Chương 33: Trả lời câu hỏi ở Tiểu Sơn Học Quán
*
Nếu nói ánh mắt của Nữ hoàng tựa như vầng hồng nhật giữa mùa hạ, uy nghiêm cao ngất, thì Ngụy Quốc phu nhân lại như một dải nước mát lành; khi ánh mắt bà chậm rãi lướt qua từng gương mặt, ai nấy đều thấy trong lòng dấy lên một luồng lạnh buốt.
Sau đó, bà buông rèm gấm, bắt đầu huấn dụ —— giọng nói của bà trầm thấp mà nhu hòa đến bất ngờ, thậm chí còn mang theo chút khàn khàn của một bà lão thường quen ẩn mình trong bóng tối.
“…… Trong các ngươi, có người xuất thân từ năm họ bảy vọng, thế gia đại tộc, cũng có người đến từ hàn môn cùng thứ tộc. Ở nơi học quán này, các ngươi không ngại thử bỏ đi những thành kiến thế tục, chỉ dựa vào chí hướng và học thức mà giao kết cùng nhau.”
“Đọc sách, đọc không chỉ là sách, mà còn phải đọc thấu thế đạo nhân tâm, thông tỏ cục diện pháp độ. Nếu chỉ cắm đầu vào đống giấy mục, đọc đến nỗi chẳng còn biết trời cao đất rộng, thì khác nào đảo lộn gốc ngọn.”
“Thế nhân thường có nhiều lời chê trách nữ tử nhập học, lại cho rằng nữ tử tương lai bất quá là lấy chồng, sinh con, giữ nhà. Đạo nghĩa đường đường, ta không nhắc đến nữa, chỉ nói một điều: nếu như đọc sách không có lợi, cớ sao thiên hạ nam nhi đều nhao nhao hướng tới? Dù chẳng vì công danh lợi lộc, đọc sách cũng có lợi lớn, đợi các ngươi trưởng thành thêm, sẽ dần dần thể hội được.”
Huấn dụ của Ngụy Quốc phu nhân rất ngắn, một đám tiểu nương tử chỉ cho rằng phong cách bà vốn như vậy, nhưng Phàn quán chủ thì ngầm lấy làm kinh lạ —— những năm trước còn nói dài hơn đôi câu, sao hôm nay lại có vẻ tâm thần không yên, chẳng lẽ thân thể mang bệnh?
Ngay cả Nữ hoàng cũng cảm thấy lạ, nói: “Hôm nay sao khanh nặng nề tâm sự vậy, thân thể chẳng được khoẻ ư?”
Ngụy Quốc phu nhân chỉ khẽ cười: “Đa tạ bệ hạ quan hoài, vi thần vô sự.”
Bùi Thứ Chi đứng lặng bên cạnh Nữ hoàng, như tùng như trúc. Khóe mắt chàng quét qua lão phụ nhân kia, đem từng cử chỉ của bà thu hết vào đáy mắt —— sự trầm mặc khác thường, thoáng thất thần giữa lúc huấn dụ. Mặt hồ tĩnh lặng, dẫu chỉ vương một hòn sỏi nhỏ cũng đủ khuấy động, huống hồ nay chẳng phải một hạt cát.
Trong lòng Bùi Thứ Chi rõ như gương: nước cờ này đi đúng rồi, kế tiếp chính là tìm cách để Ngụy Quốc phu nhân gặp Lư Hội nhiều hơn, từ đó sinh ra cảm mến chẳng hay. Mưu kế đã bước đầu thành, vốn chàng nên có đôi phần tự đắc, thế nhưng ——
Cớ sao Nữ hoàng lại có mặt ở đây! Sao lại đến quấy rối mưu đồ của chàng, chàng hận trời xanh khôn xiết!
Thấy ánh mắt Nữ hoàng quét tới dò hỏi, chàng liền đáp trơn tru như nước chảy: “Há chẳng phải bệ hạ vừa nói ‘Thoắt chốc mấy chục năm, như cách một đời’, khiến Ngụy Quốc phu nhân nhớ lại chuyện xưa, tự nhiên khó tránh buồn bã.”
Nữ hoàng dường như nhớ ra điều gì, than rằng: “Quả là lỗi của trẫm rồi.”
Bùi Thứ Chi: “Nơi đây đông người, khí trọc nặng nề, bệ hạ chẳng bằng dời sang nội sảnh rồi cùng Phàn quán chủ luận chuyện tiếp.” —— Mau mau tiễn Nữ hoàng đi, để kế hoạch tiếp tục.
Nữ hoàng tuổi đã cao, lại sinh ra vài phần tính tình trẻ nhỏ, cau mày nói: “Ai nói trẫm tới tìm Mậu nương, các khanh ai nấy đều quá cũ kỹ thiếu linh hoạt, chẳng chút thú vị, trẫm trông mà phiền, đi cho khuất mắt, trẫm muốn cùng mấy tiểu nương tử này nói chuyện, nhân tiện tìm xem cô cháu gái của Nhược Trạm ở đâu, ha ha ha.”
Bùi Thứ Chi: “……” —— Lại một lần nữa hận trời xanh!
