Chương 7: Xem tướng [Kết quyển này]
*
Lúc đi thì khí thế như cầu vồng, lúc về lại lén lút như quỷ mị, nói chính là Lư Hội và Y Lam.
Hai thiếu nữ ăn mặc nam trang, mặt mày lem luốc bụi đất, dẫn theo mười một nữ tử áo quần xộc xệch bị làm nhục, cùng với bảy con ngựa và hai con chó. Một đoàn người như vậy, quả thực còn gây chú ý hơn cả ban ngày thấy ma quỷ.
Lư Hội và Y Lam bàn bạc, thấy cứ thế ngang nhiên trở về thành Kim Châu thì quá không ổn. Chưa kể Trang Thứ sử vẫn chưa về, cũng không biết Vương Tư công còn đồng đảng hay không, lại phải cân nhắc đến danh tiết của mười một nữ tử này.
Hai người ở nơi này xa lạ, không quen biết ai, đành tìm đến Trương Vị Đạo.
Nhờ bóng đêm dần nhạt, họ trở lại quán trà, thấy Trương Vị Đạo với cánh tay bó gỗ, ngồi cô độc trên chiếc ghế hỏng, mặt mày ủ rũ chờ đợi. Thấy hai người lành lặn bước vào, Trương Vị Đạo mừng rỡ khôn xiết, liên tục niệm Phật: “A Di Đà Phật, hai cô cuối cùng cũng về! Ông đây chờ đến mức sắp hóa hòn vọng thê rồi!”
Lư Hội thấy hắn giữ lời như vậy, cũng rất vui: “Mẹ của huynh đâu rồi?”
Trương Vị Đạo kêu lên: “Bà cô trẻ của tôi ơi, mẹ tôi gãy hai xương sườn, dì dượng tôi cũng nửa sống nửa chết, lẽ nào bắt cả ba người họ ngồi đây chờ suốt đêm? Đương nhiên là gọi người trong làng đưa họ về nhà an trí trước, rồi mới tìm đại phu chữa thương!”
Y Lam bước vào, lớn tiếng nói: “Hai người bớt nói nhảm đi, quán trà này nhỏ quá, lại người qua kẻ lại, mau tìm chỗ nghỉ chân đã.”
“Đến nhà tôi đi.” Trương Vị Đạo bỗng thở dài: “Hai cô đến nhà tôi nghỉ tạm, ăn chút bánh bột, mẫu thân tôi bảo ơn cứu mạng lớn như trời, bà muốn đích thân tạ ơn. Ôi, tôi… e là phải vào thành chịu đòn của Trang Thứ sử rồi.”
Lư Hội giật mình: “Trang Thứ sử về rồi sao? Sao lại đánh huynh?”
Y Lam thì hỏi: “Có phải chuyện huynh gây ra trước đây bị lộ không?”
Trương Vị Đạo thở dài: “Ôi, hôm qua hai cô bảo đi tìm sào huyệt giặc, tôi nghĩ tới nghĩ lui, lòng dạ không yên, nên… ôi, nên tìm hai đứa con trai của lý chính bàn bạc, bảo họ sang huyện bên tìm Trang Thứ sử cầu cứu. Tôi sợ Trang Thứ sử không để tâm nên cố ý thổi phồng chuyện này lên…”
“Tôi nói đám tặc nhân ít nhất cả trăm tên, khí thế ngút trời. Nếu không đi diệt giặc, e là chúng sẽ chiếm núi xưng vương.”
“Tôi còn nói ít nhất cả chục nữ tử bị bắt cóc, đều bị làm nhục đến không ra hình người, nếu không đi cứu, chỉ e chẳng ai sống nổi.”
“Tôi còn bảo chúng ẩn náu trong vùng quê Kim Châu bao ngày mà chẳng ai hay, không biết có nội gián hay không…”
Lư Hội và Y Lam nhìn nhau, mắt lấp lánh nụ cười.
Lư Hội: “Trương tiểu lang, huynh gan to thật đấy, dám trực tiếp tìm Trang Thứ sử.”
