Chương 1: Bạch Xuyên trong ký ức
*
Hôm nay đúng phiên chợ Bạch Xuyên, thời tiết chẳng chiều lòng người. Mây chì giăng thấp lè tè, từng cơn gió tây bắc thổi tới khiến quần áo cùng móc treo ở các gian hàng lắc lư tít thò lò, làm ngọn lửa dưới lò bếp cửa hàng bánh ngọt lúc tỏ lúc mờ. Mấy tiểu thương cẩn thận đã nhanh tay dựng xong lều bạt chống mưa.
Dù thời tiết xấu nhưng người đi dạo phiên chợ lại chẳng ít. Trên phố Phi Hạc – trục đường chính của thị trấn Bạch Xuyên – dòng người đông đúc như mắc cửi. Tiếng trẻ con khóc náo, tiếng loa rao hàng mang đậm giọng địa phương, tiếng nhạc trẻ phát ra từ các cửa tiệm… thành ra đem một buổi sáng giá lạnh khuấy động thành bầu không khí hừng hực sức sống.
An Di lách bên này, né bên kia ngang qua phố Phi Hạc để đi ra ngoài thị trấn. Trong lúc xao nhãng, cô suýt chút nữa va phải chiếc xe ba bánh mini do một bà lão cầm lái. Cô vội vàng lùi lại né tránh, không ngờ lại giẫm trúng chân một ông lão phía sau. Ông lão cất tiếng kêu đau rồi đẩy lưng cô một cái, miệng lẩm bẩm mấy câu tiếng địa phương. Vì xung quanh quá ồn ào nên An Di nghe không rõ, cô chỉ biết nở nụ cười áy náy nói vài câu xã giao xin lỗi.
Cô mặc một chiếc áo khoác dạ cashmere màu đen dài đến bắp chân. Dáng áo rộng vốn chẳng nhìn ra đường cong cơ thể, nhưng khi thắt đai lưng lại tôn lên vóc dáng mảnh mai, nhẹ nhàng như sắp bay lên. Làn da vốn dĩ trắng xẻo dưới sự làm nền của chiếc áo khoác đen dường như đang phát sáng. Ở cô toát ra một thứ khí chất trầm lặng khó tả, khiến cô bước đi trên đường phố lại trở nên lạc quẻ với một thị trấn nhỏ như Bạch Xuyên.
Dòng người nhanh chóng tách cô và ông lão ra. Cô thở phào một hơi, tiếp tục đi về phía ngã tư. Bước tới giao lộ giữa đường Phi Hạc và đường Đào Nguyên, người chợt thưa thớt hẳn, không còn cảnh chen chúc xô đẩy nữa. Tuy nhiên, trên đường lại đậu rất nhiều xe cộ lộn xộn, cảnh sát giao thông đang cầm loa xua đuổi các xe đỗ sai quy định. Âm thanh cao vút, nghiêm khắc ấy khiến lòng người bất giác thắt lại. An Di ngoảnh lại nhìn về hướng cảnh sát giao thông, thấy đó là một cảnh sát phụ khoảng ba bốn mươi tuổi, dáng người đậm đà. Cô liếc mắt nhìn một cái rồi lại quay đầu tiếp tục bước đi.
Mới tiến về phía trước được hai bước, cô đột ngột dừng khựng lại, “xoẹt” một cái quay ngoắt đầu nhìn sang bên kia đường. Ánh mắt cô lục sục trong đám người đông đúc, bắt gặp một tấm lưng cao lớn. Còn chưa kịp nhìn kỹ, người đó đã nhanh chóng biến mất trong dòng người trên phố Phi Hạc.
Người này thật kỳ lạ, cô nghĩ. Anh ta làm cô liên tưởng đến một loài thú dữ nào đó trong rừng rậm. Anh không nên xuất hiện giữa biển người, mà nên thuộc về chốn rừng sâu mới đúng.
