Chương 2: Nếu đời người chỉ như lần đầu gặp gỡ (2) – Lịch Viễn Trăn là một sự tồn tại như thế đấy.
*
Chỉ là, trong hơn mười ngày tiếp theo, họ đều không có cơ hội cất tiếng gọi “Chị” ấy thêm lần nào nữa, mãi cho đến ngày cuối cùng của hạ tuần tháng Ba, họ mới lại gặp lại Trác Khinh.
Nhờ vào mối quan hệ của mẹ, Chu Du nắm được nhiều thông tin liên quan đến Trác Khinh hơn những người khác một chút.
Đừng nhìn Trác Khinh gặp ai cũng mỉm cười dịu dàng, thực ra cô không thích giao thiệp với người ngoài cho lắm. Chính vì vậy, mẹ cậu mỗi ngày đều phải tranh thủ hoàn thành xong công việc dọn dẹp trước 9 giờ sáng.
Thời gian ngủ dậy của Trác Khinh là khoảng từ 9 giờ đến 10 giờ sáng.
Ngoài việc dọn dẹp cho Trác Khinh, mỗi tối 10 giờ mẹ cậu còn phải sang nhà cổ một chuyến. Đây là công việc do người người trông nom sắp xếp riêng cho mẹ, người trông nom bảo ông ấy cũng là làm theo yêu cầu của cấp trên.
Nói đến những chuyện liên quan tới “cấp trên”, người nghe đều tự giác ngậm chặt miệng.
Còn về việc tại sao mỗi tối phải sang nhà cổ một chuyến? Cầu từ công khai của người trông nom là: Nếu Trác Khinh mà xảy ra bất kỳ bất trắc gì ở Sóc Sơn, sẽ có cả một đống người phải chịu tội lây.
“Làm tốt việc của mình, đừng có tò mò bất cứ điều gì về cô ấy.”
Đây là câu mà người trông nom nhắc đi nhắc lại nhiều nhất với mẹ.
Từ “cô ấy” trong miệng người trông nom đương nhiên là chỉ Trác Khinh rồi.
Sau này, chính mẹ mới tự ngẫm ra lý do vì sao mỗi tối mình phải tới nhà cổ một lần: Sức khỏe Trác Khinh không tốt, lại sống một mình, người trông nom cần mẹ xác nhận Trác Khinh vẫn bình an vô sự.
Thỉnh thoảng, Trác Khinh sẽ dậy sớm hơn lệ thường. Mẹ kể có lần Trác Khinh dậy sớm, hai người đã trò chuyện một lúc.
Mẹ bảo những lời Trác Khinh nói nghe thật hoang đường khó tin. Trác Khinh bảo: “Thụy Sĩ hễ cứ đến mùa đông là chỉ toàn núi tuyết, chán ngắt.” Trác Khinh còn nói Paris thú vị hơn Thụy Sĩ một chút, nhưng đó là chuyện của ngày xưa rồi, từ khi lượng lớn người nhập cư gốc Phi tràn vào Paris, nơi đó bắt đầu trở nên hỗn loạn, ngột ngạt.
Trác Khinh còn phàn nàn với mẹ rằng những người hàng xóm người Đức của cô quá đỗi khắc nghiệt và bảo thủ. Mời họ sang nhà ăn bữa cơm, các ông chồng thì mặc bộ vest thẳng tắp, các bà vợ thì đeo dây chuyền ngang cổ, khoác khăn trên vai, làm cô lần nào cũng phải chạy biến về phòng thay bộ đồ chỉn chu lịch sự hơn. Còn mùa xuân ở Luân Đôn thì mưa dầm dề dai dẳng, thu đông mà một tháng có nổi ba ngày nắng là đã phải tạ ơn trời đất lắm rồi. Chán đời nhất là mấy ông chủ trang trại cứ năm ngày ba bận lại lái mấy chiếc xe tải nông nghiệp khổng lồ vào trung tâm thành phố gây tắc đường, lần này thì phản đối chính phủ cắt giảm trợ cấp nông nghiệp, lần sau lại kháng nghị việc mở rộng ngạch thị trường cho nông sản nước ngoài.