Trương Vị Đạo mặt tái xanh: “Còn cách nào nữa, tôi sợ hai cô đi không về, đành lấy tiền khích lệ hai đứa con lý chính, nói nếu lập công thì có phần chúng, còn nếu sai, tôi chịu hết.”
– Là một kẻ lưu manh từng bị ghi tên vào sổ quan phủ, hành động này chẳng khác nào đi chân trần trên lưỡi dao.
Y Lam rốt cuộc nhìn hắn bằng con mắt khác: “Tính ra huynh cũng trọng nghĩa khí, trước đây là tôi xem thường huynh rồi!”
Trương Vị Đạo ủ rũ: “Trang Thứ sử giờ chắc đang thúc ngựa phi nhanh trở về, trưa nay là đến nơi. Giờ hai cô bình an trở về – đương nhiên là chuyện tốt, nhưng tôi lại thành kẻ đùa giỡn quan phủ. Trang Thứ sử chẳng đánh tôi đến chết sao!”
Hai thiếu nữ lại bật cười khẽ.
Y Lam vén rèm cửa, cười nói: “Họ Trương, ra ngoài xem này.”
Trương Vị Đạo ngơ ngác, bước ra cửa, lập tức trợn tròn mắt, cả người run lên – Chỉ thấy ngoài kia, vài con ngựa cao lớn chở hơn chục nữ tử áo quần rách rưới, yếu ớt không chịu nổi.
Hắn há hốc miệng: “Thật sự có cả chục người? Hai cô chỉ bằng sức mình đã cứu được họ ra sao?”
Biết hai người thân thủ không tệ, nhưng không ngờ võ nghệ tinh thâm đáng sợ đến vậy, ánh mắt hắn lập tức tràn đầy kính nể, cảm giác như vô tình gặp được cao nhân ẩn thế.
“…Thực ra không phải chỉ có mình chúng tôi.” Lư Hội không biết bắt đầu từ đâu, gãi mái tóc rối bù: “Dù có lập công hay không, huynh cũng không tính là lừa quan phủ, chắc không bị đánh đâu.”
Trương Vị Đạo suýt khóc vì vui mừng quá thể: “Đúng thế, đúng thế!”
Lư Hội cười tươi: “Tôi vẫn luôn bảo Trương tiểu lang quân thông minh mà, giờ xem ra còn có chút tài liệu việc như thần. Trời chưa sáng hẳn, mau tìm chỗ an trí mấy nữ tử này đi.”
Lúc này mới thấy được lợi thế của kẻ rành rẽ địa phương. Trương Vị Đạo vỗ ngực đảm bảo không có vấn đề.
–
Chiều hôm ấy, Lư Hội và Y Lam mới trở về thương đội.
Hai người đi suốt đêm không về, Khang Khuất Để lo đến mức miệng mọc mụn, đã phái mấy tốp người đi tìm, suýt nữa báo quan.
Lư Hội đành bịa chuyện, nói vùng quê Kim Châu có một nhà hào tộc cưới xin, mở tiệc nước chảy dài hai dặm, còn mời cả đoàn tạp kỹ, biểu diễn ca múa và trò xiếc. Hai người mải mê chơi quên giờ, đến khi hoàng hôn mới nhớ ra cổng thành đã đóng, đành mượn nhà dân quê nghỉ một đêm.
Khang Khuất Đế nghe xong ngẩn người, nghĩ đến cô con gái độc nhất của mình cũng ngây thơ ham chơi như thế, chỉ đành nuốt cục tức xuống sông, bảo hai người mau nghỉ ngơi, sáng mai khởi hành, nửa ngày còn lại tuyệt không được ra ngoài nữa.
Thực ra chẳng cần ông căn dặn, hai thiếu nữ đã mệt lử, gần hai ngày một đêm không chợp mắt, lại chạy đi chạy lại trên đường núi đồi, vừa sợ hãi vừa lo cho tính mạng.
Lư Hội nghĩ, giờ dù có đặt trước mặt cô một con hổ trắng mắt lườm lườm, cô cũng chẳng buồn ngó.
