư Hội lại một lần nữa khấu bái tạ ơn.
Nói ngần ấy lời, Nữ hoàng lại cảm thấy mệt mỏi, đôi mắt khép hờ tựa người ra sau: “… Con muốn phụng dưỡng nhưng cha mẹ chẳng còn, song thân đều còn, ấy là phúc phần lớn lao…”
Lư Hội vội vàng trải phẳng gối tựa cùng chăn mỏng, đỡ Nữ hoàng nằm tựa vào đầu giường, sau đó dọn dẹp chỉnh tề đống tấu chương dày cộp đặt sang một bên, miệng dịu dàng lải nhải: “Than ôi, vi thần khi còn nhỏ nghe hát kịch, còn tưởng rằng làm Hoàng đế là chuyện sung sướng nhất trên đời, nay mới biết xử lý triều chính lại vất vả đến nhường này, Bệ hạ đến một giấc ngủ trọn vẹn cũng chẳng ngon…”
Nữ hoàng nhắm mắt bật cười khe khẽ: “Làm Hoàng đế tự nhiên là sung sướng rồi, bằng không từ cổ chí kim làm sao có biết bao kẻ dẫu xách đầu cũng muốn làm Hoàng đế chứ, có điều làm Thái hậu cũng không tồi. Nay ngẫm lại, trẫm kể từ khi tiến cung hầu hạ đế vương lúc nào cũng bày mưu tính kế, không lúc nào được nghỉ ngơi, tính ra làm Nhiếp chính Thái hậu hai năm đó là thanh nhàn nhất.”
Lư Hội trong lòng chợt lay động.
Nữ hoàng mở bừng mắt: “Muốn hỏi gì thì cứ hỏi đi.”
Lư Hội cúi đầu: “Thần to gan, có một chuyện đã thắc mắc từ lâu. Thần tuy hầu hạ Bệ hạ chưa lâu, nhưng cũng cảm thấy, cảm thấy… chiếc ghế rồng này vốn chẳng dễ ngồi chút nào… Thuở ban sơ, cớ sao ngài cứ nhất quyết phải xưng đế cơ chứ? Bệ hạ ngài đừng cười, vi thần xuất thân từ nhà thương gia, phàm chuyện gì cũng nói đến cái thực tế. Làm một Nhiếp chính Thái hậu chẳng phải cũng giống như vậy, có thể càn cương độc đoán trị lý quốc gia sao, lại không có nhiều chuyện phiền lòng đến thế.”
Nữ hoàng mỉm cười nhẹ, dường như chìm vào hồi ức: “Câu nói này trẫm dường như đã từng nghe qua từ nhiều năm trước… Trẫm nghĩ xem nào… A, đúng rồi, là Sở Vương phi Bùi thị quá cố, chính là cô mẫu của cậu ngươi. Nàng ta cũng từng nói với trẫm những lời tựa tựa như vậy.”
“Hả?” Lư Hội sửng sốt.
Cô nhớ rõ vị Bùi Vương phi này là bị Nữ hoàng ban cho cái chết, quả thực không biết làm sao để tiếp lời.
Nữ hoàng hồi tưởng lại: “Vị Bùi Vương phi này đúng là một người thú vị, thuở ấy quyền thế của trẫm chưa hiển lộ, đám công chúa vương phi, cao môn quý phụ kia, trước mặt thì cung kính với trẫm, nhưng sau lưng lại là ngập trời những lời đàm tiếu to nhỏ, phỉ báng châm chọc. Chỉ có Bùi thị, chưa từng nói ra nửa câu nhàn thoại về trẫm.”
Lư Hội lấy làm lạ nói: “Xem ra Bùi Vương phi rất là kính trọng Bệ hạ.” Vậy cớ sao sau này lại bị ban chết chứ.
Nữ hoàng cười cười: “Kính trọng hay không trẫm không biết, có điều nàng ta đã sớm đoán được trẫm có dã tâm xưng đế, vì thế liền quyết đoán dứt khoát, mưu tính mấy năm trời, cuồn cuộn không ngừng lén lút dâng tặng binh khí, tiền tài, lương thực cho phản loạn nghịch tặc.”
Lư Hội lại một lần nữa hoảng hốt thốt lên: “Bùi Vương phi mà lại dám mưu phản sao?”
