Chương 34: Vụ án nhỏ về việc tham nhũng đá xây
*
“Quỳ nửa gối, miệng xưng vạn phúc, ánh mắt hơi hạ xuống, đừng trừng mắt, phải nhu hòa, nhã nhặn, uyển chuyển, đoan trang. Nâng tay chậm thôi, cử động mạnh mẽ thế kia là định liều mạng với người ta à…”
Lư Hội nghe theo lời chỉ dẫn của Bùi Thứ Chi, y phục chỉnh tề, đối diện với chiếc ghế trống mà tập hành lễ.
Vốn dĩ Bùi Thứ Chi định để cô tập trực tiếp với chàng, nhưng bị cô cự tuyệt thẳng thừng, nên đành ngồi sang chiếc ghế dựa bên cửa sổ.
“Tháo bộ trâm cài phất liễu xuống, thay bằng đôi trâm kép và hoa vàng bảo điền, cây lược ngọc thì giữ lại.” Bùi Thứ Chi dặn dò tỳ nữ.
Lư Hội giữ lấy viên châu ngọc phỉ thúy lủng lẳng bên má, nói: “Vì sao? Không phải chính người đã chọn cho tôi sao, còn bảo là ‘thanh lệ quý trọng, rất là vừa vặn’ kia mà.”
Bùi Thứ Chi nói: “Người ta là tiểu thư khuê các, dù bước nhanh đến đâu váy áo cũng chẳng phát ra tiếng. Còn cô thì sao? Chỉ mỗi cái lễ vạn phúc mà trâm cài lắc lư đến mức như sắp bỏ chạy thoát thân rồi.”
Lư Hội đỏ mặt: “Vậy… vậy để tôi luyện lại.”
Bùi Thứ Chi không nói thêm, chỉ phất tay, bảo tỳ nữ mang đến một tấm gương bạc cao nửa thân người đặt trước mặt cô, để cô tự xem động tác mình cứng nhắc đến thế nào.
“Sau khi vào cung, gặp cung nhân thường thì chỉ cần hành lễ gật đầu là được. Nếu là những cung nhân lớn tuổi, phải lễ phép hơn một chút, dùng lễ vạn phúc để tỏ khiêm nhường. Còn nếu gặp Đoan Mộc Huệ Cù đại giám — người có chức vị và quyền thế cao, thì tốt nhất nên hành lễ thiên diêu trước. Sau này quen thân rồi, họ cũng sẽ không bắt cô cứ cúi lạy suốt đâu…”
Nghe chàng nói thao thao bất tuyệt, Lão Tống từ ngoài cửa bước vào, vẻ lo lắng: “Lúc này mới vội vàng học, e là không kịp đâu. Hay là đợi đến khi Hội nương nắm vững quy củ rồi hãy vào cung thì hơn.”
Bùi Thứ Chi khẽ cười: “Tiên sinh không cần lo. Nay bệ hạ không có phi tần ở bên, cũng chẳng có hoàng tử, công chúa nào nơi gối, trong cung ngoài những mệnh phụ được phong, cô ấy chỉ cần gặp Ngụy Quốc phu nhân và công chúa Vĩnh Ninh là cùng.”
Chàng quay sang nói với Lư Hội: “Công chúa Vĩnh Ninh tính tình phóng khoáng, không câu nệ lễ nghi, giống như bệ hạ, nếu không cần thiết thì khỏi phải quỳ lạy, chỉ cần hành lễ túc bái hoặc thiên diêu là được.”
Lư Hội cố ghi nhớ từng lời một.
Lão Tống lại hỏi: “Nếu Hội nương gặp người nhà họ Chử thì sao?”
Bùi Thứ Chi nhàn nhạt đáp: “Ta xem thử xem, kẻ mang họ Chử nào dám làm khó cô ấy.”
Lão Tống thầm nghĩ, người đã nắm trong tay bao nhiêu nhược điểm của đám thân vương Chử thị, xem ra quả thật chẳng cần phải lo ngại nữa rồi.