Hai người rửa ráy xong, ngã đầu xuống là ngủ.
Nửa đêm, Lư Hội đói bụng tỉnh giấc, uể oải bò dậy tìm đồ ăn, bỗng thấy phòng của Tống tiên sinh đối diện vẫn sáng đèn.
Ôi, người đọc sách sao cứ thích ngày ngủ đêm đốt dầu, thảo nào cha mình bảo đọc sách tốn tiền.
–
Sáng sớm hôm sau, thương đội khởi hành, trong đoàn xe dài vang lên tiếng quát dứt khoát đầy uy lực của lão Khang.
Trong cỗ xe bề ngoài bình thường nhưng bên trong tinh xảo rộng rãi —
“Thiếu tướng quân hẳn là mệt lắm rồi, ngủ chưa được hai canh giờ đã dậy.” Lão Tống ôm bình nước ấm, lải nhải quan tâm: “Nằm nghỉ thêm chút đi.”
Bùi Thứ Chi khoác áo bào cũ, tựa vào tấm thảm lông dày, hỏi: “Những thư tín kia, tiên sinh đã xem hết chưa?”
“Xem hết rồi.” Lão Tống giận dữ đặt bình nước xuống: “Một đám người mặt nhân tâm thú! Chỉ một câu oán thán say rượu của viên tiểu lại, thế mà bị bới móc thành đại án liên lụy cả trăm người!”
Bùi Thứ Chi nhắm mắt nghỉ ngơi: “Thời thế đổi thay, tiên sinh có tức giận cũng vô ích. Nhưng cũng tốt, ta đang lo Trang Hoài Trinh thanh cao khó đối phó, những thứ này đến đúng lúc.”
“Còn cái này…” Lão Tống lại lấy cuộn lụa đỏ ra xem, thần sắc nặng nề: “Nếu lão phu nhớ không lầm, đây là năm Phượng Lâm thứ ba, khốc lại Ngưu Mão phụng mệnh về Kinh Triệu xử lý vụ án Cửu Giang Quận Vương. Ai ngờ giữa đường bị kẻ nào đó lấy đầu. Bệ hạ giận dữ, lập tức ban ba đạo thánh chỉ, giao cho ba người Nghiêm Tuấn Huy, Nhạc Minh và Kiều Hữu Chí, trên viết: ‘Người cầm thánh chỉ này, được tự điều vệ binh, tiên trảm hậu tấu, tùy cơ hành sự.’”
Bùi Thứ Chi: “Sau đó, Nghiêm Tuấn Huy phạm tội bị xử tử, đạo mật chỉ của ông ta bị thu hồi. Nhạc Minh lo sợ mà bệnh chết, Vệ Lâm Vệ lục soát nhà lấy được đạo chỉ thứ hai. Chỉ có Kiều Hữu Chí, dù người đã chết, nhưng đạo thánh chỉ năm ấy lại mất tích, không ngờ lại ở đây.”
Lão Tống thở dài: “Vật này không dễ dùng đâu.”
Bùi Thứ Chi khẽ vén rèm gấm, nhìn ra ngoài, xuân quang rực rỡ, một thiếu nữ tươi vui vung roi ngựa phi qua phi lại. Chàng thoáng do dự: “…Ta vẫn thấy cô gái này quen mắt, như đã gặp ở đâu đó.”
Lão Tống cười: “Có lẽ người có tướng phú quý thì trông na ná nhau chăng.”
Bùi Thứ Chi liếc ông: “Cô ta có tướng phú quý sao?”
Lão Tống bĩu môi, ghé sát cửa sổ nhìn: “Lần trước cô ta đến hỏi ta về học vấn, ta tiện thể xem chữ cho cô ta…”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Cô ta biết được mấy chữ mà còn xem chữ!”
“Lão phu không tiện hỏi bát tự sinh thần của cô ta, đành xem chữ và đoán tướng mặt.” Lão Tống ngồi lại, thần thần bí bí: “Vị Lư tiểu nương tử này tướng mạo không tệ, chỉ cần cô ta không tự chuốc khổ, mọi sự thuận theo tự nhiên, ắt cả đời bình an, phú quý song toàn.”
