Chương 5: Ngôi nhà đá
*
Khép lại cánh cửa, tia sáng duy nhất lọt vào trong nhà cũng bị ngăn cách, chiếc áo may ô trắng hoàn toàn hòa vào bóng tối. Trần Tẫn đứng im lặng trong phòng để đồ tối om một lát, thậm chí anh chẳng cần bật đèn cũng có thể định vị chuẩn xác kết cấu của căn nhà.
Cách nhau một cánh cửa, hệ thống cửa sổ của gian nhà phía trước vẫn còn nguyên vẹn, ánh trăng xuyên qua lớp kính khẽ khàng rải trên nền đất. Anh băng qua gian phòng, mở cửa trước rồi bước ra khoảng sân phẳng lặng giữa vườn.
Khung cảnh ngoài sân đập vào mắt không sót một chi tiết: trên nền đất trơ trọi đỗ một chiếc xe ba bánh, cách đó không xa là một cái giếng nước cùng một vòi nước đứng trơ trọi đầy đột ngột.
Anh nhặt ống dây cao su đang cuộn tròn một cục nơi góc tường lên, bước lại gần vòi nước. Dưới ánh trăng, anh thuần thục nối ống dây vào vòi, cởi phăng chiếc áo may ô cùng cái quần soóc, cứ thế hứng lấy làn nước mát lạnh nhanh chóng dội rửa khắp người.
Dòng nước men theo đốt xương sống gầy guộc chảy tuột xuống dưới.
Có lẽ là vì đã mệt nhoài, hoặc giả là vì một ngày dài cuối cùng cũng chạm đến hồi kết, một tiếng thở dài vô cùng khẽ khàng khôn tả bật ra từ lồng ngực anh, khẽ tới mức gần như không thể nghe thấy, rồi hoàn toàn chìm nghỉm vào chuỗi âm thanh xung quanh.
Lúc trở vào nhà anh vẫn không bật đèn, Trần Tẫn ở trần đi thẳng vào bếp. Trên cái xửng hấp ở bệ bếp có đặt một bát cháo trắng đã nguội ngắt tự đời nào. Anh quờ tay lấy đôi đũa bên cạnh, rồi lại mò mẫm trong bóng tối múc một thìa mắm tôm, và vội vài miếng nuốt chửng vào bụng cho xong bữa.
Anh đi lên lầu tròng vào người một bộ đồ khác, vẫn là chiếc áo may ô cùng cái quần soóc mỏng dính như cũ. Thay đồ xong, anh cầm lấy cái hót rác và cây chổi dựng ở hành lang, mở cửa gian phòng sau trên tầng hai.
Trong bóng tối tuy không nhìn thấy bụi bặm bay lả tả, nhưng lại ngửi thấy rõ mồn một cái mùi cũ kỹ, ẩm mốc pha lẫn chút tanh nồng của đất cát.
Anh bước lại gần cửa sổ, những mảnh kính vỡ dưới lòng bàn chân phát ra tiếng “răng rắc” giòn tan. Anh nhấc tấm ván cửa đang chắn trước bệ cửa sổ lên, dựng gọn vào góc tường, rồi mượn chút ánh trăng mờ ảo một lần nữa ngắm nghĩa cái khung cửa trống hoác trống huếch kia.
Anh thầm tính toán, hay là dứt khoát dùng ván gỗ đóng đinh chết cái cửa sổ này lại cho xong chuyện.
Tầm mắt anh lơ lửng vô định giữa khoảng không, mãi đến khi bừng tỉnh mới một lần nữa tập trung vào một điểm cố định. Cô gái ở phía đối diện vẫn đang đứng trên sân thượng, tà váy nhẹ nhàng đung đưa theo làn gió, cô khẽ chau mày, thẫn thờ dõi mắt trông ra phía biển khơi xa tít tắp.