Ánh mắt Nữ hoàng sáng rực, hơi cúi người về phía dưới, cất giọng hỏi các thiếu nữ:
“Phàn quán chủ nói rằng năm nay tiểu nương tử nhập học phần nhiều là đến từ ngoài hai kinh, vậy thì trẫm hỏi các ngươi, những năm nay từ khi trẫm đăng cơ, so với trước kia, phương thổ có biến đổi chi chăng?”
Câu hỏi vừa ra, thái dương của Bùi Thứ Chi liền đau nhói, Phàn Mậu Nương chỉ biết khổ cười liên tiếp, đến ngay cả Ngụy Quốc phu nhân cũng chẳng kìm được khẽ gọi một tiếng “Bệ hạ”.
Nữ hoàng giả bộ nghiêm khắc: “Các khanh ai cũng không được nhắc nhở, đưa mắt ra hiệu cũng không cho, cứ để bọn họ tự đáp. Nói hay, trẫm trọng thưởng; nói dở…… về nhà phạt chép sách! Tùng Phong, thế được chăng?”
Cù Tùng Phong vội cười đáp: “Bệ hạ thánh minh, như vậy quả là thỏa đáng nhất rồi!”
Có gương của Vương Lãnh Tường ngay trước mắt, ai nấy đều hiểu được được Nữ hoàng khen thưởng là thế nào —— chẳng những là vinh hiển vô cùng, mà về sau trong gia tộc và hôn phối còn có lợi ích thực sự.
Khi những thiếu nữ khác đều hăng hái muốn thử, thì bốn người Lư Hội lại gần như đồng loạt lặng lẽ lùi xuống hai bước, rồi ngẩng đầu lên liền thấy đối diện ánh mắt nhau mà bối rối.
Lư Hội cảm thấy buồn cười, mấp máy môi nói bằng khẩu hình: “Muội mở miệng là lộ, các tỷ lui cái gì.”
Dư Xảo Nương hạ thấp giọng: “Ta sợ lắm, nào dám bước đến trước mặt bệ hạ.”
Lâm Mạt Tử: “Ta thì muốn nói mấy lời, chỉ e bệ hạ không ưa nghe.” Trong lòng nàng vốn nhiều oán thán với triều đình —— đã có Nữ hoàng rồi, sao không phong thêm vài nữ huyện lệnh, nữ thứ sử, hại nàng ngày ngày chỉ đành nén giận trong nhà.
“Hòa Vi sao chẳng bước lên, có tấm gương a tỷ của tỷ ở trước, bệ hạ tất sẽ nhìn ngươi bằng con mắt khác.”
Vương Hòa Vi lắc đầu: “Lần trước bệ hạ triệu kiến a tỷ ta, khảo xét là học vấn; hôm nay lại hỏi chuyện kiến văn phương thổ, ta chưa từng bước chân ra khỏi Lạc Dương nửa bước, biết đâu mà đáp.”
Lư Hội tán thưởng vô cùng: “Hòa Vi tính tình trầm ổn, tương lai tất sẽ có tiền đồ lớn. Nhưng mà chúng ta né tránh vẫn là phải, câu hỏi này chẳng dễ trả lời.”
Tuy cô ít đọc sách, nhưng đã mơ hồ nhận ra câu hỏi của Nữ hoàng chính là cái bẫy lớn.
“Mọi người mau im đi, tên thái giám họ Cù kia nhìn sang rồi.” Tim Dư Xảo Nương đập thình thịch.
Bốn thiếu nữ lập tức hóa thành một hàng hồ lô câm, ngoan ngoãn co mình sang một bên.
–
Sau khi mọi người nhường nhau đôi câu, người đầu tiên bước lên đáp là Trần tiểu nương tử, đồng hương với Dư Xảo Nương đất Giang Nam.
Nàng cung kính nói: “Khải tấu bệ hạ, thiếp tuy ngày thường giam mình trong khuê các, nhưng cũng nghe được bệ hạ lấy yên dân làm gốc, trị quốc hữu đạo. Từ khi bệ hạ đăng ngự tới nay, nhiều lần giảm miễn thuế khoá, lòng dân yên ổn, quốc gia ắt hưng thịnh, quân thần một lòng, trên dưới đồng lực, há lo gì triều ta chẳng nghìn thu muôn đời. Công đức của bệ hạ to lớn, như thái dương rực rỡ, như trăng sáng treo cao, chẳng thể dùng vài câu vắn vỏi của tiểu nữ mà gói ghém cho hết.”
Nàng vừa dứt lời, mấy tiểu nương tử hai bên lập tức phụ hoạ theo.
Lâm Mạt Tử cùng Dư Xảo Nương đồng thời mắng thầm: “Đồ nịnh thần!”
Nữ hoàng nghe mà chán chường: “Trẫm muốn nghe lời thật trong lòng các ngươi, đâu cần nghe các ngươi tụng ca công đức của trẫm. Ngươi có lẽ biết đọc sách, nhưng chẳng biết đọc đề, càng đừng nói đến đọc lòng người.”
Trần tiểu nương tử rưng rưng nước mắt, lui xuống.
Phàn Mậu Nương trong dạ than thở —— Nữ hoàng nếu muốn nghe những lời như thế, thì cần gì tìm mấy tiểu nương tử tuổi mười mấy? Trong hai kinh có không ít kẻ sĩ “hoài tài bất ngộ”, ngày ngày kêu khóc đòi dâng thơ phú, hết lời ca tụng, bút lực lão luyện, từ ngữ hoa lệ, nịnh hót đến tận xương tủy.