Bùi Thứ Chi hỏi: “Tiên sinh đến có việc gì?”
Vốn dĩ Lão Tống ưa đọc sách ban đêm, quen thức khuya dậy muộn, giờ này chỉ mới tờ mờ sáng, theo lẽ ra phải đang say ngủ.
Lão Tống đáp: “Thiếu tướng, mời ra ngoài nói đôi lời.”
Hai người ra khỏi phòng, Lão Tống dâng lên một phong thư có ấn kín dấu ngầm: “Thiết Lặc vừa mới gửi đến.”
Bùi Thứ Chi mở thư ra xem, khóe môi khẽ nhếch, lộ ra một nụ cười: “Trang Hoài Trinh rốt cuộc cũng đã điều tra rõ mọi chuyện, lại còn có cả nhân chứng, vật chứng trong tay. Hôm qua, trước khi giới nghiêm, ngài ấy đã trở về thành. Hai ngày tới chắc sẽ vào cung cầu kiến bệ hạ.”
Lão Tống than: “Quả đúng như thiếu tướng dự liệu. Trang đại nhân vốn trung trực, cương nghị, hẳn sẽ tra đến cùng. Đến khi việc vỡ lở, bệ hạ tất sẽ nổi giận lôi đình. Chi bằng để Hội nương vài ngày nữa hẵng vào cung.”
Bùi Thứ Chi khẽ nhếch môi, giọng điệu khinh bạc: “Nổi giận lôi đình ư? Mới bắt đầu thôi, món chính còn ở phía sau kìa.”
–
Trời vừa sáng, Bùi Thứ Chi đã đến Chính sự đường điểm danh, vùi đầu xử lý công vụ chừng một canh giờ. Tính thời gian vừa khéo, chàng liền ra ngoài cửa cung đón Lư Hội, rồi cùng nàng trình thẻ bài mà vào.
Vừa đi, chàng vừa dặn dò: “Trước tiên ta sẽ dẫn cô đến bái kiến bệ hạ, sau đó qua chỗ Đoan Mộc Huệ làm thủ tục một lượt, rất nhanh sẽ xong thôi. … Đây chính là Hành cung Đông Đô đấy, nhìn đi, đừng há miệng ra thế, nước dãi sắp chảy rồi.”
Lư Hội vội khép miệng lại, tức giận đấm cho ông cậu giả một quyền, dùng đến bảy phần sức lực, đủ để nhấc cả đỉnh đồng, thêm một con trâu nữa.
Bùi Thứ Chi chẳng mảy may để ý, ngược lại còn cười rạng rỡ, nét mặt sáng như gió xuân.
Dọc đường, Lư Hội nhìn đâu cũng thấy lạ mắt, không biết mỏi.
Quảng trường rộng rãi, cổ thụ che trời, cung điện bốn phía cao rộng, thanh nhã. Cửa cung tầng tầng lớp lớp, bậc thềm ngọc trắng xóa; ánh sáng mùa đông rọi xuống lớp tuyết đầu mùa, những mái ngói lưu ly vàng rực phản chiếu lấp lánh, tựa như cõi mộng hư ảo.
Cô bất giác thở dài cảm thán cho vận mệnh đổi thay khôn lường của đời mình — từ chốn biên thành hẻo lánh mà đến, còn chưa kịp dạo hết thành Lạc Dương, nay đã được tận mắt thấy toàn cảnh hoàng cung rồi.
“Đại Minh cung ở Trường An còn hùng vĩ hơn thế này. Sau này ta sẽ dẫn cô đến Tam Thanh điện dâng hương, khấu bái chân tiên tổ sư.”
Giọng Bùi Thứ Chi điềm nhiên như gió thoảng, những nơi thâm cung cấm địa qua lời chàng lại tựa như câu nói tùy ý: “Sau này dẫn cô đi chợ ăn mì thịt dê.”