Trác Khinh nói cô thích Ý nhất. Ý từ tháng Ba đến tháng Mười trông giống như một chiếc hộp lưu ly rực rỡ sắc màu, bánh pizza của Ý là món ăn duy nhất cô ăn mãi không chán. Chỉ là du khách ở Ý quá đông, còn chuyển về sống ở vùng quê thì lại cô đơn quá; ở vùng quê miền Nam nước Ý, động vật còn nhiều hơn cả người.
Mẹ bảo cũng may ngày trước mình từng học vài năm địa lý, mới miễn cưỡng hiểu được những thành phố trong lời Trác Khinh nói. Paris, Luân Đôn có tên tuổi nào mà không lừng lẫy như sấm dội ngang tai, thế mà Trác Khinh mỗi khi nhắc tới mấy thành phố đó lại tràn ngập những lời càm ràm.
Tuy mẹ không hiểu hết những chuyện Trác Khinh kể, nhưng mà này, Cô Trác lúc nói những lời đó trông vô cùng đáng yêu, hệt như đứa trẻ đang hờn dỗi trút nỗi bực dọc với người nhà vậy.
Mẹ còn kể thêm, Trác Khinh có khi ở lì trong nhà cổ suốt mấy ngày liền. Cứ cách hai ngày lại có người dọn dẹp thức ăn trong tủ lạnh của Trác Khinh, đổi sữa tươi sang ngày mới hơn, hoa quả rau củ đều được đóng hộp in chữ Tiếng Anh. Nhưng kỳ lạ ở chỗ, mẹ chưa từng giáp mặt người chịu trách nhiệm dọn dẹp tủ lạnh cho Trác Khinh lần nào. Tuy nhiên, mẹ bảo mẹ đã thám thính được một điểm: Có một chiếc xe hơi màu đen thường chạy vào Sóc Sơn vào đúng tầm giờ mọi người đã lên giường đi ngủ, đến ngày hôm sau, đồ ăn trong tủ lạnh nhà cổ đã được đổi mới.
Tóm lại, Trác Khinh là người kỳ bí nhất mà mẹ từng gặp từ trước đến nay.
Kể xong chuyện về Trác Khinh, mẹ lúc nào cũng đệm thêm một câu: “Chu Du, nhớ kỹ cho mẹ, lo mà học hành tử tế, đừng có gây chuyện cho mẹ đấy!”
“Con biết rồi.”
Chu Du miệng thì vâng vâng dạ dạ, nhưng hôm sau trên đường đi học về, cậu đã đem những chuyện nghe được từ mẹ về Trác Khinh kể lại cho mấy thằng nhóc kia nghe.
Đương nhiên là cậu có chọn lọc mà kể, kết hợp những gì nghe được từ mẹ với suy đoán của bản thân:
“Chị ấy từ nhỏ đã được gửi ra nước ngoài rồi.” Chu Du nói với đám bạn như thế, “Chị ấy ở bên ngoài sống không hạnh phúc đâu, chị ấy thích ăn pizza của Ý lắm.”
Còn chuyện người trông nom theo lệnh cấp trên âm thầm trông chừng Trác Khinh thì Chu Du không tiết lộ dù chỉ một từ.
Hoàng hôn ngày thứ hai của giữa tháng Ba, Trác Khinh xuất hiện trên con đường Chu Du đi học về.
Trên đường đi học về, vào khoảng 6 giờ chiều, Chu Du từ đằng xa đã nhìn thấy Trác Khinh vừa đi qua chiếc cầu đá bắc ngang dòng suối nhỏ. Mấy đứa cùng lúc từ từ rà phanh xe đạp chậm lại.
Trong số mấy đứa, Chu Du là đứa điềm tĩnh nhất. Lúc đạp xong đoạn đường dốc, mắt chạm phải khoảng trời đỏ rực như lửa, Chu Du đã biết ngay là sẽ sớm gặp lại Trác Khinh.
Mẹ đã nói với Chu Du rằng Trác Khinh rất thích chụp ảnh ráng chiều.