Đợi đến khi cô ấy ngoảnh đầu nhìn sang bên này, anh lập tức thu lại tầm mắt, cúi đầu quét đống mảnh kính vỡ dưới chân vào hót rác, sau đó nâng tấm ván gỗ lên, chèn chặt lấy cửa sổ.
Anh đem chổi và hót rác cất lại chỗ cũ ngoài hành lang, rồi lại rón rén mở cánh cửa gian phòng phía trước trên tầng hai. Dưới ánh trăng hắt vào bên bệ cửa sổ, có một bóng đen đang nằm co quắp một cục trên giường. Anh lặng yên ngắm nhìn cái bóng đen ấy, vừa định khép cửa lại thì người nằm trên giường bỗng có cử động, tiếng sột soạt khe khẽ vang lên, nhìn không rõ ràng.
“Tiểu Chu về rồi đấy à?”
Đó là giọng nói già nua, tang thương và yếu ớt của một người bà lớn tuổi, mang theo cái vần điệu trầm trầm, bằng phẳng đặc trưng của phương ngôn vùng biển đảo.
Tay anh khựng lại một nhịp, “Vâng” một tiếng, tiếng quê hương cứ thế tự nhiên thốt ra nơi đầu lưỡi.
“Bà ăn cơm chưa ạ, sao hôm nay ngủ sớm thế bà?”
“Ăn rồi cháu ạ. Vừa nãy có phải có đứa nào đến đập kính cửa sổ đúng không? Bà nghe thấy tiếng xoảng một cái.”
“Không có đâu bà, bà nghe nhầm đấy, bà ngủ sớm đi ạ.”
“Ừ, cháu cũng ngủ sớm đi nhé.”
Cánh cửa được nhẹ nhàng khép lại.
Hứa Chiêu vẫn chưa hoàn toàn thoát ra khỏi sự kinh ngạc, trong đầu cô cứ tua đi tua lại hình ảnh Trần Tẫn tra chìa khóa mở cửa. Anh rõ ràng là đã chứng kiến tất cả, tại sao lại không đứng ra ngăn cản?
Lúc trở về phòng khách, Phó Minh Huy đang thu dọn chiếc vali, bên chỉnh tề nhét đầy quần áo thay giặt của hai mẹ con, đồ dùng vệ sinh cá nhân cùng các loại thuốc men lặt vặt. Theo dự tính ban đầu của mẹ cô, sau khi lên đảo bà sẽ tìm mua một ít quà cáp làm lễ gặp mặt, dù sao mình cũng là khách, không thể đi tay không đến nhà người ta được.
Nào ngờ hòn đảo nhỏ này còn nghèo nàn hơn cả những gì bà tưởng tượng, đặc biệt là ở khu bờ Tây, mấy tiệm tạp hóa nhỏ lẻ hoạt động chẳng ra đâu vào đâu, đừng nói là quà cáp sang xịn, đến cả nhu yếu phẩm thiết yếu hàng ngày cũng chẳng đủ đầy. Thành thử ra bà chỉ còn cách nhét thêm vài tờ tiền vào chiếc phong bì đã dán sẵn từ trước.
“Mẹ ơi, mình ở lại đây mấy ngày ạ?”
Phó Minh Huy kéo khóa vali lại, tranh thủ liếc nhìn cô một cái:
“Một tuần con ạ. Mấy ngày này con cứ tha hồ mà chơi bời cho thỏa thích, nhưng mà đã về đến nhà là phải tập trung vào học hành, lo mà thu tâm lại đấy.”
Thực ra tư tưởng giáo dục của mẹ cô không đến mức quá khắt khe gắt gao. Bà luôn cho Hứa Chiêu một khoảng tự do lớn nhất trong phạm vi khuôn khổ những quy tắc đã vạch sẵn, chỉ cần cô không dẫm phải lằn ranh đỏ, bà đều sẽ mắt nhắm mắt mở cho qua.
Nói đoạn, bà thọc tay vào túi quần rút chiếc điện thoại ra đưa cho cô:
“Gọi điện báo bình an cho bố con một tiếng đi.”