Trần tiểu nương tử này, ngày thường vẫn chẳng kém gì Vương Hòa Vi về học thức, nay xem ra chỉ là tự mãn quá đỗi mà thôi.
Người thứ hai bước lên là Lục tiểu nương tử, quê ở Tịnh Châu.
Nàng tươi cười nói: “Bệ hạ đăng cơ từ đó tới nay, triều chính đổi mới, quan lại thanh minh, lao dịch nhẹ, thuế má ít, quốc thái dân an, so với tiền triều hơn gấp trăm lần. Bách tính không ai chẳng ca tụng bệ hạ thánh minh, vượt cả Nghiêu Thuấn, thậm chí còn có dân quê thôn dã nói rằng, giá như bệ hạ sớm xưng đế thì hay biết mấy.”
Nàng nói chuyện cố ý lộ ra mấy phần giọng quê đất Tịnh Châu, hiển nhiên là muốn Nữ hoàng nể tình đồng hương, sinh chút cảm tình với mình.
Nói xong, cũng có vài tiểu nương tử ở bên phụ họa.
Nào ngờ trên mặt Nữ hoàng chẳng còn nụ cười: “Trẫm đăng cơ trước đó, cùng tiên đế song thánh đồng trị, cùng nhau cai quản thiên hạ hơn ba mươi năm, quốc sách tám chín phần đều do ý trẫm mà ra. Trước kia thi hành chính sự là trẫm, sau này cũng vẫn là trẫm, ngươi lại dám nói ‘hơn trước triều mười phần trăm phần’ ư? Hừ, ăn nói hàm hồ, lộng ngôn loạn ngữ! May cho ngươi chẳng phải là triều thần của trẫm, bằng không tất phải trị tội khi quân vọng ngôn không tha!”
Lục tiểu nương tử sợ đến toàn thân mềm nhũn, hai chân run rẩy, “phịch” một tiếng quỳ rạp xuống đất, liên tục cao giọng kêu: “Thần nữ tội đáng muôn chết, xin bệ hạ tha mạng!”
Cù Tùng Phong lập tức gọi người lôi nàng ra ngoài nhốt ở Dương Thánh lư. Những tiểu nương tử vừa rồi phụ họa theo nàng đều sợ đến mặt mũi trắng bệch như đất, run rẩy không ngừng.
Phàn Mậu Nương lắc đầu thầm thở dài, những cô gái này rốt cuộc vẫn còn non dại, thường ngày tự phụ tài cao, e rằng đến giờ mới biết cái gọi là bầu bạn cùng quân vương như cùng hổ.
Trong điện lúc này, đám thiếu nữ chẳng còn hứng khởi như vừa rồi, từng người im thin thít, như chim sẻ co ro trong gió rét, chỉ cầu không phạm sai lầm.
Người thứ ba lên tâu đáp là Đoàn tiểu nương tử đến từ Tây Nam. Nàng rón rén nói: “Bẩm bệ hạ, trước và sau khi người đăng cơ, châu quận thôn dã cũng chẳng có gì đổi khác, hết thảy như thường.”
Nữ hoàng vẫn chẳng vừa lòng: “Trẫm lấy thân nữ nhi mà đăng cực, sớm khuya miệt mài khổ tâm hơn chục năm, cuối cùng trong mắt ngươi lại chỉ là ‘hết thảy như thường’ thôi ư? Hừ, lui xuống!”
Đoàn tiểu nương tử gần như òa khóc, toàn thân rã rời để mặc người kéo xuống.
Phàn Mậu Nương khổ cười trong lòng: Nữ hoàng để lên được ngôi chí tôn, suýt nữa khiến hai kinh thành máu chảy thành sông, tông thất Lệ thị bị tàn sát chẳng còn mấy, thế mà nay chỉ nhận lại một câu hết thảy như thường, thật đáng than thở.
Bùi Thứ Chi khẽ nhíu mày: “Bệ hạ hỏi thì hỏi, cần gì dọa nạt những tiểu nương tử ngây ngô này đâu.”
Nữ hoàng liếc xéo sang: “Đó là cháu ngoại của khanh chắc?”
“Cũng không hẳn.”
“Vậy thì ngậm miệng cho trẫm! Mậu Nương, bảo bọn họ tiếp tục lên đáp lời!”
Sau đó lại có vài tiểu nương tử bị điểm danh, nhưng Nữ hoàng đều chẳng vừa ý—
Người đáp “trước sau đăng cơ, quê nhà có chút đổi khác”, bị mắng là mánh mung ứng phó;
Người đáp “tiểu nữ chỉ một lòng đọc sách, chẳng biết việc ngoài cửa sổ”, bị chửi là mọt sách, đọc bao nhiêu cũng vô ích;
Kẻ thật thà nói mình ngu dốt “không rõ ý nghĩa”, thì bị trách là không đáng để trọng dụng…
Trong Dương Thánh lư khói lửa căng thẳng, gương mặt Nữ hoàng phủ sương lạnh, mồ hôi lạnh tuôn ròng ròng khắp điện.