Cô kinh ngạc không phải là chuyện mưu phản, mà là mang thân phận Sở Vương chính phi, phạm phải đại tội mưu nghịch, vậy mà Sở Vương phủ và Hà Đông Bùi thị lại bình an vô sự, không hề bị liên lụy!
Nữ hoàng chìm vào trầm tư: “Kẻ phản đối trẫm xưng đế nhiều nhường ấy, âm mưu tính toán dơ bẩn tầng tầng lớp lớp nổi lên, trẫm buộc lòng phải trọng dụng khốc lại, hòng chấn nhiếp lũ tiểu nhân. Nay xem ra, thực chất Bùi thị đã sớm liệu trước được rồi. Chỉ cần trẫm xưng đế, ắt sẽ đại khai sát giới, đầu rơi máu chảy.”
“Quả thực là một nữ tử thông minh mẫn tiệp, dám nghĩ dám làm, vượt xa đấng mày râu. Vì thế cuối cùng trẫm đã ban cho nàng ta một ly ‘Loạn ly thương’, đó là loại rượu độc do Ngụy Quốc phu nhân sai người bí mật điều chế, có thể khiến người ta chết đi trong giấc ngủ say, hoàn toàn không hề đau đớn.”
Lư Hội nghe mà kinh tâm động phách, dường như đang đặt mình vào trận gió tanh mưa máu của mười sáu năm về trước.
Nữ hoàng ngoảnh đầu liếc nhìn cô một cái: “Ngươi hỏi trẫm vì cớ gì cứ nhất thiết phải xưng đế sao? Trẫm hỏi ngược lại ngươi, giả dụ trẫm làm một Nhiếp chính Thái hậu thập toàn thập mỹ, tính toán không bỏ sót đường nào, vạn vô nhất thất, bá quan triều đình liệu có ủng lập trẫm làm quân chủ hay không?”
Lư Hội ngẫm nghĩ một lát, lắc lắc đầu: “Thái hậu có làm tốt đến đâu, thì vẫn chỉ là Thái hậu.” Cùng lắm là dâng lên cho vị Thái hậu này một cái thụy hiệu chữ nghĩa hoa mỹ, sau đó tổ chức lễ tang thật hoành tráng, lưu lại một phen mỹ danh vào sử sách.
Nữ hoàng: “Tốt, trẫm lại hỏi ngươi. Giả dụ trẫm làm một vị quân chủ thập toàn thập mỹ, nhân từ anh minh, văn trị võ công đều xuất sắc, bá quan triều đình liệu có cảm niệm công lao cùng sự vất vả của trẫm, cảm thấy nữ tử xưng đế cũng không có gì là không thể, mà ngấm ngầm nới lỏng sự câu thúc của lễ pháp, từ đó về sau ngầm thừa nhận nữ tử làm vua không?”
Lư Hội thở dài thườn thượt: “E rằng vẫn là không.”
Nữ hoàng cười gằn một tiếng, dáng vẻ kiêu ngạo tràn ngập trên nét mặt: “Chẳng những sẽ không cho phép, mà sau đời của trẫm, bọn chúng về sau sẽ nghiêm phòng tử thủ, chấm dứt mọi khả năng nữ tử lại một lần nữa nhúng chàm vào đế vị. Nếu như trẫm anh minh duệ trí là thế, hôn dung tàn bạo cũng là thế, trẫm cớ sao lại không thể hành sự theo đúng tâm ý của riêng mình!”
“Mấy chục năm qua, người hận trẫm nhiều như cá diếc sang sông. Hận trẫm đề bạt con em hàn môn, hận trẫm cấm cửa hôn nhân năm họ bảy dòng dõi danh giá, hận trẫm tru sát công huân di thần, trẫm làm sao quan tâm cho xuể ngần ấy thứ, muốn hận thì cứ hận đi! Trẫm là kẻ chiến thắng, chúng là lũ thua cuộc! Trẫm ngồi tít trên cao tại ghế rồng, hưởng hết phú quý nhân gian, bọn chúng có uất ức, phẫn hận, tuyệt vọng, kêu trời oán đất cũng vô dụng!”
“Quyền lực nằm ở trong tay trẫm, trẫm chính là muốn nhìn xem chúng dẫu ôm trọn một bụng không cam lòng, nhưng vẫn buộc phải quỳ gối xưng thần, ca công tụng đức cho trẫm!”
Lư Hội quỳ bên chân Nữ hoàng ngước nhìn lên, chỉ cảm thấy trong bóng tối chìm đắm, Nữ hoàng oai phong lẫm liệt, uy nghiêm tựa như thần ma.