Theo lý mà nói, ở cái tuổi mười bảy thì đáng lẽ phải sắm cho mình một chiếc điện thoại riêng rồi. Mẹ cô cũng từng ướm hỏi vài lần, nhưng thái độ của cô rất thờ ơ, có cũng được mà chẳng có cũng không sao. Thấy vậy, bà liền dứt khoát không mua cho cô nữa, chủ yếu vẫn là lo con gái sa đà vào công nghệ làm ảnh hưởng đến chuyện bài vở trường lớp.
Hứa Chiêu bấm số gọi vào máy của Hứa Lệ Sinh. Tiếng chuông đổ vài hồi dài mà không có người bắt máy, ngay vào cái khoảnh khắc cô định cúp máy đầu dây bên kia mới vội vàng kết nối.
Cô còn chưa kịp cất lời, đầu dây bên kia đã chủ động hạ thấp giọng nói xuống:
“Anh đang bận họp chút, lát nữa anh gọi lại sau nhé. Con gái thế nào rồi em?”
Cô liền cao giọng lên: “Bố ơi, con đây mà.”
Đầu dây bên kia rõ ràng khựng lại một nhịp, ngay sau đó liền đổi sang tông giọng hồ hởi, vui vẻ: “Chiêu Chiêu đấy à con? Trên đảo có gì vui không? Con có bị say sóng không đấy?”
“Con đã kịp chơi bời gì đâu ạ, say lử đử lử đừ, còn nôn thốc nôn tháo ra nữa cơ.”
Giọng điệu của bố cô lập tức chùng xuống đầy xót xa: “Lần sau phải nhớ uống tí thuốc say sóng vào con ạ. Thôi để lát nữa bố nói chuyện với con sau nhé, trong Cục đang họp hành căng thẳng quá, xong việc bố alo cho con ngay.”
“Vâng ạ.”
Cuộc trò chuyện ngắn ngủi kết thúc, điện thoại ngắt kết nối. Hứa Chiêu quăng chiếc điện thoại lên trên tấm đệm giường, rồi ngồi xổm xuống bên cạnh mẹ.
“Mẹ ơi, tối nay con sang ngủ chung với chị họ được không ạ?”
Phó Minh Huy quay đầu nhìn cô, cố rà soát nét mặt con gái xem có ẩn tình gì không, bà bật cười đầy hoài nghi hỏi: “Sao tự dưng lại đòi sang ngủ với chị họ thế?”
Dù sao thì ban nãy hai đứa nhỏ cũng chẳng tỏ ra mặn mà thân thiết gì cho cam. Cô không giải thích lý do, chỉ nghiêng nghiêng cái đầu, đôi mắt trong veo nhìn mẹ: “Không được hả mẹ?”
“Được thì tất nhiên là được rồi, nhưng con cũng phải sang hỏi xem ý chị con thế nào đã chứ.”
Lời còn chưa dứt hẳn, Hứa Chiêu đã nhanh nhảu khép hờ cánh cửa phòng lại.
Hai chị em nằm trên giường khúc khích buôn đủ thứ chuyện trên trời dưới biển. Toàn là một mình Trần Lê luyên thuyên ba hoa chích chòe, cô chỉ lặng lẽ làm thính giả. Thỉnh thoảng thấy cô im hơi lặng tiếng không đáp lời, Trần Lê lại hỏi gặng: “Em có đang nghe chị nói không đấy?”
Cô liền khẽ gật đầu: “Em vẫn đang nghe đây.”
Nhưng thực ra tâm trí cô hoàn toàn chẳng để ở đó. Hứa Chiêu cứ dán chặt mắt vào chiếc chuông gió đang treo lủng lẳng dưới bệ cửa sổ. Kiểu dáng chuông gió khá đơn điệu, mái vòm hình bán nguyệt, bên cạnh chiếc lưỡi chuông hình tròn có gắn thêm ba thanh ống phát thanh thanh mảnh, vòng ngoài cùng là mấy chú cá heo nhỏ cùng sao biển trong suốt dùng để trang trí.