Nịnh bợ ca tụng không được, nói rằng sau khi đăng cơ tệ hơn dĩ nhiên càng không được, bảo rằng tốt hơn nhiều cũng không được, nói y như cũ cũng không được, thậm chí nói có thay đổi đôi chút vẫn không được, ngay cả nói không biết cũng chẳng được!
Vậy rốt cuộc nên đáp thế nào?
“Xong rồi, xong rồi, đến lượt ta mất thôi!” Dư Xảo Nương sợ đến tay chân lạnh buốt, hơi thở dồn dập.
Lâm Mạt Tử cắn môi: “Cô tránh ra sau ta, ta lên đáp.”
“Cô biết phải nói gì không?”
“Không biết, cùng lắm thì chịu một trận mắng.”
Vương Hòa Vi hít sâu một hơi: “Hay để ta đi, dẫn vài lời đại đạo của Khổng Mạnh Trang Mặc, thế nào cũng qua được.”
“Các tỷ đi cũng chẳng ích gì đâu.”
Trầm mặc hồi lâu, Lư Hội bỗng lên tiếng: “Chỉ cần bệ hạ không vừa lòng, tất sẽ tiếp tục điểm người đáp, sớm muộn cũng đến lượt Xảo Nương thôi — để muội thử xem.”
–
Thấy Lư Hội vượt qua ba thiếu nữ, tự mình bước ra trước, đồng tử Bùi Thứ Chi khẽ co lại. Liên tiếp mấy người đáp sai khiến Nữ hoàng đã cực kỳ bất mãn, giờ cho dù cô có ăn nói khuôn phép, e cũng khó tránh cơn giận của Nữ hoàng vạ lây.
Ngốc nghếch, con chim cút ngu xuẩn, chẳng biết khi nào thì nên nấp, lại cứ đâm đầu ra trước.
Đang lo lắng, chàng liền để ý thấy Ngụy Quốc phu nhân bên cạnh dường như hơi hơi thẳng lưng.
Lư Hội bắt đầu tấu đáp: “Tiểu nữ nguyên quán Sa Châu, cách hai đô thành nghìn dặm. Tin bệ hạ đăng cực truyền đến Sa Châu, đã là cuối năm Phượng Lâm thứ hai. Mãi đến khi bệ hạ phát binh thu phục bốn trấn An Tây năm Phượng Lâm thứ năm, dân quê mới biết rõ sự tình.”
Nữ hoàng hừ khẽ: “Nói những chuyện ấy để làm gì?”
Lư Hội gắng gượng bình tĩnh: “Xin bệ hạ cho phép tiểu nữ nói tường tận. Năm Phượng Lâm thứ bảy, gia phụ ra ngoài xem xét lâm trường, bởi đường xa vạn dặm, nửa năm vẫn chưa trở về, vì thế mọi người đều đồn đãi cha đã… đã chết nơi đất khách.”
Nghĩ lại nỗi kinh hoàng thuở bé, lòng cô vẫn run sợ.
Chồng mất, nữ nhi còn nhỏ, chỉ còn quả mẫu gánh vác — Nữ hoàng rốt cuộc cũng lắng nghe, chống tay lên lan can.
“Bấy lâu nay, cha vốn làm hội chủ của thương hội ngựa địa phương. Thấy cha mãi chẳng về, đồng liêu liền muốn bầu người mới. Khi ấy mẹ bèn đề nghị do mình thay phu quân đảm đương. Các bậc trưởng bối trong hội đều không đồng ý, miệng nói từ xưa tới nay nào có chuyện nữ nhân làm hội chủ.
Mẹ nói, trước đây hội chủ tuy là cha, nhưng việc vụ thường ngày đều do bà xử lý, bình ổn giá ngựa, phân kênh thủy nguyên, chống dịch ngựa, phân giải tranh chấp mục trường, việc nào việc nấy đều hết lòng hết sức, công bằng chính trực, mọi người đều biết. Nếu chư vị thúc bá không đồng ý để bà làm hội chủ, vậy xin hãy chỉ ra những năm qua bà có chỗ nào không thỏa đáng. Bằng không, chỉ vì bà là nữ nhân mà không chịu tiếp nhận, thì hãy mời quan phủ đến phân xử — nữ tử còn có thể làm đến ngôi hoàng đế, cớ sao lại chẳng thể làm hội chủ các ngươi!”
Giọng thiếu nữ run run, chẳng rõ vì e sợ trước Nữ hoàng, hay do hồi tưởng chuyện xưa mà xúc động.
“Hay lắm!” Nữ hoàng lớn tiếng khen, “Còn nữa không, nói tiếp đi.”
Thấy vậy, Phàn Mậu Nương khẽ thở ra, quanh đó mọi người cũng mới dám thở phào.
“Còn nữa.” Lư Hội lấy hơi: “Đông thành có nhà họ Ngô, nghề dệt nhuộm lừng danh gần xa. Khi gia chủ qua đời, dưới gối chỉ còn hai nữ nhi. Ai cũng biết Ngô đại nương tử tháo vát cứng cỏi, song trưởng bối trong tộc cứ nhất quyết muốn đưa cháu trai trong họ đến kế thừa gia nghiệp, bảo rằng đó là quy củ trăm năm. Việc này từ đầu năm tranh cãi tới cuối năm, mãi đến khi tin bệ hạ đăng cực lan truyền trong dân, tộc lão mới thôi không náo loạn nữa, đồng ý để Ngô đại nương tử kén rể về làm chủ nhà.”