Quả nhiên, vừa vào đầu bản, Trác Khinh mang theo thiết bị máy ảnh đã xuất hiện.
Lần này là Trác Khinh chủ động chào họ trước, cách chừng chục bước chân, Trác Khinh đã bắt đầu vẫy tay với họ.
Cô vừa vẫy tay vừa bước về phía họ.
Mấy đứa cũng bóp chặt phanh xe đạp, chống chân xuống đất.
Mặc dù Chu Du liên tục tự dặn lòng rằng tự dưng chòng chọc nhìn người ta là hành vi bất lịch sự, thế nhưng…
Trác Khinh trong chiếc váy xòe rộng màu thẫm kết hợp với áo sơ mi tay bồng màu nhạt bước nhanh về phía họ trông thật nhẹ nhàng thanh thoát, tựa như vị thần linh trong lời người già thường kể, quanh năm lấy sương hoa trong rừng làm thức ăn.
Rõ ràng, Trác Khinh không phải thần linh, thần linh làm sao mà phạm phải sai lầm hẫng chân hụt bước cơ chứ.
Người ngăn Trác Khinh bước hẫng ngã chổng gọng chính là Mộc Vân Nga.
Mộc Vân Nga không phải là đứa có năng khiếu thể thao nhất Sóc Sơn, văng chiếc xe đạp sang một bên, một bước lao tới đỡ chặt lấy Trác Khinh đang mất thăng bằng. Chu Du cũng bừng tỉnh phản xạ, nhanh chóng lao đến trước mặt Trác Khinh.
Hành động tiếp theo của Trác Khinh làm mấy đứa ngơ ngác nhìn nhau. Trác Khinh đầu tiên là nhìn kỹ phù hiệu trường học trên áo họ, rồi sau đó nhìn kỹ mặt từng đứa một. Xem xong mặt đứa này thì lắc đầu, lại xem tiếp mặt đứa tiếp theo, xem xong lại thở dài lắc đầu.
Chu Du tuy không hiểu Trác Khinh làm vậy để làm gì, nhưng trong lòng lại vô cùng muốn Trác Khinh có thể ngắm nhìn mình thật kỹ. Dù cậu không có gương mặt tuấn tú như Viễn Trăn, nhưng cũng thuộc dạng ngũ quan đàng hoàng sáng sủa.
Thế nhưng, Trác Khinh lại chẳng thèm nhìn cậu. Ba đứa kia Trác Khinh đều đã xem qua, đến lượt Chu Du thì Trác Khinh chỉ mỉm cười nhẹ một cái, dáng vẻ như thể đến đây là dừng lại được rồi.
Trôi trong làn sóng thất vọng, Chu Du bộc phát xốc bốc, thốt ra: “Chị ơi, sao chị chỉ nhìn ba cậu ấy thôi?”
Trác Khinh ngẩn người một hồi, rồi nói: “Đó là vì chị biết cậu trông như thế nào rồi.”
Lời này làm mấy đứa lại rơi vào mớ bòng bong mơ hồ.
Trác Khinh giải thích rằng, thực ra chính cô cũng khó mà hiểu nổi hành vi vừa rồi của mình.
“Tóm lại là, xin lỗi các cậu nhé.” Giọng điêụ Trác Khinh nhuốm vẻ áy náy, vừa nói vừa vén lọn tóc che trước mặt ra sau tai.
Trác Khinh làm động tác đó đẹp một cách kỳ lạ, đẹp đến mức Chu Du thầm nghĩ trong lòng, sau này cậu nhất định cũng phải yêu một cô gái dễ nhìn như chị ấy.
Bày tỏ lời xin lỗi xong, Trác Khinh lại cảm ơn Mộc Vân Nga, nói may mà không bị ngã, chứ nếu ngã thì cái máy ảnh của cô chắc chắn là không giữ nổi rồi. Nếu máy ảnh mà hỏng thì phiền phức lắm, phải gửi về tận nơi sản xuất mới sửa được. Nói tới đây, Trác Khinh như sực nhớ ra điều gì, cô vội vàng mở màn hình hiển thị máy ảnh ra.
Đưa màn hình ra trước mặt mấy đứa, cô hỏi: “Các cậu có biết cậu bạn này không?”