Gió thoảng qua, tiếng chuông lại kêu leng keng kính coong, lấn át cả chuỗi âm thanh lải nhải bên tai của chị họ.
“Chị ơi.”
“Hử? Sao thế?”
Tiếng gọi đột ngột cất lên làm câu chuyện đang nói dở của Trần Lê lập tức bị nghẹn lại giữa chừng. Cô quay nghiêng người, đôi mắt long lanh lấp lánh ánh sáng, nhưng giọng điệu lại bình thản chẳng nghe ra chút gợn sóng cảm xúc nào: “Chị muốn em giúp chị việc gì thế?”
Trần Lê ngẩn ra một giây, mãi mới sực nhớ ra cái màn giao kèo dang dở trên bàn ăn lúc tối. Cô nàng liền lật người, đan hai tay vào nhau chống cằm trên đệm giường, mặt đầy vẻ hoang mang gặng hỏi: “Tự dưng lại hỏi chuyện này, em có việc gì muốn nhờ vả chị đúng không? Rõ ràng vừa nãy còn sống chết từ chối thẳng thừng, giờ lại chủ động khơi ra chuyện này, chắc chắn là có biến rồi. Em cứ đưa ra điều kiện trước đi xem nào.”
Hứa Chiêu từ mồm bò dậy, hai tay ôm lấy đầu gối, tựa lưng vào thành giường.
“Chị ơi, vừa nãy em nhìn thấy có đứa đến đập kính cửa sổ của cái nhà phía trước nhà mình đấy.”
Trần Lê cũng ngồi dậy theo, tựa vào thành giường. Cô nàng mất một giây để load thông tin, sau đó ồ lên một tiếng rõ dài như thể đã thấu tỏ mọi sự, bộ dạng thản nhiên coi như chuyện thường ngày ở huyện: “Em bảo nhà Trần Tẫn chứ gì, chuyện cơm bữa ấy mà, bình thường như cân đường hộp sữa.”
Hứa Chiêu nhất thời không cách nào kết nối hai từ “đập kính” và “bình thường” lại với nhau được. Nhưng nhìn vào phản ứng của chị họ, việc này có vẻ như là chuyện vặt vãnh đã quá đỗi quen thuộc, chẳng khác nào chuyện cơm ăn nước uống hàng ngày của người ta vậy.
“Tại sao ạ?”
“Hả?”
“Em hỏi là tại sao nhà Trần Tẫn bị đập phá mà chị lại bảo là bình thường.”
Sau khi thốt ra câu ấy, chính cô cũng phải giật mình khi thấy mình có thể gọi cái tên “Trần Tẫn” một cách trơn tru và thuận miệng đến thế. Rõ ràng đây mới là lần đầu tiên cô gọi tên anh, vậy mà lại chẳng thấy xa lạ chút nào.
Những lời kể vụn vặt mang tính chắp vá về Trần Tẫn giống như những chiếc lỗ thủng trên tờ giấy dán cửa sổ. Hứa Chiêu đứng ở nơi đó, lần đầu tiên hé mắt nhìn vào một thế giới thuộc về riêng anh.
Một thế giới nghèo nàn, cô độc và đầy rẫy những địch ý bủa vây.
Đảo Trầm Kình nằm cách biệt hoàn toàn so với đất liền, tài nguyên vật tư vô cùng khan hiếm, lại chẳng có ngành công nghiệp nào làm trụ cột chống đỡ. Ngoại trừ công việc chài lưới đánh cá cực nhọc ra, người dân trên đảo chẳng còn sự lựa chọn nghề nghiệp nào khác. Cộng thêm điều kiện giao thông vận tải còn nhiều hạn chế, giá cả mọi mặt hàng hóa trên đảo đều đắt đỏ hơn đất liền rất nhiều, điều này càng khiến cho cuộc sống vốn đã eo hẹp, thắt lưng buộc bụng của người dân nơi đây trở nên chật vật, khốn đốn hơn bao giờ hết.