“Những năm gần đây, từ trị sở đến thôn dã, khắp bản châu dần dần xuất hiện không ít nữ tộc trưởng, nữ đương gia. Điều ấy trước kia hoặc là chuyện quái lạ khó tin, hoặc như phượng hoàng lông đơn, chỉ thoáng qua rồi tan biến.”
“Từ khi bệ hạ đăng cực tới nay, cho dù là thuế khóa, sưu dịch, biên phòng, trị quan, hay việc chánh sự của nha môn, đều vẫn như một, thực sự chẳng khác biệt bao nhiêu. Cái đổi thay thực sự, chính là lòng người, là cách thế nhân nhìn nhận nữ tử.”
“Khắp dưới gầm trời, ngay cả những nữ tử xuất thân hàn môn nơi biên thành xa xôi Sa Châu, cũng có thể thụ hưởng ân trạch dư thừa của bệ hạ. Xin bệ hạ cho phép tiểu nữ thay mọi người dập đầu tạ ơn.”
Nói đoạn, thiếu nữ cung kính quỳ xuống, nâng cánh tay hướng về Nữ hoàng dập đầu một cái, rồi mới đứng lên.
Trong điện Ngưỡng Thánh không ai mở lời, phảng phất như bầu không khí trong lành tươi sáng sau một trận mưa rào.
Phàn Mậu Nương cùng Cù Tùng Phong đều mỉm cười nơi khóe môi, Ngụy Quốc phu nhân thì ngơ ngẩn nhìn thiếu nữ phía dưới, chẳng rõ trong lòng nghĩ ngợi điều chi.
Mãi lâu sau, Nữ hoàng mới chậm rãi cất tiếng: “Về sau phụ thân ngươi đã trở về nhà chưa?”
Trong lòng Lư Hội dâng lên một thoáng ấm áp, không ngờ Nữ hoàng còn hỏi tới việc này. Cô vui mừng đáp: “Đã về rồi ạ, lại còn mang về một mẻ gỗ lim thượng hạng.” — Chỉ là vì để người ta đợi sốt ruột quá mà bị Tạ Ngọc Phù đánh cho một trận nên thân.
Nữ hoàng than rằng: “Mẫu thân ngươi rốt cục cũng có thể buông xuống gánh nặng ngàn cân rồi.”
Lư Hội nói: “Chưa đâu ạ, phụ thân nói mẹ lúc này làm hội thủ rất ổn thỏa, hẳn nên tiếp tục giữ cương vị, mãi đến năm năm trước mẹ sinh tiểu muội, mới lại giao trả chức hội thủ về tay phụ thân. Nhưng tiểu nữ nghĩ, mai sau dẫu phụ thân lại phải xuất viễn môn, cũng chẳng ai phản đối mẹ chủ quản hành hội ngựa nữa.”
Nữ hoàng khẽ mỉm cười: “Nhà ngươi như vậy thật tốt, phụ từ mẫu ái, phu thê đồng tâm.”
Một lát sau, nàng ngoảnh đầu nhìn Bùi Thứ Chi: “Là cô bé ấy phải không?”
Sắc mặt Bùi Thứ Chi hơi phức tạp:
“… Là cô ấy.”
Nữ hoàng lại hướng về Ngụy Quốc phu nhân: “Đứa trẻ này có gan dạ, có kiến thức, trẫm rất ưng ý, lại là người nhà của Nhược Trạm, đủ để tín nhiệm. Chi bằng vào cung, làm trợ thủ cho Tuệ Nhi đi.”
Ngụy Quốc phu nhân dịu giọng nói: “Thần phụ xin nghe theo ý bệ hạ.”
Cái gì?!
Lư Hội kinh hãi, bốn bề tức thì dấy lên vô số ánh mắt vừa hâm mộ vừa ghen ghét dòm tới.
–
Đêm xuống, phủ Bùi, trong phòng Lư Hội.
Trong phòng nến cháy sáng rực, ngoài sân Đàm Tử Liệt suất chúng thủ vệ.
“… Tôi mong về sau thiếu tướng đừng có tự cho mình thông tuệ nữa. Việc nào tôi cần biết, thà nói sớm với tôi thì hơn.” Lư Hội ôm lấy bát quả tử lộ, một hơi uống quá nửa, rồi quệt miệng, oai phong vô cùng.
“Ngẫm mà xem, nếu chẳng phải tôi đủ trí khôn, sớm đã lúng túng tay chân rồi! Rõ ràng cần phải lấy lòng, thân cận là Ngụy Quốc phu nhân, kết quả tôi lại một mực chỉ chăm chăm nhìn bệ hạ, đến giờ còn chưa nhận rõ được dung mạo Ngụy Quốc phu nhân thế nào.”
“Ấy, sao người chẳng nói gì vậy.” Đắc ý cả nửa buổi, Lư Hội mới phát giác ông cậu giả vẫn luôn im lặng.