Người đứng gần Trác Khinh nhất là Mộc Vân Nga, nghiễm nhiên người nhìn thấy màn hình đầu tiên cũng là Mộc Vân Nga.
“Là Viễn Trăn!” Mộc Vân Nga thốt lên ngạc nhiên.
Lúc này, Chu Du cũng đã nhìn rõ chân dung nhân vật trong khung hình ánh sáng xanh hình vuông.
Dù cho đã quen biết Lịch Viễn Trăn từ nhỏ, dù biết Lịch Viễn Trăn là một cậu trai rất tuấn tú, nhưng khi mắt chạm phải Chàng thiếu niên đứng giữa một vùng xanh lam mênh mông trong khung hình, Chu Du vẫn không kìm được sự kinh ngạc.
Sự kinh ngạc hòa cùng lần đầu tiên tâm hồn Chàng thiếu niên mới lớn bị một luồng điện xót xa chạm vào.
Suốt mười bảy năm qua, lần đầu tiên Chu Du hiểu được từ “nghệ thuật” trong miệng thầy giáo dạy Mỹ thuật.
Thầy giáo từng nói, nghệ thuật là một giấc mơ có thể nhìn thấy được.
Lịch Viễn Trăn đứng bên bờ hồ chính là giấc mơ có thể nhìn thấy được trong lời thầy giáo.
Mặt hồ xanh ngọc bích tựa như một tấm gương, trên mặt gương phản chiếu bầu trời xanh mây trắng, chim trời lướt qua mặt hồ, gợn lên từng vòng lăn tăn giữa sắc xanh lam, sắc trắng và sắc ngọc. Những sắc màu ấy dưới tác động của khí động học hóa thành ánh sáng, từng vòng từng vòng lan tới gương mặt rạng rỡ của Chàng thiếu niên bên bờ hồ. Khoảnh khắc ấy, rừng rậm và hồ nước như được ban cho phép thuật kỳ diệu, thì thì thầm thầm bên tai Chàng thiếu niên bằng tư thái mềm mại dịu dàng nhất. Chàng thiếu niên lắng nghe rất chăm chú, thế giới như biến thành khu vườn Địa Đàng kia.
Chẳng biết là kẻ hấp tấp nào đột nhiên xông vào vùng Địa Đàng này, Chàng thiếu niên ngoảnh đầu nhìn lại, bên tai như vẫn còn vấn vương ngôn ngữ của vạn vật sinh linh…
Tiếng “Tạch” vang lên.
Chàng thiếu niên ngoảnh đầu cùng rừng rậm hồ nước bị phong ấn lại trong khung hình, chỉ một ánh nhìn tựa như vĩnh hằng vạn năm.
Dưới một sự thôi thúc không rõ ràng, Chu Du như nhìn thấu Lịch Viễn Trăn bên trong khung hình và Trác Khinh bên ngoài khung hình.
Cậu là đứa trẻ của rừng rậm hóa thành hình người; cô là chú hươu nhỏ vô tình lạc bước vào khoảng không thời gian.
Chu Du từ từ dời mắt khỏi màn hình máy ảnh, ngước đầu nhìn lên bầu trời.
Đây là lần đầu tiên Chu Du thấy ráng chiều rực rỡ đến thế ở Sóc Sơn, sau mỗi tầng mây dường như đều có một người thợ nhóm lò, cả bầu trời tưởng chừng như giây tiếp theo sẽ bốc cháy ngút ngàn.
Về sau, rất rất lâu về sau, mỗi khi Chu Du nhớ lại khoảnh khắc này, có lẽ chính từ giây phút này, cậu đã linh cảm trước được một chuyện gì đó sắp sửa xảy ra.
Ánh mắt quay trở lại trên gương mặt Trác Khinh,
Lần này thì việc Trác Khinh cứ chăm chăm nhìn mặt mấy đứa bọn họ đã có lời giải thích hợp lý rồi. Lịch Viễn Trăn vô tình lọt vào ống kính của Trác Khinh cũng mặc bộ đồng phục của Học viện Hoa kiều Khánh Thượng giống như họ, Trác Khinh muốn xem thử họ có phải là chàng thiếu niên trong ống kính của cô hay không.