Cô có chút hoảng sợ, khe khẽ hỏi: “Có quyền lực, là chuyện gì cũng có thể làm được sao?”
Nữ hoàng ánh mắt mang theo vẻ thương xót nhìn cô: “Tất nhiên là được. Nếu như giờ phút này ngươi có trong tay quyền lực vô biên, thì quản chi chuyện hao người tốn của, sợ gì chuyện hưng sư động chúng, cứ việc đem chu vi mấy trăm dặm quanh thành Thần Đô lật tung lên từng tấc từng tấc một, lại còn không tìm thấy được song thân của ngươi hay sao?”
Trong lòng Lư Hội bỗng nảy sinh một thứ cảm giác khác thường, một dã vọng bùng cháy chực chờ tuôn trào.
Nếu cô có quyền lực……?
Nữ hoàng đặc biệt thích ngắm nhìn sự biến hóa trong nét mặt của vị tiểu cô nương này, nhìn bản tính vốn đang trọn vẹn hài hòa của cô dưới sự ảnh hưởng của chính mình không ngừng do dự, dao động, hệt như đang tùy ý phác họa lên một tờ giấy trắng, quả thực vô cùng thú vị.
Sự mệt mỏi lại một lần nữa ập đến, Nữ hoàng run rẩy nằm xuống, từng màn quá khứ tựa như đèn kéo quân hiện lên trong tâm trí.
Đêm nay bà nhớ lại quá nhiều chuyện xưa, dưới đại đạo của quyền lực không chỉ trải đầy thi hài của kẻ thù, mà còn có cả chí thân cốt nhục của bà, chị gái ruột thịt, cháu gái, cháu trai, còn có cả con trai, cháu nội của bà, quá nhiều rồi…
“Quyền lực lại quan trọng đến thế sao?” Thiếu nữ vẫn đang khổ sở suy ngẫm.
Nữ hoàng mệt mỏi nhắm nghiền hai mắt: “Rất quan trọng, đó là một món chí bảo nhân gian lộng lẫy rực rỡ. Chỉ có điều, chẳng một ai có thể giành được nó mà không mảy may thương tích. Ắt phải cắt lấy máu của ngươi, khoét lấy tim của ngươi. Vượt qua được, ngươi chính là chủ nhân của nó, không vượt qua được, thì thân bại danh liệt, chết không có đất chôn.”
Lư Hội ngồi quỳ gối tĩnh lặng lắng nghe.
Cô nắm chặt hai tay, nỗ lực kiềm chế sự run rẩy nhè nhẹ của cơ thể. Từng chữ, đều lọt hết vào tai.
Lư Hội hầu hạ Nữ hoàng ngủ say rồi mới bước ra, vốn định lập tức phóng ngựa nhanh tới phủ Ngụy Quốc phu nhân, ai ngờ xe ngựa của Công chúa Vĩnh Ninh đã đợi sẵn ở ngoài cung môn.
Công chúa Vĩnh Ninh từ cửa sổ xe thò nửa khuôn mặt ra: “Lên đây đi, muốn đi đâu ta đưa cô đi, sẽ không làm lỡ dở bao nhiêu thời gian đâu.”
Lư Hội đành phải giao ngựa của mình cho thị vệ của công chúa phủ, rồi mới báo phu xe hướng về phía phủ Ngụy Quốc phu nhân mà đi.
Vừa bước vào xe ngựa, cô mới phát hiện trong xe vậy mà còn có Đoan Mộc Tuệ và Thái tử phi đang ngồi.
Cô vội vàng hành lễ.
Thái tử phi đưa hai tay đỡ cô đứng dậy: “Mau bình thân, giữa cô và ta không cần màng đến mấy thứ hư lễ này.”
Công chúa Vĩnh Ninh: “Biết cô hiện tại đang nóng ruột như lửa đốt, ta không mời cô qua phủ hàn huyên nữa. Nhà cô xảy ra chuyện lớn thế này, mẫu hoàng nói thế nào?”
Lư Hội: “Bệ hạ nói sẽ phái người giúp tôi tìm cha mẹ, nhưng chuyện này vẫn phải ngửa mặt trông cậy vào Ngụy Quốc phu nhân nhiều hơn.”
Đoan Mộc Tuệ gật đầu: “Lời này có lý, quan binh đa phần đều làm qua loa lấy lệ, thủ hạ của Ngụy Quốc phu nhân vẫn là nhanh nhẹn dứt khoát hơn.”