Bùi Thứ Chi xoay cổ tay, lại rót đầy quả tử lộ cho cô: “Lần này là ta tính toán sơ suất, liên lụy tới cô. Nếu hôm nay cô cũng bị bệ hạ quở trách, thì ấn tượng của Ngụy Quốc phu nhân với cô át hẳn bị ảnh hưởng. Nhưng cô cũng cần cẩn thận, chớ như hôm nay, mở miệng bừa bãi, nếu bị người ta chỉ thẳng mặt, ấy là tội khi quân đấy.”
Lư Hội chẳng hiểu: “Cái gì gọi là mở miệng bừa bãi?”
Bùi Thứ Chi đặt chén xuống, lạnh lùng nói: “Cô cho rằng ta chưa từng tới Sa Châu thì chẳng biết gì ư? Năm cơ sở dệt lừng danh nhất Sa Châu không hề mang họ Ngô, đừng nói với ta rằng Ngô đại nương dời nhà.”
Lư Hội đưa ngón tay ngọc nõn lắc lắc: “Không phải dời nhà, mà là đổi nhà.”
Bùi Thứ Chi nhướng mày: “Chẳng phải vẫn nói Ngô đại nương lanh lợi đảm đang sao?”
Lư Hội đáp: “Khi phụ thân bà ta còn làm gia chủ lang quân, tự nhiên ai nấy đều tâng bốc bà ta đảm đang. Phụ thân tôi sớm nhìn ra Ngô đại nương lanh lợi thì thừa, tinh tường lại chẳng đủ. Do trong tộc từng có xích mích với bà ta, nên bà ta chẳng thể tin cậy tộc nhân, trái lại đưa hết thúc bá huynh đệ của gã trượng phu làm rể vào quản xưởng dệt nhuộm. Vài năm ngắn ngủi, xưởng dệt liền đổi chủ. Hồi trước, gã trượng phu ấy còn rêu rao đòi nhận tổ quy tông nữa kìa.”
Bùi Thứ Chi không ngờ là vậy: “Gã trượng phu ấy nhân phẩm thấp kém, lại có thể bội nghĩa thất tín đến mức ấy.”
Lư Hội thì chẳng lấy làm giận: “Có gì đâu, mẹ tôi thường bảo, nữ tử gây dựng sự nghiệp vốn dĩ như chèo ngược dòng, kẻ chẳng có bản lĩnh thì sớm muộn cũng hiện nguyên hình. Như Ngô đại nương kia, dẫu là nam nhân, cũng bị kẻ khác lừa mất gia sản mà thôi. Ngược lại, muội muội bà ta là Ngô nhị nương, mấy năm trước tách ra lập riêng, mới đây thừa lúc nhà họ Ngô gà bay chó sủa, kéo về hơn chục lão thợ giỏi, xưởng nhỏ của nàng nay đã có quy mô ra trò. Mẹ tôi bảo, chính bà ấy mới là nhân vật đáng để nói.”
Bùi Thứ Chi thấy thú vị: “Sao cô không đem những lời này nói với bệ hạ?”
“Tôi ngốc chắc, dỗ người tất phải chọn điều họ ưa nghe mà nói chứ!” Đôi mắt thiếu nữ tròn xoe, hệt con mèo vằn đắc ý đáng yêu, “Ngô đại nương nhờ vào thế bệ hạ đăng cực mà được làm gia chủ, cuối cùng lại đem cả cơ nghiệp tổ tiên dâng cho gã trượng phu, lời này bệ hạ nghe nổi sao?”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Bộ dạng này của cô, không đi làm nịnh thần thì phí lắm.”
Chàng thuận tay nhéo nhẹ chóp mũi hơi hếch của cô.
Lư Hội ngượng ngập xoa mũi mình: “Tôi biết trong mắt thiếu tướng, tôi chẳng có chỗ nào nên thân.”
Không ngờ Bùi Thứ Chi lại lắc đầu: “Không, cô chẳng những không phải vô dụng, mà còn nhiều lần khiến ta phải nhìn bằng con mắt khác. Trước kia là ta coi thường cô, hôm nay ta xin tạ lỗi.”
Lư Hội kinh ngạc.
Mắt chàng như làn sóng trong, chân thành lại dịu dàng: “Tuy cô tính tình thẳng thắn, nhưng thường ứng biến linh hoạt, ý nghĩ độc đáo, tự mình nghĩ ra được giải pháp tối ưu. Hội Hội, cô xứng với bốn chữ thông tuệ linh tú.”
Lư Hội bị khen đến đỏ bừng đôi má, khẽ nghiêng đầu, giọng thì thào: “Nhưng cũng… chẳng đến mức hay như người nói. Thực ra thiếu tướng người cũng liệu sự như thần, vẫn luôn đối xử với tôi rất tốt…”
Bùi Thứ Chi tiếp lời: “Chỉ là với hôn sự thì có phần quá khinh suất, hở chút lại tự định chung thân, liên tiếp ba lần bị người đòi đánh đòi giết, quả thực chẳng thỏa đáng.”
Lư Hội: “…”
Bùi Thứ Chi: “Vừa rồi cô nói gì thế?”
Lư Hội: “Không có gì hết. Cứ coi như tôi chưa nói gì.”
Đôi mắt sao sáng ngời của Bùi Thứ Chi ánh lên nét cười, chống tay lên bàn khẽ bật tiếng cười khúc khích.
Thiếu nữ quay đi giận dỗi — rõ ràng là chàng đã nghe thấy cả.