Lư Hội chẳng biết gì, cũng chẳng dám hỏi, chỉ ngoan ngoãn bước theo.
Băng qua hai con ngõ cung và một sân trung đình rộng lớn, dọc đường còn gặp vài nhóm cung nhân bận rộn và một đội Thị vệ Hổ Bí tuần tra. Thấy họ hành lễ với Bùi Thứ Chi, Lư Hội cũng lặng lẽ quỳ gối đáp lễ.
Đội Thị vệ Hổ Bôn ấy có người dẫn đầu là một viên tiểu tướng trẻ chừng hơn hai mươi, họ Triệu, tên một chữ là Vọng. Nói năng với người vừa thân mật vừa hoạt bát, dáng dấp tuấn tú sáng sủa, những thị vệ đi sau dường như cũng rất quý mến hắn.
Không hiểu vì sao, Lư Hội luôn cảm thấy bóng dáng và cử chỉ của vị Triệu tiểu tướng quân kia có chút quen mắt, như thể đã từng gặp ở đâu rồi.
Vào đến Phụng Nghi Các, Cù Tùng Phong đưa hai người họ đến tòa điện bên cạnh.
Bùi Thứ Chi lấy làm lạ: “Đoan Mộc Xá Nhân đâu? Mấy việc như thế này xưa nay đều do y phụ trách kia mà.”
Cù Tùng Phong khẽ cười khổ: “Đoan Mộc Xá Nhân vào thư khố tìm cho bệ hạ một bức Sơn Hà đồ rồi.”
Bùi Thứ Chi lập tức nhạy bén hỏi: “Xảy ra chuyện gì rồi?”
Cù Tùng Phong nhìn quanh bốn phía, hạ thấp giọng: “Sáng sớm nay, vừa hửng đông đã có mật tấu khẩn của Trang đại nhân Hoài Trinh được đưa đến. Bệ hạ xem xong vô cùng giận dữ, thiếu tướng xin cẩn thận cho.”
Nghe tới đây, Lư Hội nhận ra trên mặt Bùi Thứ Chi hiếm khi hiện lên một thoáng biến sắc.
Đến cửa điện, Cù Tùng Phong đi vào trước để thông báo.
Bùi Thứ Chi khẽ lẩm bẩm: “Không ngờ lại nhanh đến thế… hẳn là cả đêm viết tấu chương.”
Lư Hội xen lời hỏi: “Cái gì mà nhanh thế?”
Bùi Thứ Chi trừng mắt: “Trẻ con không được hỏi nhiều.”
Bước vào trong tòa điện nhỏ, Lư Hội lập tức cảm thấy không khí nặng nề đến mức ngột ngạt. Nữ hoàng ngồi trên cao, sắc mặt âm trầm, khiến toàn bộ đại điện như bị phủ bởi một tầng u ám khó thở.
Sau khi hành lễ, Lư Hội quỳ rạp trên đất, không dám ngẩng đầu, chỉ thấy được nơi tà áo của Nữ hoàng — cẩm bào tròn cổ màu đen xen kim tuyến, trên thêu hoa phượng cùng mẫu đơn, rực rỡ mà uy nghi. Màu đen sâu thẳm hòa cùng ánh kim rạng rỡ, toát lên vẻ hoa lệ, đường bệ, mà cũng đầy quyền thế.
Bùi Thứ Chi liền nói: “Bệ hạ, nếu hôm nay chẳng may không tiện, thần sẽ đợi ít ngày nữa rồi mới dẫn Hội Hội nhập cung.”
Nữ hoàng hừ lạnh: “Khanh thẳng thắn đấy, sao không hỏi xem trẫm đã xảy ra chuyện gì?”
Bùi Thứ Chi đáp: “Nếu bệ hạ muốn thần biết, tự khắc thần sẽ biết.”
Nữ hoàng liếc xuống cô gái đang quỳ dưới đất: “Ngươi đứng lên đi.”