Đoan Mộc Tuệ móc từ trong tay áo ra một quyển hồ sơ đưa qua: “Đây là hộ tịch và đồ sách trong vòng phương viên trăm dặm quanh Trang Lư, ta đã tỉ mỉ đối chiếu qua rồi, cô cứ theo cái này mà lục soát từng nhà từng hộ một, ắt hẳn sẽ có manh mối.”
Công chúa Vĩnh Ninh nắm lấy tay Lư Hội, lời lẽ khẩn thiết: “Trong tay ta không có quyền chẳng có người, chỉ có thị vệ và môn khách của phủ công chúa. Chỉ cần cô dùng đến, ta nhất định sẽ toàn lực tương trợ!”
Nét bi thương trên mặt Thái tử phi vẫn chưa phai, cũng cất lời nói: “Phàm có việc cần gì, cứ việc mở miệng.”
Lư Hội vô cùng cảm kích: “Đa tạ Công chúa, Thái tử phi, Đoan Mộc đại nhân, đại ân không lời nào tạ xiết, ân tình sâu nặng này, Hội Hội ngày sau ắt có hồi báo. Có điều, có Bệ hạ, cậu, Ngụy Quốc phu nhân cùng nhau giúp đỡ, thiết nghĩ rất nhanh sẽ tìm thấy cha mẹ nhà tôi thôi.”
Công chúa Vĩnh Ninh và Đoan Mộc Tuệ thi nhau gật đầu.
Thái tử phi lại chẳng có động tĩnh gì, trong mắt bà ánh lệ chớp động: “Lời tuy nói vậy, nhưng cha mẹ của mình thì chỉ có bản thân mình mới xót xa mà thôi. Mười sáu năm trước, nhà họ Đỗ tao ngộ tai ương ngập đầu, cha mẹ cùng tay chân huynh đệ của ta không một ai sống sót. Thái tử điện hạ tuy rằng cũng vô cùng đau lòng, nhưng rốt cuộc vẫn không giống như ta đau thấu tâm can, đứt từng khúc ruột.”
Thái tử phi phát xuất từ tận đáy lòng, lời lẽ dị thường cảm động: “Ta thường nghĩ, nếu ta có quyền có người, thì có thể che chở cho cha mẹ, không để họ phải bỏ mạng trong cảnh lênh đênh lưu lạc, không để huynh tỷ đệ muội phải chịu cảnh thê lương ly tán. Giá như thuở đó ta có quyền thế thì tốt biết mấy…”
“Ai bảo không phải chứ.” Công chúa Vĩnh Ninh tự trào mỉm cười, “Năm đó ta xuất môn đạp thanh, lúc về mới biết phò mã Mộ Dung đã bị tống vào đại ngục. Trải qua bảy tám ngày sống trong mông muội, mới được Cù Tùng Phong tốt bụng cho biết phò mã đã phạm phải tội tình gì. Ta chẳng dám mong cầu xin tha thứ, chỉ muốn được gặp chàng ấy lần cuối cùng, hỏi rõ hai câu. Thế rồi ta khổ sở cầu xin mẫu hoàng suốt mấy ngày đêm, cuối cùng nhận lại được một cái thây toàn vẹn của phò mã.”
“Còn chưa đợi ta kịp thở lại một hơi, mẫu hoàng lại sắp đặt cho ta một mối hôn sự. Chử phò mã cũng rất tốt, học thức uyên bác, làm người trầm ổn, chỉ là ít nói ít cười, không thích vui đùa, đại khái là do bị ban chết người thê tử kết tóc xe tơ nên trong lòng không được thoải mái cho lắm.”
Đoan Mộc Tuệ cười khổ: “Người cứ ăn nói mát mẻ bóng gió đi.”
Sau một hồi trút bầu tâm sự vô cùng mãnh liệt, Công chúa lại tiếp tục cảm khái: “Người sống trên đời, có mấy ai có thể hành sự theo ý nguyện của chính mình cơ chứ. Trong tay mình có quyền lực, vẫn là hơn mọi thứ trên đời.”
Sắc mặt Thái tử phi đầy vẻ thê lương, chậm rãi gật đầu.
Lư Hội nghe mà sững sờ.
Phủ Ngụy Quốc phu nhân.