Bạch Xuyên là một thị trấn thuộc Đạo Nam, ngược dòng lịch sử mấy trăm năm qua đều là nơi người Hán tụ cư, đường nét khuôn mặt đều mang đặc trưng điển hình của người Hán. Việc xuất hiện một gương mặt mang nét dị vực thế này khá là hiếm gặp. Dù sao những năm gần đây ngành du lịch Đạo Nam phát triển không tệ, biết đâu lại là du khách cũng nên.
Cô đút hai tay vào túi áo, tiếp tục bước về phía phố cổ.
Rốt cuộc người đó trông như thế nào cô cũng chưa kịp nhìn rõ, chỉ là lướt qua một ánh mắt. Giống như một con hổ đột nhiên nhảy chồm tới trước mặt, chỉ cần biết đó là hổ thôi đã đủ làm người ta hồn xiêu phách lạc, còn mắt nó ra sao, răng nó thế nào, vốn chẳng còn quan trọng nữa.
Vào một buổi sáng đầu xuân lạnh giá như thế này, một con hổ đột nhiên chồm ra trước mặt cô.
Trong đầu cô nghĩ về chuyện nực cười này, dưới chân thì khéo léo né tránh một bãi trà sữa trân trúc đổ tung tóe trên vỉa hè. Những hạt trân châu màu đen rải rác trong làn nước màu nâu chè, bị người ta giẫm lên dính nhếch nháp.
Cô bước một bước thật rộng nhảy qua bãi nhầy nhụa đó, vô tình chạm phải ánh mắt của chị chủ đứng trước cửa hàng giày bên tay phải. Đối phương là một người phụ nữ khoảng ba bốn mươi tuổi, mỉm cười với cô rồi cất lời xởi lởi: “Đến rồi đấy à?” Xem ra chị ta biết cô là ai.
An Di mỉm cười đáp lại, coi như một lời chào hỏi.
Thị trấn Bạch Xuyên nói lớn không lớn, hầu như những người mở tiệm trên phố đều nhẵn mặt nhau. Cô mới tới đây, qua một thời gian nữa chắc cũng sẽ quen biết hết những người này thôi.
Sau khi cô bước qua, chị chủ tiệm giày liền ra hiệu bằng mắt với chị chủ tiệm đồ lót bên cạnh, hai người đứng lại một chỗ xúm vào buôn chuyện.
“Ai thế?” Chị chủ tiệm đồ lót hỏi.
“Cô chẳng phải luôn muốn gặp bà chủ mới của khách sạn Long Xuyên Hạp sao? Chính là cô ấy đấy.”
Chị chủ tiệm đồ lót nhướng cặp chân mày xăm đã ngả sang màu xanh lục, nói: “Trẻ thế cơ à?” Chị ta trố mắt nhìn theo bóng lưng An Di, bảo: “Trông thế này liệu có ở lại Bạch Xuyên nổi không? E là chùa nhỏ không chứa nổi Phật lớn rồi! Nếu không phải biết cái khách sạn đó là của bố cô ta, tôi lại cứ tưởng cô ta sống dựa vào nhan sắc đấy chứ.”
“Thì thế! Nếu không phải nhờ cái nhan sắc ấy thì làm gì có chuyện ai nấy đều ngó cổ chờ xem mặt. Nói thật lòng, nếu đổi lại là tôi thì ai thèm ngó chứ, đúng không? Nhưng mà cũng khó nói lắm, gia cảnh nhà cô ta giờ như thế, muốn ở hay không cũng đâu đến lượt cô ta quyết định.”
Chị chủ tiệm đồ lót lớn tuổi hơn một chút, trải đời nhiều hơn nên lập tức trỗi dậy lòng trắc ẩn. Trong lòng chị ta dấy lên niềm thương hại đối với An Di, thở dài nói: “Cô gái trẻ măng thế này cũng chẳng dễ dàng gì, ai mà muốn rơi vào cảnh đó cơ chứ. Gia đạo sa sút, ngày tháng sau này e là trầy tróc. Tôi nhìn dáng vẻ cô ấy vẫn còn thuần khiết đơn thuần lắm, như đứa trẻ chưa lớn vậy, thật là…”
Chị chủ tiệm giày cũng hùa theo vài câu. Cả hai đều là người bản địa, phong tục ở Bạch Xuyên từ trước đến nay vốn thuần hậu, người với người sống gần gũi, hiếm khi thấy kẻ dậu đổ bìm xô. Cả hai người đều không khỏi cảm thán than van.