“Được rồi, quay về chính sự thôi.” Bùi Thứ Chi kéo vành tai cô, ép thiếu nữ đối diện với mình, “Lời bệ hạ cô cũng nghe rồi, ý cô sao? Vào cung, hay ở lại học quán?”
Lư Hội lấy làm lạ: “Bệ hạ đã mở miệng, lẽ nào tôi còn không vào cung?”
“Được, ta có thể tâu rằng cô có bệnh.” Bùi Thứ Chi kiên quyết, “Ý tứ chính là ta không muốn cô vào cung, bệ hạ hiểu ra, tất sẽ xóa bỏ ý định.”
Lư Hội trầm ngâm suy nghĩ, bỗng hỏi: “Ngụy Quốc phu nhân thường nhập cung phải không?”
Bùi Thứ Chi thoáng ngần ngừ: “Đúng thế. Mỗi tháng ít nhất hai lượt, bệ hạ lại còn thường sai người đem mật chiếu tới phủ Ngụy Quốc phu nhân.”
Lư Hội dứt khoát nói: “Vậy tôi vào cung thôi.”
Bùi Thứ Chi sửng sốt: “Ta tưởng cô còn luyến tiếc bằng hữu mới quen.”
Lư Hội thở dài, ra dáng người lớn: “Bằng hữu là bằng hữu, học quán là học quán. Sau này tôi sẽ tìm họ mà hàn huyên, chứ học quán, tôi chẳng thể ở lại thêm nữa.”
Buổi sáng tấu đối xong, Nữ hoàng rất nhanh đã hồi cung, chung quanh lập tức dấy lên những tiếng thì thầm bàn tán cùng ánh mắt dò xét.
“…Thật lợi hại, người khác đều không đáp được, chỉ có nàng ta có bản lĩnh.” — Đây là phái chua ngoa cay nghiệt.
“Trốn mãi đến cuối mới ra trả lời, há chẳng phải đã mượn hết tinh hoa của kẻ khác rồi sao. Thật đáng thương cho Trần muội muội, Lục muội muội, không phải đã bị nàng ta giẫm làm bậc thang ư.” — Đây là phái đảo lộn đen trắng.
“Thường ngày thấy bốn người bọn họ cùng ra cùng vào, còn tưởng phúc họa đồng hưởng. Nào ngờ đến trước mặt Nữ hoàng lại chẳng hề nâng đỡ bằng hữu, chỉ biết riêng mình hưởng vinh hoa phú quý.” — Đây là phái khiêu khích ly gián.
“Chẳng chừng là thiếu tướng sớm đem đề của Nữ hoàng tiết lộ cho nàng ta rồi. Bằng không, chỉ dựa vào nàng ta ư? Hừ! Ngay cả nhập học cũng nhờ những thủ đoạn chẳng thể lộ ra ánh sáng, thì lấy đâu ra dũng khí kiến thức!” — Đây là phái nghi thần nghi quỷ.
Lần này ngay cả các sư tỷ nhập học từ hai năm trước cũng nhập bọn, hơn hẳn cuộc phong ba nhập học lần trước, dù Lâm Mạt Tử tức giận ra tay cũng không ngăn nổi.
Lư Hội lại thở dài: “Tôi biết, thực ra qua một thời gian rồi cũng chẳng còn ai bàn tán nữa; tôi cũng biết, trong học quán chẳng phải ai cũng vậy. Nhưng tôi thật sự đã chán ngán rồi.”
Bùi Thứ Chi thản nhiên nói: “Trước kia ta đã từng bảo, học quán yên tĩnh là bởi lợi ích ít. Một khi có dính dáng đến lợi hại thì cũng chẳng yên đâu.”
Lư Hội chợt nghĩ: “Khoan đã, nếu vậy, trong cung chẳng phải càng khó ở hơn sao? Chốn trung tâm quyền lực, biết đâu có bao nhiêu âm mưu thủ đoạn đang chờ tôi.”
“Lại sai rồi.” Bùi Thứ Chi ánh mắt sắc bén, “bốp” một tiếng vỗ bàn, “Ta nói cho cô biết, miếu nhỏ yêu phong dữ, ao cạn thì rùa nhiều. Càng là chút lợi nhỏ nhặt, càng có kẻ bon chen tranh giành không dứt. Ngược lại, khi đã lên tới đỉnh núi, ở giữa mây trời, sẽ không còn bao kẻ tính toán so đo.”
“Miếu nhỏ yêu phong dữ, ao cạn thì rùa nhiều” — mười chữ này quả thật nói trúng tâm can Lư Hội.
Thuở đầu ông cậu giả bắt cô vào học quán ầm ĩ một trận, vốn là muốn cô lấy thế áp người, lấy một chọi trăm, đem kẻ ra mặt lần lượt đánh cho đầu rơi máu chảy, khiến họ triệt để hiểu rõ chênh lệch quyền thế, sau khi ác danh lan xa thì lại chẳng còn ai dám chọc vào mình nữa.
Song cô không chịu nghe, trái lại còn cùng Lâm Mạt Tử vì đánh mà quen, tiếp tục hòa khí với người khác.
Lư Hội lần thứ ba than thở: “Thế thì vào cung thôi.” Suy cho cùng, cô đến là để báo ân hoàn nhiệm, nào phải để kết giao bằng hữu.