Bùi Thứ Chi cười nhạo: “Nói hay lắm, đáng tiếc song thân Lư tiểu nương tử không còn, nếu không ắt sẽ hậu tạ tiên sinh.”
Lão Tống kiên trì: “Thiếu tướng quân chớ chế giễu lão phu. Với trí nhớ không quên của ngài, nếu Lư tiểu nương tử thật sự giống cố nhân nào đó, ngài đã nhớ ra rồi. Có khi, đúng như lão phu nói, người có tướng phú quý thì trông giống nhau.”
Bùi Thứ Chi không phản bác được.
Lần đầu gặp Lư Hội, chàng đã thấy đôi chút khác lạ. Dọc đường, chàng gần như lật lại từng gương mặt đã gặp từ nhỏ đến nay trong ký ức, nhưng không ai giống.
“Ba ngày nữa, ta và tiên sinh sẽ chia tay tại đây, xin tiên sinh ở kinh thành vất vả một thời gian.” Bùi Thứ Chi nhắm mắt dưỡng thần: “Khuyên tiên sinh một câu, người giỏi dịch lý không bói toán, người giỏi xem tướng không nói bừa.”
“Tử bất ngữ quái lực loạn thần, lão phu biết, biết mà.” Lão Tống lẩm bẩm tự nói: “Thôi được, nếu là điềm xấu, lão phu thế nào cũng phải nhắc nhở người ta một câu. Nhưng Lư tiểu nương tử mệnh cách tốt, sau này ba con trai hai con gái, đều hiếu thuận thành đạt, lão phu không nói nhiều nữa.”
Bùi Thứ Chi không chịu nổi, chàng bật dậy: “Tiên sinh có phải xem mệnh cho ai cũng nói y như vậy, ai cũng ‘ba trai hai gái, hiếu thuận thành đạt’ không?”
Tống tiên sinh đỏ mặt, ông khăng khăng: “Không phải lão phu lười biếng, tính ra đúng là vậy!”
“Tiên sinh nghỉ đi.”
–
Lư Hội và Y Lam như hai tên trộm nhỏ, mặt cười híp mắt, ánh mắt láo liên, thấy Khang Khuất Đế thúc ngựa chạy về cuối thương đội, hai người mới dám cưỡi ngựa đi xa hơn chút.
“Cô nói xem, lão Khang có kể chuyện chúng ta đi cả đêm không về cho cha mẹ tôi không?”
“Chắc chắn kể rồi, hôm qua lúc về mặt ông ấy khó coi thế nào, không thêm mắm dặm muối là may.”
“Xong rồi, cha mẹ chắc chắn sẽ mắng tôi te tua.”
“Đáng bị mắng lắm, cô gan to quá! Sáng nay tỉnh dậy tôi mới thấy sợ. Quá nguy hiểm, chỉ cần lệch một chút, cô khóc cũng chẳng kịp!”
“Y Lam, cô lúc nào cũng là Gia Cát hậu sự, sao không sớm ngăn tôi! Cô nói xem, cha mẹ có tin chuyện chúng ta ở quê xem người ta cưới xin, mải vui quên giờ về thành không?”
“…Không.”
Y Lam thẳng thừng phá tan ảo tưởng: “Chủ nhân sẽ hỏi cô là đoàn gánh hát nào, diễn trò gì, hát múa khúc gì. Chỉ cần cô trả lời sai một chút, ông ấy biết ngay. Còn phu nhân – cô từ nhỏ ngoan ngoãn đáng tin, trước khi đi rõ ràng đã hứa với lão quản sự sẽ ngoan suốt đường, chỉ một đoàn gánh hát mà khiến cô quên giờ, phu nhân chẳng tin đâu.”
Lư Hội kêu than: “Thế này biết làm sao!”
Y Lam hả hê vỗ đầu cô: “Nghĩ thoáng ra, lúc làm anh hùng cô oai phong thế nào. Cha tôi từng nói, từ xưa đến nay, làm người tốt thường phải chịu chút xui xẻo.”