An Di đi đến cuối đường Đào Nguyên, ngang qua một ngân hàng Thái Long rồi rẽ vào một con đường nhỏ. Hai bên đường là những ngôi nhà dân, đỗ đầy xe máy điện và xe ba bánh buôn bán. Ở giữa có cửa sau của một tiệm bánh ngọt đang mở, mùi thơm của kem tươi và trứng gà từ phía đông đường bay thoang thoảng sang tận phía tây. Băng qua con đường nhỏ này, phố cổ đã hiện ra ngay trước mắt.
Nhà dân hai bên phố cổ cao không quá hai tầng, vốn là kiến trúc bằng gỗ, tầng hai đa phần có cửa sổ đẩy hướng ra ngoài. Sau này có vài nhà tu sửa lại, thay bằng cửa sổ nhôm kính khiến cảnh quan trở nên nham nhở không đều.
Mặt đường được lát bằng những phiến đá xanh, rộng vỏn vẹn chừng hai mét.
Phố cổ trước đây vốn là khu chợ sầm uất của Bạch Xuyên, tầng một nhà nào cũng là cửa tiệm. Sau này cùng với việc dân số Bạch Xuyên ngày một đông đúc, khu đô thị mới mở rộng ra bên ngoài, đường xá ở đây lại quá hẹp và bất tiện nên chợ cũng được dời ra ngoài.
Con phố này dần trở nên tĩnh lặng, giống như lớp rêu xanh bám trên phiến đá, lặng lẽ sinh tồn trong bóng tối không một tiếng động. Cứ đến rồi đi cũng chỉ toàn những gương mặt cũ.
Trên phố cổ vẫn còn rải rác vài tiệm lâu đời: có tiệm bán hương đèn giấy tiền, có tiệm bán hót rác và bình tưới nước làm bằng tôn thiếc, lại có tiệm bán giỏ tre, lồng bắt cá.
Mấy tiệm này cứ mở toang cửa như thế, bày la liệt đồ đạc ra ngoài, chẳng có biển hiệu cũng chẳng có tiếng rao, cứ lặng lẽ chờ đợi những người hoài cổ tìm đến.
An Di bước đi rất chậm, lê từng bước chân qua. Thỉnh thoảng cô lại nhìn những cửa tiệm hai bên đường mà thẫn thờ ngơ ngác. Có mấy bà cụ lớn tuổi ngồi trước cửa nhà, giương đôi mắt đục ngầu nhìn cô.
Mọi thứ đều đã khác xưa. Cô chỉ còn nhớ rõ một chiếc váy liền thân sặc sỡ treo trên bức tường của một cửa tiệm, khi ấy cô thấy nó đẹp vô cùng. Bà nội dắt tay cô, lúc nào cũng dừng lại nói chuyện với đủ mọi người, rồi lại dẫn cô đi nhổ một chiếc răng. Bác sĩ nhổ răng là một ông cụ ăn nói thủ thỉ dịu dàng. Ngoài những điều đó ra, cô chẳng còn chút ấn tượng nào khác.
Chiếc váy liền thân đó treo ở cửa tiệm nào, ở vị trí nào trên phố, tiệm nhổ răng của ông cụ kia ở đâu, cô hoàn toàn không nhớ nổi.
Những ký ức ngày xưa đều đã trở nên mơ hồ, thỉnh thoảng chỉ như bóng mây thoáng qua, giống như từ kiếp trước. Cô không chắc liệu chúng có thực sự từng tồn tại, hay chỉ là do tinh thần cô rối loạn tự tưởng tượng ra.
Thế nhưng bàn tay ấm áp của bà nội thì cô nhớ rất rõ. Cô rất nhớ bà.