Thấy trên khuôn mặt cô gái là vẻ sợ sệt và hoang mang, giọng Nữ hoàng cũng dịu lại: “Chuyện hôm nay không liên quan đến ngươi, chớ sợ.”
Bùi Thứ Chi kéo Lư Hội dậy, cười nói: “Đừng lo, bệ hạ anh minh nhân hậu, có giận cũng chẳng giận một tiểu cô nương như cô đâu. Trước còn có cả triều văn võ chắn ở phía trước cơ mà.”
Nữ hoàng vừa tức vừa buồn cười: “Còn nhỏ tuổi mà chẳng học được điều gì tử tế, dẻo mồm trơn miệng, y hệt cha của khanh — cả triều văn võ là để cho trẫm trút giận đấy à!”
Bùi Thứ Chi cười: “Chỉ cần bệ hạ long thể an khang, trút giận đôi chút cũng chẳng hề gì.”
Sắc mặt Nữ hoàng vẫn còn vương nụ cười, song thoắt cái đã sa sầm: “Có phải khanh đã đoán ra rồi? Biết trẫm sẽ nổi giận với Lương Vương, nên mới cố tình nói cười lấy lòng trẫm, để thay nó mở đường lui phải không?”
Trong thoáng chốc, long nhan biến sắc, khí lạnh tràn ngập khắp điện.
Lư Hội giật mình run rẩy.
Bùi Thứ Chi lập tức chắp tay, đứng nghiêm chỉnh: “Vi thần không dám. Nếu thần tử có sai phạm, bệ hạ cứ chiếu theo pháp độ mà xử trí, chém đầu cũng chẳng oán thán. Chỉ xin bệ hạ bảo trọng long thể, chớ để vì tội của thần tử mà hao tổn sức khỏe.”
Lư Hội cúi đầu nghe, thầm nghĩ ông cậu giả phản ứng thật nhanh, ăn nói khéo thật.
Nữ hoàng vốn đang bừng bừng giận, nghe vậy cũng nguôi ngoai ít nhiều: “Khanh nói cũng có lý.”
Lúc này, Cù Tùng Phong từ cửa bên khác tiến vào, bẩm: “Bẩm bệ hạ, hai vị đại nhân đều đã đến.”
Nữ hoàng gật đầu: “Nhược Trạm ở lại, Tùng Phong dẫn Lư thị ra phía sau.”
Cái gọi là “phía sau” chính là gian phòng ngăn cách bằng rèm gấm sau điện. Cù Tùng Phong đưa Lư Hội tới đó rồi quay lại hầu hạ.
Lư Hội đứng ngây một lúc, chợt nhận ra dù cô chẳng động đậy, thì lời nói trong điện cũng vẫn lọt qua lớp rèm gấm mà truyền ra rõ mồn một. Có lẽ… Nữ hoàng căn bản chẳng để tâm cô có nghe hay không.
Đã thế, cô bèn khẽ khàng vén rèm lên một khe nhỏ nhìn vào.
Chẳng bao lâu, hai người tiến vào điện.
Người đi đầu khoảng hơn ba mươi, râu dài mũi thẳng, dung mạo nghiêm nghị đường hoàng — chính là Trang Hoài Trinh, nguyên Thứ sử Kim Châu, người mà trước đây Lư Hội từng trông thấy từ xa, ấn tượng sâu sắc.
Người thứ hai khoảng ngoài năm mươi, áo bào sang trọng, dung mạo đường đường, song vẻ mặt lại kiêu căng, mang theo vài phần khinh bạc và cục cằn. Cù Tùng Phong gọi gã là Lương Vương điện hạ.
Hai người hành lễ xong, Lương Vương cười cợt mở miệng trước: “Nhược Trạm cũng ở đây à? Không biết hôm nay cô mẫu có gì dạy bảo, chẳng lẽ tên họ Trang kia lại tới cáo tội ta nữa? Hừ, bản vương sớm muộn cũng trị hắn tội vu hãm trung lương!”