Tiểu hoa sảnh đèn đuốc sáng trưng, hương hoa tỏa ngát bốn bề, trên chiếc bàn tròn bày biện đủ loại rau quả, Ngụy Quốc phu nhân đang ngồi ngay ngắn ở một bên.
Bà dường như cũng đang đợi Lư Hội.
“Chuyện nhà của cô, lão thân đều đã biết cả rồi.” Ngụy Quốc phu nhân càng lộ vẻ già nua, bệnh dung trên mặt cũng hiện rõ hơn, đến cả nói chuyện cũng có chút khó nhọc, “Lão thân sẽ phái nhân thủ đi khắp nơi tìm kiếm tung tích. Hễ có tin tức gì, sẽ lập tức báo cho tiểu nương tử biết.”
Lư Hội lắp bắp: “… Không biết nên cảm kích phu nhân thế nào cho phải, nếu có thể tìm thấy cha mẹ, Hội Hội nguyện ý kết cỏ ngậm vành…”
“Đừng nói những lời như vậy.” Ngụy Quốc phu nhân lập tức ngắt lời cô.
Dưới ánh đèn, khuôn mặt già nua của bà tựa như tảng đá được khắc họa bởi những đường vân phong sương, kiên định lại trầm mặc.
Bà chậm rãi nói: “Vợ chồng Lư thị vốn hay làm việc thiện, người tốt ắt sẽ có phúc báo, tất có thể phùng hung hóa cát. Hội nương tử cần phải bảo trọng thân thể, dẫu có nóng ruột đến mấy, cũng không được phế tẩm vong thực.”
Lư Hội ngập ngừng vâng dạ.
Đối mặt với Nữ hoàng cô còn có thể nói cười vui vẻ dăm ba câu, nhưng hễ đụng phải vị “ảnh tướng” có thủ đoạn cứng rắn này, cô luôn trở nên ăn nói vụng về lóng ngóng. Thường xuyên là nói xong câu trước lại chẳng biết câu sau mọc ở đâu, cứ luôn cảm thấy ánh mắt Ngụy Quốc phu nhân đánh giá mình càng lúc càng kỳ lạ.
Ngụy Quốc phu nhân lại nhìn cô thêm một chốc, Tuế nương bê một chiếc tráp cực kỳ dài bước vào.
Nắp tráp mở ra, bên trong đặt một thanh trường kiếm nạm vàng đính ngọc, hình dáng hoa lệ trang nhã, mang đậm vài phần di phong từ thời thượng cổ.
Ngụy Quốc phu nhân thò tay vào tráp, trầm giọng cất lời: “Ta có một thanh tuyệt thế lợi kiếm, chí kiên chí cương, sắc bén khó bề ngăn cản, mấy chục năm qua đã giúp ta sát địch vô số.”
Tay trái bà nắm vỏ kiếm, tay phải cầm chuôi kiếm đẩy nhẹ ra ngoài. Tức thì, ánh kiếm lóe sáng khắp trong phòng, mũi kiếm tỏa ra luồng phong mang sắc lẻm, hệt như một vệt hàn quang tỏa sáng giữa đêm đen.
“Quả là kiếm tốt!” Lư Hội lên tiếng khen ngợi.
Cô thầm nghĩ Ngụy Quốc phu nhân dẫu bề ngoài trông già nua bệnh tật, thế nhưng một khi đã nắm kiếm trong tay, lập tức như biến thành một người khác, sát khí tỏa ra quanh người muốn cản cũng chẳng cản nổi, quả thực khiến người ta phải khiếp sợ e dè.
Ngụy Quốc phu nhân nhìn Lư Hội, nét mặt vô cùng phức tạp: “Thanh lợi kiếm này đã theo ta suốt nửa cuộc đời, mấy chục năm qua, chẳng biết nó đã uống máu của bao nhiêu người rồi. Nay ta đã sức cùng lực kiệt, ngọn đèn cạn dầu, nên xử trí món nhân gian lợi khí này thế nào đây?”
Lư Hội: “Dạ?”
Bà ấy đang hỏi ý kiến của mình sao? Thật kỳ quái quá đi.
Ngụy Quốc phu nhân đặt vỏ kiếm xuống, hai tay nâng ngang thanh lợi kiếm, chậm rãi bước về phía Lư Hội: “Hủy đi thì trong lòng ta chẳng nỡ, thanh kiếm này dẫu sao cũng là do tự tay ta đúc ra, mài giũa suốt nửa đời người mới thành. Nếu như để lại cho hậu nhân… thì nên để lại cho ai bây giờ?”