Cô nương theo ký ức, dốc sức hồi tưởng, xuyên qua phố cổ đi về phía ngoài thị trấn. Trong ấn tượng của cô nơi đó phải rất gần, đi chưa đầy hai phút, ngay bên ngoài phố cổ chính là một dãy nhà cấp bốn.
Thế nhưng ký ức thời thơ ấu về khoảng cách và không gian vốn dĩ chẳng thể tin hoàn toàn được.
Bên ngoài phố cổ chẳng có dãy nhà cấp bốn nào, thay vào đó là những ngôi nhà ba bốn tầng, cửa nhôm kính, cửa chống trộm sang trọng, trước cửa nhà nào cũng đỗ ô tô. Nơi này cũng giống như bao nơi khác trên khắp đất nước Trung Quốc, chẳng có gì đặc biệt.
Bạch Xuyên nằm ở vùng Giang Nam ẩm ướt, những ngôi nhà truyền thống đều được xây bằng gạch dạch xanh. Qua thời gian dài, trên gạch xanh luôn phủ một lớp rêu đen. Cửa gỗ luôn được bọc một lớp tôn thiếc, dùng đinh đóng thành hình chữ “Song Hỷ” hoặc vài họa tiết hình học, đó là vì sợ cửa gỗ bị mục nát qua nhiều năm mưa dầm. Khung cửa sổ bằng gỗ luôn được sơn màu đỏ đô, ô kính dưới cùng của tầng một đa phần là kính mờ có hoa văn, tất cả là vì sự riêng tư.
Những ngôi nhà trong ký ức ấy đều đã biến mất. An Di hoàn toàn mất phương hướng, cô không biết mình muốn đi đâu, đành tiện chân chọn đại một con đường mà đi. Bên đường có một con chó lông vàng sủa gâu gâu về phía cô, cô né sang bên cạnh, cảnh giác nhìn nó vì sợ nó chồm tới.
Có người đi xe máy điện “xoẹt” một cái phóng qua bên người cô. Đuôi xe dán một con búp xê Pikachu nhỏ, lắc lư cái đầu theo từng nhịp xe di chuyển.
Cô đi vô định, nhìn thấy những thửa ruộng thì biết mình đã ra khỏi thị trấn. Cô xoay gót chân đổi hướng, rẽ qua một góc đường tính chuyện quay về.
Thoạt đầu, cô nhìn thấy một khu nhà đổ nát. Mái nhà và nửa bức tường đã sập xuống, gạch vỡ chất đống trong nhà, cỏ dại bao quanh đống gạch ấy chen chúc mọc lên. Khoảng đất trống trước nhà cũng ngập tràn gạch đá cùng những chiếc túi nilon bao bì đủ màu sắc, chắc là bị gió thổi tới đây. Nơi này giống như đã bị người ta bỏ hoang chừng mười năm rồi.
Sau đó, cô nhìn thấy một cây hoa dành dành cao chừng hai tầng nhà đứng sừng sững trên khoảng đất trống.
Cây dành dành ấy như một luồng sét đánh trúng An Di, xé tan ký ức đã bị phong kín và phủ lớp bụi dày từ rất lâu của cô.
Mùa hè năm ấy, trên cây này nở đầy những bông hoa dành dành màu trắng to bằng bàn tay, đứng từ xa đã có thể ngửi thấy mùi thơm. Mùi hương trong ký ức khiến hơi thở cô run rẩy, cô nuốt xuống nghẹn ngào trong cổ họng.
Đoạn ký ức xa xăm ấy rốt cuộc không phải do cô tự tưởng tượng ra.
Một cơn gió bắc thổi tới, làm những mảnh giấy vệ sinh màu trắng cùng bao bì bánh bim bim hành Tây Thượng Hảo Giai màu xanh lá trên mặt đất kêu xè xè, xoay tít tại chỗ.
Trên người An Di nổi đầy gai ốc. Cô siết chặt chiếc áo khoác trên người để chống lại cái lạnh, vành tai và hai bên má lộ ra ngoài thấy đau nhói.
Đợt rét rét đậm rét hại đầu xuân ở Bạch Xuyên quả thực hung tợn không phải dạng vừa.