Bùi Thứ Chi chẳng buồn nhìn, chỉ quay mặt sang hướng khác.
“Câm miệng! Tội của ngươi trẫm còn chưa xử xong đâu!” Nữ hoàng quát lớn, rồi quay sang Trang Hoài Trinh: “Hoài Trinh, khanh nói đi, từ đầu nói lại cho rõ, để cái nghịch tặc này nghe cho tỏ!”
Trang Hoài Trinh cúi đầu: “Thần tuân chỉ.”
Hắn bước lên một bước, trầm giọng: “Chừng hơn một tháng trước, thần cưỡi lừa dạo chơi ngoại thành, phát hiện ba mặt đông, nam, bắc của thành Đông Đô đều đã được tu bổ mới, chỉ riêng mặt tây vẫn cũ kỹ như xưa. Giàn giáo dựng dở, bùn đất khô nứt trên nền, vài ba thợ thuyền lười nhác dềnh dàng. Thần liền tới hỏi Thị lang Bộ Công là Phí Học Văn. Ông ta năm nay vào đầu xuân nhận được thánh chỉ, tháng sau khởi công, năm tháng liền hoàn thiện ba mặt tường thành, cớ sao tường phía tây lại chậm trễ đến nay, còn chưa khởi công?”
“Phí Học Văn ấp úng nửa ngày mới nói thật — nguyên là hai tháng trước, Lương Vương điện hạ đã đem số đá dùng cho việc tu bổ tường tây đi mất. Thợ không có vật liệu, biết lấy gì mà làm? Lúc đầu thần định đến chất vấn Lương Vương, nhưng nghĩ Lương Vương tuy hồ đồ ngang ngược, song chẳng đến mức tham mưu lô đá thô kệch ấy, ắt hẳn bên trong có điều khuất tất…”
Khi Trang Hoài Trinh nói đến bốn chữ hồ đồ ngang ngược, Chử Thừa Cẩn suýt nổi giận, nhưng lại không dám.
“Thế là thần âm thầm điều tra, mới phát hiện số đá ấy lại được chở đến hoàng lăng của bệ hạ!”
Sắc mặt Nữ hoàng trầm xuống, còn Chử Thừa Cẩn thì tái mét như đất. Bùi Thứ Chi “đúng lúc” bày ra vẻ mặt “kinh ngạc”.
Lư Hội sau rèm khẽ nheo mắt — ông cậu giả diễn giỏi thật, nhưng lừa được ai chứ.
Trang Hoài Trinh càng nói càng hăng: “Thần liền đến chất vấn Ngạn trưởng tôn, người trông coi hoàng lăng. Ban đầu hắn chết sống không chịu khai, thần ép đến đường cùng, hắn mới chịu nói thật — rằng chính số đá lấy từ tường tây Đông Đô ấy, được dùng để xây dựng phần lăng tẩm của bệ hạ.”
Bùi Thứ Chi lấy làm lạ, hỏi: “Xây hoàng lăng vốn đã có nguồn đá riêng, cớ gì phải đem đá sửa thành đi dùng?”
Trang Hoài Trinh nói: “Thần cũng thấy kỳ lạ. Ngạn trưởng tôn dùng đá xây tường thành để dựng Hoàng lăng, vậy số đá vốn để xây Hoàng lăng kia nay đi đâu rồi?”
Ánh mắt hắn chậm rãi dời sang Chử Thừa Cẩn, giọng vang dội như người kể chuyện giữa chợ, lớn tiếng quát: “Không sai! Số đá vốn dùng để xây Hoàng lăng đó đã bị Lương Vương chặn lại rồi!”
Bùi Thứ Chi nhíu mày: “Lương Vương chiếm dụng đá xây Hoàng lăng để làm gì?”
Trang Hoài Trinh khinh khỉnh liếc Chử Thừa Cẩn: “Tự nhiên là để xây phủ Lương Vương nguy nga tráng lệ! Thật là lừa trên dối dưới, tội không thể dung tha!”