“Nữ hoàng có nói, sẽ để Đoan Mộc Xá Nhân khảo hạch trước, nghĩa là sao?” Cô hỏi.
Bùi Thứ Chi mỉm cười đáp: “Đoan Mộc Xá Nhân là tâm phúc theo Nữ hoàng mấy chục năm, bà ta đa học đa tài, tinh tường văn bút, kinh sử tử tập không gì không thông. Nếu cô qua được khảo hạch, có thể theo hầu bên cạnh Nữ hoàng; nếu không qua, thì trước hết sẽ ở thư phòng nội điện làm việc, sắp xếp sách vở văn tập này nọ.”
Lư Hội gật đầu: “Thế thì tôi cứ làm việc trong thư phòng trước, dù sao cũng quen sắp đặt sách vở rồi.”
“Không có chí khí.” Bùi Thứ Chi cười mắng, “Đã vào cung thì tự nhiên phải hầu cận bên Nữ hoàng. Cô cứ yên tâm, Đoan Mộc Tuệ muốn khảo cái gì ta đều biết, tất cả ta sẽ chuẩn bị thỏa đáng cho cô.”
Lư Hội bất đắc dĩ: “Cậu lại muốn thay tôi gian lận sao?” Thật là một ngày gian lận, cả đời gian lận, biết đến bao giờ mới hết đây.
“Đừng nói khó nghe như thế.” Bùi Thứ Chi xoa mái tóc mai của cô, “Chỉ là đi một vòng thủ tục mà thôi.”
–
Trở về thư trai, Lão Tống vội bước lên: “Hội nương thật sự muốn vào cung sao? Chốn cung đình hiểm trá, chẳng biết Hội nương có ứng phó nổi không.”
Khóe môi Bùi Thứ Chi điểm nụ cười: “Cứ yên tâm, trong mắt Nữ hoàng không dung hạt cát, không cho phép bên mình có chút âm tư thủ đoạn, huống hồ còn có Ngụy Quốc phu nhân trông coi. Chỉ cần Hội Hội được Nữ hoàng thương mến và tín nhiệm, ngày tháng trong cung so với học quán dễ chịu hơn nhiều.”
Lão Tống vuốt râu: “Cũng đúng, Đoan Mộc Xá Nhân ở trong cung mấy chục năm đều bình yên vô sự.”
“Không chỉ Đoan Mộc Tuệ.” Bùi Thứ Chi bắt đầu trải giấy hạ bút, “Năm xưa Nữ hoàng gần như tận tâm chiếu cố phu nhân Ban cho đến hơi thở cuối cùng, sau đó lại ân cần trông nom Phàn quán chủ. Còn An phu nhân giã từ sự nghiệp khi đang trên đỉnh vinh quang, Nữ hoàng hiểu bà ấy muốn chuyên tâm nuôi dưỡng độc tử nên dứt khoát cho bà rời đi; bao năm qua ân thưởng hậu hĩnh không ngớt, khiến mẹ con bà ở nguyên quán sống những ngày an nhàn phú quý. Lại nhìn Ngụy Quốc phu nhân, tiên sinh thấy Nữ hoàng tín nhiệm bà ta đến bậc nào?”
Lão Tống than: “Nữ hoàng đối đãi những nữ tử tận lực vì mình còn tốt hơn cả đối với triều thần.” Quân chủ dùng văn thần võ tướng chẳng khác nào lúa non, gặt hết lượt này lại đến lượt khác, nhưng đối với nữ thần thuộc lại thâm tình nồng hậu.
Bùi Thứ Chi vừa viết vừa nói: “Ta vốn không định để Hội Hội trong cung làm tai mắt, cũng không để cô ấy thay ta tiến ngôn với Nữ hoàng. Tóm lại cô ấy không cần làm bất cứ việc gì có rủi ro, chỉ cần nhiều lần gặp gỡ Ngụy Quốc phu nhân là được. Chờ đến khi đại sự phát động, ta sẽ để cô ấy mang theo ân thưởng của Nữ hoàng, yên ổn rời cung về nhà.”
Lão Tống bật cười: “Thiếu tướng quả thật an bài cho Hội nương chu toàn vô cùng.”
Ông nhìn thiếu niên vung bút như bay, “Nếu Hội nương đã muốn vào cung, sao thiếu tướng lại viết công khóa thay cô ấy?”
Bùi Thứ Chi chau mày: “Hội Hội hiện nay ngày ngày đều chăm chỉ đọc sách, công khóa tận lực tự mình hoàn thành, tiên sinh đừng luôn nói như vậy, cô ấy nghe thấy sẽ đau lòng.”
“Vậy thiếu tướng đang viết gì?”
“Ngày mai Đoan Mộc Tuệ sẽ khảo văn chương của Hội Hội.”
Lão Tống: “…”
Lão Tống: “Thay khảo với thay viết công khóa có gì khác biệt?”
“Đương nhiên khác.” Bùi Thứ Chi gắng gượng biện bạch, “Giờ ta không rảnh giải thích, sau này sẽ nói.”
Tác giả có lời muốn nói:
Tên khác của chương này: 《Từ thay viết công khóa đến thi thay — con đường gian lận tiến giai của Bùi Thiếu tướng》