Bố của Trần Tẫn là ông Trần Tuấn Sơn, là người có học thức cao duy nhất trên đảo, tính tình trầm ổn hướng nội lại vô cùng đôn hậu, hiền lành. Trước năm năm tuổi, anh hoàn toàn không sinh sống trên hòn đảo này. Năm anh lên năm, ông nhận lời ủy thác của Bí thư thôn, bất chấp sự phản đối gay gắt của người vợ là bà Tề Yến, quyết định khăn gói dắt díu cả nhà chuyển về hòn đảo nhỏ, dự định sẽ dùng năng lực và tầm nhìn của bản thân để khai phá ra một ngành nghề kinh doanh mới.
Trong hai năm đầu, ông bắt tay với chính quyền thôn cùng đứng ra bao thầu một công ty thủy hải sản, toàn bộ chuỗi dây chuyền từ khâu đánh bắt cho đến khâu chế biến thành phẩm đều được hoàn thiện ngay tại trên đảo. Quy mô của công ty khuyếch trương nhanh chóng từ mươi mốt mạng ban đầu lên đến hàng trăm con người, làm ăn vô cùng phát đạt, phất lên trông thấy, cũng giúp cho đời sống của người dân có thêm nhiều khởi sắc đáng kể.
Thế nhưng sự phát triển của công ty công nghiệp thì không thể nào tách rời nguồn điện lực được. Năng lực cung ứng điện của hòn đảo nhỏ thời bấy giờ vô cùng hạn chế, vốn dĩ đã thường xuyên xảy ra tình trạng mất điện như cơm bữa do hệ thống máy móc phát điện quá đỗi già cỗi, thiếu hụt nhiên liệu trầm trọng. Sau khi nhà máy đi vào hoạt động, nguồn tài nguyên điện lực ít ỏi buộc phải ưu tiên hàng đầu để bảo đảm cho việc phục vụ sản xuất.
Đúng lúc này, xung quanh lại bắt đầu râm ran những lời ra tiếng vào dị nghị khác.
Đối mặt với tình cảnh khốn khó do thiếu hụt điện năng, ông đã đề xuất phương án nhập khẩu công nghệ phát điện bằng phong điện. Thời điểm đó, công nghệ lõi của hệ thống phát điện bằng tua-bin gió hoàn toàn phụ thuộc vào việc nhập khẩu từ nước ngoài, chi phí mua sắm thiết bị vô cùng đắt đỏ, đắt đến bỏng tay, chỉ dựa vào nguồn lợi nhuận ít ỏi của công ty thì căn bản là không cách nào gánh vác nổi. Thế là ông đã triệu tập toàn thể dân làng lại, hiến kế đầu tư vào dự án chong chóng gió theo hình thức góp vốn cổ phần.
Ban đầu, phần lớn người dân đều ôm tâm lý nghi ngại, dè chừng. Phải kinh qua quá trình ông lặn lội đến gõ cửa từng nhà để thuyết phục mới dần dần có người rục rịch hưởng ứng. Cộng thêm cái tiếng thơm cùng uy tín cá nhân mà ông tích lũy được suốt bao năm qua trong thôn, ngày càng có thêm nhiều người cắn răng quyết định xuống tiền góp vốn.
Thế nhưng ngay chính vào cái ngày ký kết hợp đồng, ông mới rụng rời chân tay phát hiện ra bản thân đã bị lừa một vố đau đớn. Toàn bộ mớ giấy tờ chứng minh tư cách pháp nhân mà bên kia đưa ra đều là giả mạo, tất cả tiền bạc mồ hôi nước mắt của dân làng đã bị bọn chúng tẩu tán sạch sành sanh ra nước ngoài. Chẳng mấy chốc, ông biến thành tấm bia hứng chịu mọi mũi dùi chỉ trích, gạch đá của dư luận.