Lư Hội càng thêm phần kinh ngạc: “Vãn, vãn bối… kiến thức nông cạn…”
Ngụy Quốc phu nhân tiến lên thêm một bước, đưa thanh trường kiếm đặt ngay trước mặt Lư Hội: “Hội tiểu nương tử, cô có muốn thanh kiếm này không?”
Lư Hội: “……”
Cái gì cơ?
—— Rõ ràng cô tới tận cửa là để nhờ vả cầu xin giúp đỡ, sao tự dưng lại kéo sang chuyện tặng kiếm rồi! Cô cần kiếm để làm cái gì chứ, cô có biết dùng kiếm đâu cơ.
Cô luống cuống tay chân lúng búng nói: “Cái đó… thực ra vãn bối quen dùng roi dài hơn… kiếm dùng không được tốt cho lắm…”
Ngụy Quốc phu nhân cứ thế nhìn cô chằm chằm: “Lư tiểu nương tử, thiết nghĩ cô nên đem về cân nhắc cho thật kỹ đi.”
Tác giả có lời muốn nói:
PS: Viết đến đây, thiết nghĩ cần phải giải thích một chút, Nữ hoàng trong truyện này chỉ là nhân vật do chính tác giả nặn đắp nên trong tiểu thuyết, hoàn toàn không thể đại diện cho Võ Tắc Thiên trong lịch sử chân thực. Xin nói lại ba lần! Xin nói lại ba lần! Xin nói lại ba lần!
PPS: Thân là nữ Hoàng đế duy nhất trong lịch sử nước ta, Võ Tắc Thiên là một khuôn mẫu nghiên cứu độc nhất vô nhị. Từ thời Tần Hán trở đi, dưới tình huống bình thường, một vị Hoàng đế nắm thực quyền trị vì mấy chục năm thường sẽ tạo ra một kiểu ‘uy tín tích lũy lâu năm’ và ‘quán tính’ trong xã hội cũng như trên triều đường. Chỉ cần không xảy ra cái loại loạn lạc cấp bậc bom hạt nhân như loạn An Sử, kiểu ‘tích uy’ và ‘quán tính’ này thông thường đều có thể bảo đảm cho vị lão Hoàng đế vượt qua mấy năm cuối đời một cách suôn sẻ.
Lưu Dã Trư (Hán Vũ Đế Lưu Triệt – ‘Dã Trư’ là nhũ danh) chính là một tuyển thủ ưu tú trong số đó. Vào thời kỳ cuối lúc ông ta chấp chính, ai ai cũng biết ông ta đang dở chứng phát điên, nhưng mà chẳng có ai dám lật bàn với ông ta cả, Vệ Thái tử có chút vây cánh không thể, khốc lại quyền thần cũng không thể. Quyền bính của Dã Trư vững như thành đồng, mọi người chỉ có thể lặng lẽ nhìn ông ta phát điên xong rồi chết già bình yên. Tại sao Đường Minh Hoàng Lý Long Cơ lúc tuổi già lại chẳng kiêng dè nể nang ai như vậy, lời khuyên can tốt đẹp nào cũng chẳng lọt tai, thậm chí sau khi xảy ra loạn An Sử ông ta vẫn tiếp tục làm càn, hành hạ tướng lĩnh đủ kiểu, cuối cùng làm tiêu tùng luôn cả hơn phân nử giang sơn, mọi người cùng nhau xong đời cho rồi. Những vị nam Hoàng đế nêu trên, về bản chất là có một sự tự tin nhất định vào con đường quyền bính của chính mình.