Có lẽ, ngay từ khoảnh khắc nút chụp được bấm xuống, Lịch Viễn Trăn đã trở thành tác phẩm đắc ý nhất của Trác Khinh.
Một cậu con trai đẹp trai đối với Trác Khinh đến từ đô thị lớn có lẽ chẳng là gì, nhưng nếu đó là một tác phẩm tâm đắc thì ý nghĩa tồn tại lại hoàn toàn khác biệt.
Cho nên mới có cảnh Trác Khinh ngắm kỹ đám thằng Mộc Vân Nga, trước đó cô không chú ý tới diện mạo của họ, biết đâu tác phẩm đắc ý của cô lại là một trong mấy đứa này. Chu Du thì miễn bàn rồi, cô đã quá quen với khuôn mặt của Chu Du.
Quả nhiên, đúng như những gì Chu Du phân tích.
Lúc này, Chu Du cảm thấy cần thiết phải tranh luận đàng hoàng với mẹ về vấn đề cậu có ngốc hay không. Thực tế là cậu không những không ngốc, mà dây thần kinh cũng chẳng hề thô ráp chút nào, cậu đã xâu chuỗi mọi chuyện giữa Lịch Viễn Trăn và Trác Khinh một cách rõ ràng minh bạch rồi đấy thôi.
Giải thích xong mọi chuyện, Trác Khinh nói thêm rằng về khoản nhớ mặt người thì hệ thống trí nhớ của cô không được tốt cho lắm, vì chuyện này mà cô không ít lần làm mất lòng người khác, ví như cô thường xuyên nhận nhầm A thành B, rồi lại coi B là C.
Trong lúc nói chuyện, Trác Khinh lại bắt đầu vén lọn tóc bị gió thổi xõa trên mặt ra sau tai.
Trác Khinh làm động tác đó thực sự là đẹp đến chết người.
Đẹp đến mức Chu Du không kìm được khẽ gọi một tiếng: “Chị ơi.”
Trác Khinh muốn biết chuyện về Lịch Viễn Trăn, vậy thì cậu sẽ kể cho cô nghe.
Ở Sóc Sơn, Lịch Viễn Trăn là một sự tồn tại vô cùng đặc biệt.
Chu Du có bố có mẹ, Mộc Vân Nga có bố có mẹ, Đông Nhã có bố có mẹ, lũ trẻ ở Sóc Sơn đứa nào cũng có bố có mẹ, duy chỉ có Lịch Viễn Trăn là không. Lịch Viễn Trăn chỉ có một bà nội, Viễn Trăn là do một tay bà nội nuôi lớn.
Lý do Viễn Trăn trở thành một sự tồn tại đặc biệt còn phải kể từ thời bà nội cậu còn trẻ.
Bà nội Lịch Viễn Trăn khi còn trẻ là một người đẹp. Một năm nọ, một thương nhân thu mua chè đến từ Châu thổ sông Châu Giang dẫn theo cậu con trai duy nhất vừa tốt nghiệp đại học của ông tới Sóc Sơn.
Cậu con trai độc nhất của thương nhân chè vừa nhìn đã yêu bà nội Lịch Viễn Trăn từ cái nhìn đầu tiên, bà nội Viễn Trăn cũng có cảm tình với cậu thanh niên tuấn tú ấy. Chuyện tình cảm của hai người bị tất cả mọi người phản đối: Thương nhân chè coi thường bà nội Viễn Trăn một chữ bẻ đôi không biết, còn phía bên này anh trai của bà nội Viễn Trăn cũng không tin người thanh niên chỉ biết ca hát vẽ tranh kia có thể mang lại hạnh phúc cho em gái mình. Mọi chuyện cứ thế giằng co, bà nội Viễn Trăn tiếp tục ở lại Sóc Sơn, còn cậu con trai thương nhân chè cứ cách một thời gian lại từ thành phố của anh ta lên thăm bà.
Năm sau, bà nội Lịch Viễn Trăn mang thai.