Lư Hội tự an ủi: “Dù sao chúng ta cũng làm việc tốt, cha mẹ sẽ hiểu thôi – mười một cô gái kia được cứu về nhà, người thân của họ hẳn vui mừng biết bao!”
Y Lam nghi hoặc: “Họ còn nhà để về sao?”
Mười một nữ tử từ trên núi xuống, bị gió đêm lạnh lẽo thổi qua, mới dần tỉnh táo. Đến khi được an trí trong một ngôi nhà vắng vẻ, họ vẫn mơ mơ màng màng, hoặc ngẩn ngơ ngây dại, hoặc bất chợt cười điên dại – cảnh này Lư Hội từng thấy khi còn nhỏ.
Năm cô tám tuổi, một tàn quân của Hải Cốt Khâm Hãn chạy loạn đến địa phương, cướp bóc đốt phá làng mạc. Nghĩa huynh của Lư Sĩ Kiệt là Trương Tuấn dẫn quân đuổi theo nửa tháng, mới diệt được tàn quân, cứu dân chúng bị bắt làm nô.
Khi ấy, phu nhân họ Tạ tất bật chăm sóc, Lư Hội còn nhỏ cũng lẽo đẽo theo sau, đến nay vẫn nhớ những nữ tử được cứu về với ánh mắt đờ đẫn. Nhà tan người mất, chịu đủ nhục nhã, khiến họ không thể lập tức nói cười như thường.
Đến nơi nghỉ, Trương Vị Đạo lấy thuốc trị thương từ nhà, còn mua nhiều quần áo cũ và giày từ làng bên. Lư Hội và Y Lam thì chặt củi đun nước, nấu ăn. Các nữ tử rửa sạch bụi bẩn, khóc lóc bôi thuốc cho nhau, đến khi chải đầu thay áo, ăn chút đồ, mới dần tỉnh táo, kể lại chuyện mình cho Lư Hội nghe.
Họ đều là người ngoại tỉnh, theo cha anh hoặc phu quân đi ngang đây. Những năm qua, Trang Thứ sử cai quản Kim Châu xuất sắc, danh tiếng lẫy lừng, dù chưa đến mức “đêm không đóng cửa, đường không ai nhặt của rơi”, nhưng dân chúng ít nhất không lo an nguy. Ai ngờ giữa ban ngày ban mặt lại xuất hiện bọn tặc hung tàn.
Đám tặc nhân cướp tài sản, giữ lại các nữ tử trẻ, giết sạch người thân của họ, kể cả trẻ còn trong tã, chôn xác bên đường núi. Nói đến đây, các nữ tử khóc nức nở – tự kể rằng may mắn sống sót, nhưng vài người bị bắt khác hoặc không chịu nổi nhục mà tự vẫn, hoặc bị tra tấn đến chết.
“Những người còn thân nhân, Trang Thứ sử sẽ phái người đưa về; nếu cả nhà không còn…” Lư Hội nghĩ đến đã buồn: “Trương Vị Đạo nói, Trang Thứ sử mở Từ Tế Đường trong thành để thu nhận nữ tử cô khổ.”
Y Lam an ủi: “Cô móc hết tiền bạc trên người ra, đủ cho các nàng vượt qua khó khăn rồi.”
Nàng đổi giọng: “Nhưng Trương Vị Đạo dù sao cũng xuất thân lưu manh, số tiền lớn thế, liệu hắn có nuốt không, hay giao cho Trang Thứ sử thì hơn.”
Sau khi an trí các nữ tử, hai người bàn với Trương Vị Đạo xem gặp Trang Thứ sử thì nói thế nào. Ba “thợ da dỏm” mới phát hiện vấn đề.
Nếu Trang Thứ sử hỏi kỹ về số lượng, binh khí của đám hắc y nhân thì sao?
Nếu ông giữ Lư Hội và Y Lam lại, bắt nhận diện hình dáng, giọng nói của hắc y nhân thì sao?
Trang Hoài Trinh nổi tiếng công chính nghiêm minh, nếu ông cố chấp truy cứu đến cùng thì sao?