“Trang Hoài Trinh, ngươi nói càn!” Chử Thừa Cẩn nhảy dựng lên, chỉ tay mắng lớn.
“Nghịch tặc! Ngươi vô lễ!”
Nữ hoàng “phách” một tiếng đập mạnh tay xuống long án.
Chử Thừa Cẩn sợ đến run rẩy, “phịch” một tiếng quỳ rạp xuống đất.
Bùi Thứ Chi bước lên vài bước, tìm cách hòa giải: “Lương Vương điện hạ, xin nói cho rõ — chẳng lẽ Trang đại nhân vu oan cho ngài, ngài không hề chiếm dụng đá của Hoàng lăng sao?”
Chử Thừa Cẩn ngượng ngập: “…Có, có chiếm dụng.”
Bùi Thứ Chi lại hỏi: “Ngài chiếm dụng là có nỗi khổ riêng, chẳng phải dùng để xây phủ riêng của mình?”
Chử Thừa Cẩn càng thêm bối rối: “Là… là dùng để xây phủ.”
Nữ hoàng tức đến cùng cực, nhấc ngay quả chặn giấy pha lê trên bàn ném mạnh tới. May thay Bùi Thứ Chi kịp thời tung chân đá Chử Thừa Cẩn một cái, Chử Thừa Cẩn vội ngã nhào lăn đi, bằng không bị vật nặng ấy nện trúng, ít nhất cũng vỡ đầu tóe máu.
Trang Hoài Trinh lớn tiếng: “Bệ hạ! Thần có đủ nhân chứng, vật chứng, có thể trình lên cho các bộ đường xem xét bất cứ lúc nào. Lương Vương dám dối vua, làm chậm việc xây thành, hại nước hại dân! Xin bệ hạ trị tội Lương Vương!”
Nữ hoàng giận đến lồng ngực phập phồng, chỉ im lặng không nói.
Bùi Thứ Chi bước đến: “Trang đại nhân, ngài xem bệ hạ đã nổi giận đến thế, hôm nay chẳng phải lúc xử việc này. Đại nhân nên lui trước, chờ bệ hạ hạ chỉ định đoạt.”
Nói đến nửa câu sau, chàng đưa mắt nhìn Nữ hoàng dò hỏi, Nữ hoàng khẽ gật đầu.
Trang Hoài Trinh biết rõ Nữ hoàng lại muốn che chở cho Chử Thừa Cẩn, giận sôi trong lòng, cứng cổ không chịu rời.
Bùi Thứ Chi nói: “Ta tiễn đại nhân ra ngoài.”
Chàng tiến lên đỡ lấy Trang Hoài Trinh, cánh tay hơi dùng lực, Trang Hoài Trinh lập tức cảm thấy nửa người tê rần, cổ tay và vai như bị khóa hai vòng xiềng sắt, chẳng còn chút sức phản kháng, bị nửa kéo nửa đẩy lôi ra khỏi Phượng Nghi Các.
Ra khỏi điện, Bùi Thứ Chi buông tay. Trang Hoài Trinh hất mạnh tay áo, lạnh giọng: “Ngươi sinh trong danh môn, trẻ tuổi đã hiển quý, vốn nên thanh liêm như trăng sáng, phong tư ngạo cốt, sao lại chỉ biết nịnh trên dối dưới, xu thời a tòng, thật chẳng còn cốt khí!”
Bùi Thứ Chi mỉm cười nhạt: “Bệ hạ chọn điện bên này chứ không phải chính điện Tử Thần Cung để tra hỏi Chử Thừa Cẩn, chỉ giữ lại một mình ta làm người nghe, chứ không triệu các đại thần chính sự đường cùng thẩm, Trang đại nhân lẽ ra phải hiểu kết quả rồi.”
Cốt khí ư? Người có cốt khí đã chết sạch từ hơn mười năm trước rồi.