Từ sau khi bà mang thai, số lần cậu con trai thương nhân chè đến Sóc Sơn ngày một ít đi. Cuối cùng, anh ta biệt tăm biệt tích luôn, mãi cho đến khi đứa trẻ chào đời mới nhờ người gửi tới một ít tiền, kèm theo lời nhắn: “Nếu mẹ đứa trẻ muốn lấy chồng, đứa bé có thể để chúng tôi nuôi.”
Ngay cả bây giờ, vài người già ở Sóc Sơn khi nhắc lại chuyện cũ năm đó vẫn còn nghiến răng nghiến lợi.
Hôm đó, bà nội Viễn Trăn vốn ngoan ngoãn hiền lành đã bưng nửa hũ muối cùng với xấp tiền đó hắt thẳng vào mặt người truyền lời.
Bà nội Viễn Trăn dạo đó sinh hạ một cậu con trai, cậu bé mang họ mẹ. Bà nội Lịch Viễn Trăn sau đó không tái giá nữa, sống cùng anh trai và chị dâu. Mấy năm sau, anh trai bà qua đời vì bệnh tật, chị dâu tái giá với người khác, căn nhà từ đó chỉ còn lại bà nội Viễn Trăn và con trai bà, đứa trẻ đó chính là bố của Viễn Trăn.
Thời đó, một trường hợp sinh ra đã mang họ mẹ như bố Viễn Trăn ở một bản làng cực kỳ khép kín thì đối xử thế nào có thể đoán trước được.
Lời ra tiếng vào, gièm pha đố kỵ như hình với bóng trên chặng đường trưởng thành của bố Viễn Trăn.
Năm bố Viễn Trăn mười sáu tuổi, ông để lại một bức thư rồi rời khỏi Sóc Sơn. Bà nội Viễn Trăn không đi tìm ông, giống như bà chưa từng đi tìm gã đàn ông đã hủy hoại cuộc đời bà một lần nào.
Không đi tìm gã đàn ông đó là vì không đáng; không đi tìm con mình là vì bà tin tưởng nó.
Bà tin tưởng đứa trẻ do chính mình sinh ra và nuôi dưỡng, con của bà muốn về thì tự khắc sẽ về.
Mấy năm sau, bố Viễn Trăn bế một đứa trẻ sơ sinh nam trở về Sóc Sơn.
Đứa trẻ sơ sinh vừa tròn tháng.
“Con không biết làm sao để xử lý nó nữa.”
Bố Viễn Trăn đã nói với bà nội Viễn Trăn như thế.
Thời điểm đó, bố Viễn Trăn mới mười chín tuổi.
Sau đó, người Sóc Sơn không bao giờ gặp lại bố của Viễn Trăn thêm một lần nào nữa.
Về mẹ của Lịch Viễn Trăn, bố Viễn Trăn chỉ nói vội vài câu: “Kém con một tuổi, tám tháng đầu cô ấy còn tưởng bụng to lên là do béo ra. Ngày đứa bé ra đời cô ấy khóc còn dữ dội hơn cả đứa trẻ, vừa khóc vừa bảo ‘mau mang nó đi đi, em không muốn nhìn thấy nó’.”
Một ngày trước khi đứa trẻ tròn tháng, người bố mười chín tuổi và người mẹ mười tám tuổi đã rủ nhau đi ăn bánh hamburger. Hai kẻ đi làm thuê lần đầu tiên trong đời được nếm thử món ăn thời thượng trong mắt bạn bè cùng lứa, thế nhưng cái thứ gói trong giấy dầu hình dáng giống hệt cái bánh bao thịt to, ăn ba phút là xong ấy lại móc sạch bách số tiền trong túi họ.
Ăn xong cái bánh hamburger, cả hai thống nhất quyết định: Quên chuyện họ từng có một đứa con đi.
Quên mất việc mình từng có một đứa con?! Họ dùng thời gian ba phút để quyết định đứa trẻ không liên quan gì đến họ nữa, sao có thể làm ra cái chuyện vô trách nhiệm đến nhường này? Người tức giận nhất chính là mẹ của Đông Nhã, dạo đó, Đông Nhã cũng vừa mới chào đời.