Lư Hội nhớ cha mẹ đã lâu, chỉ muốn sớm đoàn tụ, đâu muốn ở lại dây dưa với quan phủ. Hơn nữa, cô tự nhận là người từng trải, biết đám hắc y nhân kia chắc chắn có lai lịch, càng ít dính líu càng tốt, kẻo rước họa cho cha mẹ.
Cuối cùng, đành đẩy hết cho Trương Vị Đạo.
Nói rằng, sau khi hắn sai hai con trai lý chính báo quan, vẫn không yên tâm, bèn cưỡi lừa mò đến. Nửa đường gặp hai nữ tử giang hồ, họ giao mười một nữ tử cho hắn rồi phiêu nhiên rời đi. Người giang hồ vốn tiêu sái bất kham, mong Trang Thứ Sử thông cảm.
Thế là sau khi giao các nữ tử cho Trương Vị Đạo, Lư Hội và Y Lam trốn về nhà họ Trương, không lộ diện. Chẳng bao lâu, họ nghe hai con trai lý chính trở về kể, thực ra Trang Hoài Trinh bỏ dở việc tuần tra các huyện trong châu, không chỉ vì lời hai dân làng, mà đêm trước, huyện bên đột nhiên có một đám dân lưu lạc dắt già dìu trẻ đến, nói có vài hắc y nhân bảo họ rằng nơi này có chỗ dung thân.
Hai nguồn tin hợp lại, Trang Hoài Trinh lập tức phi ngựa về.
Trên núi, đống đổ nát cháy rụi và xác chết đầy đất, cảnh lớn như vậy, tuyệt không thể là do hai tiểu nương tử gây ra, huống chi còn mười một nữ tử làm chứng. Trương Vị Đạo nghĩ, như vậy Lư Hội và Y Lam sẽ không thành mục tiêu nghi ngờ chính của Trang Hoài Trinh.
Còn lai lịch hắc y nhân, xin Thứ sử đại nhân tự đi tra.
“Cô luôn bảo họ Trương thông minh lanh lợi, giờ tôi cũng tin.” Y Lam nói: “Nhưng nhân phẩm hắn có đáng tin không? Số tiền phi phiếu phu nhân cho, cô lấy hết ra rồi, không ít đâu.”
Lư Hội trầm ngâm, chợt hỏi: “Cô có nhìn kỹ nhà Kim nương tử chưa?”
Y Lam ngẩn ra: “…Vào rồi, nhà dọn dẹp khá sạch sẽ, sao vậy?”
Lư Hội: “Cha tôi nói, đức không vì lợi mới là đức thật. Người đọc sách bảo ‘bách thiện hiếu vi tiên’, vì triều đình đề cao trung hiếu tiết nghĩa, không hiếu thảo sẽ bị chê trách. Nhưng ngàn vạn nông dân, thợ thủ công, tiểu thương thì sao? Nếu họ cũng hiếu thảo, quan phủ có giảm sưu thuế cho họ không? Có lẽ có, nhưng hiếm lắm.”
“Còn đại thương nhân…” Cô tinh nghịch cười: “Quan trọng là ‘phù trợ quan phủ, tạo phúc địa phương, ban ân bách tính’.”
Y Lam bực mình: “Không phải chỉ là nộp nhiều bạc cho quan phủ sao.”
Lư Hội: “Mẹ tôi bảo, hiếu đạo là quy củ của nhà thanh lưu, đã nhập vào hàng thì phải giữ quy củ. Nhưng Trương Vị Đạo đâu phải kẻ sĩ, chỉ là một gã lưu manh chợ búa. Nam bắc sông lớn, các châu các huyện, bọn lưu manh đánh cha mẹ đòi tiền bạc, chẳng phải ít đâu.”
Y Lam dần hiểu ra: “Ý cô là, Trương Vị Đạo là một người con hiếu thảo chân chính.”