Tuy nhiên Võ Tắc Thiên lại không có loại tự tin này. Mang thân phận là một nữ Hoàng đế nửa đường xuất gia, trong xã hội phong kiến, bà bẩm sinh đã không có tính hợp pháp chính đáng. Trong hai năm cuối cùng chấp chính, bà không ngừng “vá lỗi” và “quay xe” cho các chính sách trước đây của mình: Ví dụ như để hai nhà Lý – Võ liên tục kết hôn, ví dụ như bắt hai nhà phải thề độc ở Thái miếu rằng vĩnh viễn không được hãm hại lẫn nhau, còn có đại xá cho tất cả tội phạm (ngoại trừ vài cuộc phản loạn trọng đại), khôi phục lại toàn bộ địa vị cho người nhà của các chính địch vốn bị giáng xuống thành tiện tịch, lật án oan do khốc lại gây ra suốt mười mấy năm qua, đồng thời định tính tội ác của bọn khốc lại về mặt chính trị, thậm chí còn tự phê bình bản thân vài câu…
Có hai chuyện có thể chứng minh sự tỉnh táo và cẩn trọng của Võ Tắc Thiên trong những năm cuối đời: Chuyện thứ nhất: Vì sự vu cáo của Nhị Trương (anh em Trương Dịch Chi, Trương Xương Tông), Tể tướng Ngụy Nguyên Trung bị giáng chức. Trước lúc lên đường, Võ Tắc Thiên đã đặc biệt gặp Ngụy Nguyên Trung một lần, giữa đôi quân thần già dặn đã nói với nhau rất nhiều lời cảm động. Thế nhưng khi Ngụy Nguyên Trung một lần nữa xin Võ Tắc Thiên hãy tránh xa Nhị Trương để trọng dụng Thái tử, Võ Tắc Thiên đã lau khô nước mắt, giữ nguyên phán quyết. Bà tin rằng Ngụy Nguyên Trung có tình cảm với mình, nhưng bà càng tin vào sự trung thành của Ngụy Nguyên Trung dành cho vương thất Lý Đường hơn, quyền bính của bà không phải dựa vào tình cảm để duy trì, mà là dựa vào sự tính toán lạnh lùng.
Chuyện thứ hai: Võ Tắc Thiên dẫu có trọng dụng Nhị Trương đến đâu, cũng từ đầu đến cuối không hề giao quyền lực của cấm quân cho bọn họ. Ngay cả vào thời điểm thanh thế rầm rộ hách dịch nhất, vuốt nanh của anh em nhà họ Trương vẫn luôn lấy văn quan bút lại làm chủ đạo. Nịnh thần một khi không có binh quyền, thì không thể nào gây ra tổn hại thực sự cho quốc gia và xã hội. Cho nên ảnh hưởng của cuộc chính biến Thần Long, rốt cuộc chỉ diễn ra trong một phạm vi rất nhỏ.
Thậm chí ngay cả khi Võ Tắc Thiên bị ép thoái vị, bà vẫn giữ được sự tỉnh táo và nhạy bén, tiến hành một loạt các màn biểu diễn vô cùng đặc sắc, giúp bà cuối cùng có thể nhắm mắt xuôi tay thanh thản. Nhìn từ một góc độ công bằng mà nói, vô vàn biện pháp tự bảo vệ mình trong những năm cuối đời của bà đều không có vấn đề gì cả, cái có vấn đề chính là tuổi tác và sức khỏe của bà. Bà đã không còn kiểm soát nổi cục diện nữa rồi.
Cùng là Hoàng đế nắm thực quyền cai trị suốt mấy chục năm trời, nhưng những năm cuối đời, Võ Tắc Thiên chưa bao giờ dám làm càn phát điên như những nam Hoàng đế khác trong lịch sử, bà có lẽ đã già, nhưng quyết không hề hồ đồ. Bởi vì bà sợ hãi, sợ bản thân lúc còn sống không thể chết già bình yên, sau khi chết đi lại bị thanh trừng, cho nên những năm tháng cuối đời của bà luôn ngập tràn sự cảnh giác, lo âu, giác ngộ và cả sự tỉnh táo từ đầu đến cuối. Bà tỉnh táo mà tàn bạo, tỉnh táo mà từ bi, tỉnh táo trọng dụng Nhị Trương, và cuối cùng là tỉnh táo sắp xếp ổn thỏa vinh hoa tôn kính cho mình sau khi qua đời.
Võ Hoàng chưa bao giờ phát điên, bà chỉ khiến người khác phát điên mà thôi.
Cuối cùng, xin nhắc nhở lại một lần nữa. Cốt truyện trong bài hoàn toàn là hư cấu, xin đừng dùng lịch sử chân thực để đối chiếu, bằng không tôi tốn bao nhiêu tâm tư công sức để hư cấu ra nhiều tên người tên đất như vậy sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Nữ hoàng trong truyện này chỉ là nhân vật do chính tác giả nặn đắp nên trong tiểu thuyết, hoàn toàn không thể đại diện cho Võ Tắc Thiên trong lịch sử chân thực. Xin nói lại ba lần! Xin nói lại ba lần! Xin nói lại ba lần!