“Họ không nuôi, tôi nuôi!”
Mẹ Đông Nhã đã thắp sáng một ngọn đuốc.
Ở Sóc Sơn, ngọn đuốc tượng trưng cho lời thề nguyền lập ra trước thần linh.
Cứ như thế, Lịch Viễn Trăn và Đông Nhã lớn lên từng ngày trong cùng một vòng tay, thời gian đếm ngược đến năm 2002.
Năm 2002, Lịch Viễn Trăn mười bảy tuổi.
Lịch Viễn Trăn mười bảy tuổi là đứa trẻ được toàn bộ người dân Sóc Sơn kỳ vọng và đánh giá cao nhất. Cả huyện hơn hai trăm ngàn dân không ai thi lại Viễn Trăn, điểm thi của Viễn Trăn dù có mang lên cấp thành phố cũng bỏ xa đối thủ một khoảng tuyệt đối.
Viễn Trăn không chỉ học giỏi, dáng vẻ lại còn vô cùng tuấn tú. Mấy cô gái ở thị trấn huyện người nào gặp Viễn Trăn mà chẳng đỏ mặt, đứa nào tính tình táo bạo xông xáo đến mấy đứng trước mặt Viễn Trăn cũng hóa ngập ngừng ngắc ngứ, ấp úng nửa ngày, món quà nhỏ định tặng Lịch Viễn Trăn vẫn còn nằm nguyên trong tay mình.
Viễn Trăn lại còn là một đứa trẻ cực kỳ hiếu thảo. Vừa cao lên được khoảng một mét, Viễn Trăn đã biết múc nước giếng cho bà nội rửa rau nấu cơm; năm Viễn Trăn chín tuổi, cậu dùng toàn bộ tiền tiết kiệm trong lợn đất để mua cho bà nội một đôi giày bông; năm Viễn Trăn mười hai tuổi, bà nội bị ngã một cú, từ đó về sau, Viễn Trăn gánh vác trách nhiệm ra bến đò nhận hàng hóa. Bà nội sống bằng nghề bán hàng tạp hóa: dây buộc tóc, cây nến, vài chiếc lược gỗ, chậu nhựa gáo nhựa… kiếm chút tiền lời chênh lệch ít ỏi. Đầu mỗi tháng, Viễn Trăn phải dậy từ sớm ra bến đò, đóng gói hàng hóa bỏ vào gùi, rồi lưng đeo gùi men theo từng bậc đá, in từng dấu chân mang hàng về tiệm tạp hóa của bà.
Mùa hè, Viễn Trăn quạt mát đuổi muỗi xua đi cái xua tan cái nóng cho bà; mùa đông, Viễn Trăn đun nước nóng cho bà ngâm chân. Sáng sớm khi bạn bè cùng lứa vẫn còn chìm trong giấc điệp, Viễn Trăn đã quét dọn trong ngoài cửa hàng sạch sẽ ngăn nắp, tưới nước xong cho cả sân hoa móng tay; trong phòng thi, khi những đứa trẻ khác còn đang vò đầu bứt tai trước đề thi, Viễn Trăn đã nộp bài xong xuôi đi đến thư viện giành chỗ ngồi.
Lịch Viễn Trăn chính là một sự tồn tại như thế đấy.
Người Sóc Sơn chưa từng nghi ngờ năng lực của Viễn Trăn; người Sóc Sơn tin chắc rằng, tương lai của đứa trẻ đó sẽ rộng mở vô lượng.
Viễn Trăn là người trầm lặng.
Sự trầm lặng của Viễn Trăn là sự tĩnh lặng của núi sông biển trời, là một cuộc tích tụ sức mạnh đang trải qua thời gian và sự chờ đợi để sẵn sàng bùng nổ.
“Đứa trẻ Viễn Trăn đó sau này nhất định sẽ làm nên trò trống, thành danh lập nghiệp.”
Đây là câu nói mà người lớn ở Sóc Sơn luôn treo trên cửa miệng.
Lịch Viễn Trăn cũng chính là một sự tồn tại như thế đấy.