Lư Hội: “Cô nhìn nhà Kim nương tử xem, chăn đệm là lụa Vân và nhung mịn, khung giường bằng gỗ toan chi, trên bàn còn có gương đồng đánh bóng láng và dầu ngao từ Tươi Hời – mấy thứ này không rẻ đâu. Nhưng phòng Trương Vị Đạo thì đơn sơ, toàn đồ thô kệch.”
Y Lam gật đầu: “Hắn thấy Kim nương tử tiếc không cho râu sâm vào nồi thuốc, còn lớn tiếng quát mẹ hai câu, trông… miệng cứng lòng mềm.”
Lư Hội: “Hắn hiếu thảo như vậy, nhưng thà tự mình giặt giũ lau nhà, cũng chẳng nghĩ cưới vợ mới để hầu hạ Kim nương tử.”
“Chuyện này tôi biết.” Y Lam vội nói: “Kim nương tử bảo cha Trương Vị Đạo chẳng ra gì, bà chịu khổ nửa đời, nên trừ phi Trương Vị Đạo sửa đổi, nếu không không cho cưới vợ.”
Lư Hội thở dài: “Dù chỉ là một bà lão thôn quê, nhưng còn sáng suốt hơn nhiều phu nhân nhà quyền quý.”
Y Lam: “Vậy nên cô đưa hết tiền cho mẹ con họ?”
Lư Hội: “Mẹ con họ bị thương không nhẹ, phải dưỡng bệnh một thời gian. Dì dượng hắn mấy tháng không làm được việc, lấy gì mà sống? Trương Vị Đạo hiếu thuận lanh lợi, Kim nương tử lễ nghĩa đàng hoàng, nghèo mà không hèn. Có bà trông chừng, Trương Vị Đạo sẽ phân chia tiền bạc cho các cô gái kia tử tế.”
Y Lam cũng thở dài: “Cô làm đúng, người tốt nên có vận may, không thể cứ ngâm trong nước khổ. Nếu chủ nhân và phu nhân trách mắng cô, tôi nhất định sẽ biện minh cầu tình.”
“Mẹ tôi sẽ mắng cả cô, nói không chừng còn phạt cô chép sách.”
“Hả? Chép sách?” Y Lam giật mình, lập tức đổi ý: “Hội Hội à, tôi vụng miệng, e là nói không rõ, cô tự chịu nhiều chút nhé.”
Lư Hội đau lòng chỉ trích: “Y Lam, cô trở mặt nhanh thật!”
Y Lam vội đánh trống lảng: “Khụ khụ, gì nhỉ… đám dân lưu lạc kia đâu rồi?”
Lư Hội uể oải: “Trang Thứ sử sẽ an trí họ thôi.”
“Tại sao lại có nhiều dân lưu lạc thế?”
“Sáng sớm tôi đi hỏi Tống tiên sinh, ông bảo dân lưu lạc là những người mất kế sinh nhai. Không còn ruộng đất, sưu thuế nặng nề, ở quê không trụ nổi, đành bỏ hộ mà đi.”
“Tống tiên sinh tốt tính, chẳng có chút kiêu ngạo của người đọc sách, biết nhiều, nói chuyện tôi đều hiểu. Tiếc là ông phải chăm cháu trai, nếu không chúng ta có thể hỏi ông nhiều hơn.” Y Lam hiếm khi khen người đọc sách.
“…” Lư Hội trầm ngâm, cuối cùng chỉ nói: “Tôi cũng luyến tiếc Tống tiên sinh, ông còn xem chữ cho tôi. Đáng tiếc đến Thương Châu, ông sẽ rời thương đội.”
Y Lam hào hứng: “Xem chữ nói sao?”
“Tôi thấy Tống tiên sinh trêu mình.” Lư Hội bực bội: “Ông bảo tôi ngoan ngoãn nghe lời, đừng tự ý làm bừa, như vậy cả đời sẽ an hưởng phú quý.”
Y Lam bật dậy: “Cô còn chưa đủ ngoan sao? Cả Sa Châu chẳng ai ngoan hơn cô! Hừ, đàn ông Trung Nguyên, đến hoàng đế còn là nữ, vậy mà vẫn muốn con gái nghe lời, đúng là đánh chưa đủ!”
[Kết quyển này]