Năm ấy cô vóc dáng còn thấp bé, muốn lén hái một bông hoa dành dành, vươn tay ra thật xa đến đỏ cả mặt cũng không với tới. Sau đó có người từ trong nhà đi ra, cô sợ tới mức tim bắn thót một cái, vội vàng hạ tay xuống, giả vờ như không có chuyện gì.
Có người đã hái một bông đưa vào tay cô. Cô vươn tay nhận lấy, bông hoa ấy còn to hơn cả bàn tay cô, thơm ơi là thơm, cô đã vui sướng biết bao.
Gió cắt vào mặt cô, làm rối tung mái tóc. Khu phế tích đứng sừng sững kia như đang kể lể sự hoang tàn, đất trời một màu u tối. Cô nghe thấy tiếng một con chim kỳ lạ nào đó kêu “quạ quạ” ở đằng xa.
Cô đứng thẫn thờ một lúc rồi quay đầu bước về hướng trung tâm thị trấn.
Cô nhớ nhung khoảng thời gian xưa cũ và những con người năm ấy, nhớ những ngày tháng bà nội vẫn còn trên đời.
Khó khăn lắm mới băng qua được dòng người đông đúc trên phố Phi Hạc, cô cũng đi tới dưới tòa nhà khách sạn.
Đó là một tòa kiến trúc cao sáu tầng, đã có tuổi đời khá lâu. Mặt tiền vốn dĩ dán những viên gạch men màu trắng kích thước nhỏ, nhưng những năm gần đây phong cách này không còn lỗi thời. Người thuê trước đã dùng sơn quét lại thành phối màu xanh vàng xen kẽ. Qua thời gian dầm mưa dạn nắng, sơn ở một số góc cạnh đã bong tróc, lộ ra lớp gạch men nguyên bản bên trong.
Mấy chữ lớn bằng thép không gỉ hàn thành “Khách Sạn Long Xuyên Hạp” đứng sừng sững trên tầng thượng, tới đêm lại nhấp nháy ánh đèn neon, đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy.
Căn nhà này là mười mấy năm trước có người dùng để gán nợ cho bố cô. Năm đó nó chẳng đáng giá, nằm ở nơi khỉ ho cò gáy. Không ngờ sau này trung tâm thị trấn dời về phố Phi Hạc, nơi đây lập tức trở thành khu vực trung tâm. Khi kinh tế gia đình còn khá giả, nguồn thu từ khách sạn này có cũng được mà không có cũng chẳng sao, nên cứ cho một ông chủ họ Cố thuê với giá cực kỳ rẻ, bao nhiêu năm cũng chẳng tăng giá. Hai năm nay gia đình sa sút, đi hỏi thăm mới biết tiền thuê nhà ở đây thấp hơn xung quanh rất nhiều. Bố của An Di thông báo cho Tổng giám đốc Cố muốn tăng tiền thuê, Tổng giám đốc Cố lại than ngắn thở dài kêu khổ. Cả hai đều không thoải mái trong lòng: một bên thấy đối phương không có lương tâm, chiếm tiện nghi trắng trợn bao nhiêu năm không biết ơn; một bên lại thấy đối phương không nhân nghĩa, nói tăng là tăng một phát nhiều như thế, gần như gặm nhấm hết toàn bộ lợi nhuận của ông ta. Cuối cùng thương lượng bất thành, Tổng giám đốc Cố dẫn người của mình bỏ đi, để lại một bãi chiến trường xơ xác không ai quản lý. Để trống một thời gian cũng không tìm được người thuê tiếp, An Di mới bảo để cô tới quản lý. Dù cho một ngày chỉ cho thuê được mười lăm hai mươi phòng thì cũng là một khoản thu nhập, còn hơn là bỏ trống. Nếu làm tốt, dù sao cũng tốt hơn việc cô đi làm công ăn lương kiếm tháng tám nghìn một vạn.
Gia đình đang thiếu tiền trầm trọng, cô không còn sự lựa chọn nào khác.