Tình trạng thiếu điện không được cải thiện, cộng thêm tâm lý của công nhân trong nhà máy biến động dữ dội, kéo theo một chuỗi hệ lụy dông dài như đình công, lãn công, ngừng sản xuất. Chẳng được bao lâu, nhà máy cũng phải tuyên bố phá sản, sập tiệm. Ông bị đẩy lên đầu sóng ngọn gió, liền quyết định dắt díu cả nhà bỏ trốn biệt xứ để tìm kiếm một con đường sống khác. Người dân trong thôn đời nào chịu buông tha cho bọn họ dễ dàng như thế, bọn chúng nghĩ bụng, dẫu có giữ ông lại trên đảo thì số tiền bị lừa gạt kia cũng chưa chắc đã đòi lại được, nhưng ngộ nhỡ lão này có tài cán bấu víu đông sơn tái khởi ở nơi khác thật, biết đâu chừng lại có tiền quay về cung phụng trả nợ cho dân làng.
Thế là bọn chúng đưa ra điều kiện gài bẫy: Muốn đi thì đi, nhưng phải để Trần Tẫn ở lại.
Trần Tẫn năm tuổi khi ấy thì biết cái quái gì về những mưu mô hiểm độc ấy đâu cơ chứ, anh chỉ nhớ rõ mồn một cái cảnh tượng bố mẹ bỏ mặc mình leo lên một chiếc thuyền nhỏ rời đi. Tháng mười một cùng năm, hung tin từ bên ngoài ập về: Trần Tuấn Sơn chết rồi, chết do tai nạn giao thông tai ương. Khoản tiền đền mạng bồi thường ngay lập tức bị dân làng xúm vào xâu xé, chia chác sạch bách, không một xu cắc bạc nào lọt được vào tay Trần Tẫn. Còn người mẹ Tề Yến thì tiếp tục còng lưng cõng trên vai đống nợ nần chồng chất, sống kiếp làm thuê làm mướn, tha hương cầu thực ngược xuôi khắp chốn.
Cuộc đời của Trần Tẫn cũng kể từ cái dạo ấy mà trượt dài xuống tận đáy vực sâu, chưa một lần gượng dậy nổi. Suốt bao năm tháng qua, anh sống chẳng khác nào một con chó hoang ngoài đường ngoài chợ mà ai ai cũng có thể tiện chân đá cho một cái, anh buộc phải nhe nanh giương vuốt tự biến mình thành kẻ dữ dằn thì mới mong bảo toàn mạng sống, không bị người ta chà đạp, tổn thương.
Tiếng thở bên cạnh dần trở nên đều đặn và khẽ khàng, Trần Lê đã chìm vào giấc ngủ sâu từ bao giờ. Trong căn phòng tối om, ngập tràn tịch mịch, chỉ còn lại tiếng hít thở dông dài cùng tiếng thở dài thườn thượt đầy xa xăm.
Hứa Chiêu ghé sát người vào bệ cửa sổ, lặng lẽ dõi mắt ngắm nhìn cái hộp bằng đá vô tri kia. Vầng trăng từ từ lặn dần về phía Tây, ngôi nhà lầu hai tầng biến thành một chiếc bóng khổng lồ đổ dài xuống, trông chẳng khác nào một tòa ngục tù tối tăm không thấy ánh mặt trời.
Sự coi thường, khinh miệt, khiêu khích hay nét lạnh lùng thờ ơ của Trần Tẫn, thảy mọi thứ sau khi Hứa Chiêu vô tình vén màn nhìn thấu một góc khuất tăm tối trong cuộc đời anh, đều đã hóa thành những bọt bong bóng xà phòng nhỏ bé tầm thường, chỉ cần khẽ gạt nhẹ một cái là tan biến sạch sành sanh không tì vết. Và ẩn hiện bên dưới lớp vỏ bọc xù xì ấy, là một niềm xót thương, trắc ẩn cuồn cuộn dâng trào trong lòng cô, không cách nào kìm nén nổi.