Trang Hoài Trinh tức giận nói: “Chẳng lẽ cứ để Chử Thừa Cẩn khuấy đảo triều cương sao?”
Bùi Thứ Chi cụp hàng mi dài, vuốt thẳng tay áo: “Một lô đá thôi, chưa đến mức ấy. Trang đại nhân đi thong thả, vãn bối không tiễn.”
Khi trở lại điện bên của Phượng Nghi Các, Bùi Thứ Chi thấy Chử Thừa Cẩn đang chổng mông bò dưới đất mà biện bạch, chàng chỉ yên lặng đứng sang một bên.
“…Quả thật là một lô đá quý vô cùng, thưa cô mẫu, trắng tựa bạch ngọc, vân sắc mĩ lệ, cháu chưa từng thấy thứ nào tốt đến thế. Cháu… cháu thật không nỡ chôn nó xuống đất… hu hu, cháu sai rồi, cháu biết tội rồi!”
Chử Thừa Cẩn vừa khóc vừa nói, nước mũi nước mắt hòa làm một: “Vốn cháu có thể dùng đá thường thay thế, như vậy cũng chẳng để tên họ Trang kia phát hiện. Nhưng đó là lăng mộ của cô mẫu, sao dám qua loa đối đãi. Cháu tìm khắp nơi, thấy lô đá dùng xây tường thành kia vừa dày vừa bền, nên mới… mới lấy sang…”
Nữ hoàng cười lạnh: “Xem ra trẫm còn phải cảm tạ ngươi rồi.”
Chử Thừa Cẩn vội nói: “Cô mẫu yên tâm, cháu đã lập tức điều từ U Châu về một lô đá mới để tu bổ tường thành phía tây. Chỉ vì mùa đông băng giá, không thể vận chuyển đường thủy, nên mới chậm trễ đôi chút. Nhưng cô mẫu trị vì mấy năm nay, thiên hạ yên bình, bốn bể thái hòa, há có ngoại địch nào từ trời rơi xuống mà đột kích Đông Đô đâu. Cho nên… nói cho cùng cũng chẳng phải chuyện gì to tát. Cái gì mà hại nước hại dân, đều là tên họ Trang ấy nói quá, hắn muốn hãm hại cháu!”
Sau rèm gấm, Lư Hội liên tục lắc đầu — vị Lương Vương điện hạ này quả thật là nhân tài, bị Trang đại nhân nắm trong tay cả chứng lẫn người mà còn có thể cãi ngược, nói người ta vu khống mình, lại còn nói năng hùng hồn như thế.
“Nhược Trạm, khanh cũng nói vài lời đi.” Chử Thừa Cẩn thấy Nữ hoàng mặt đen như mực không nói gì, liền thấy hoảng.
Bùi Thứ Chi bước lên: “Bẩm bệ hạ, tháng trước Lương Vương từng mượn thần mấy chiếc thuyền. Thần không rõ người mượn làm gì, Lương Vương cũng không nói, chỉ tặng thần bốn con bảo mã quý nhất làm lễ cảm tạ. Nhưng vì sông đã đóng băng, có thuyền cũng chẳng đi được, nên việc ấy không thành.”
“Đúng, đúng! Nhược Trạm có thuyền mà!” Chử Thừa Cẩn vừa chùi nước mắt vừa gật đầu lia lịa.
Bùi Thứ Chi nói tiếp: “Bệ hạ cũng biết, Lương Vương yêu quý bốn con ngựa Hãn Huyết ấy hơn cả tính mạng, nói một câu ‘thương hơn sinh mệnh’ cũng chẳng quá. Dù là Thế tử lén cưỡi ra ngoài, Lương Vương cũng phạt nặng. Việc này của Lương Vương quả là không phải, nhưng về sau cũng đã hết lòng sửa sai.”
Chử Thừa Cẩn không nhịn được xen lời: “Lô đá trắng như ngọc ấy chôn xuống đất thật đáng tiếc, lại chẳng ai thấy được. Dùng đá dày chắc để xây lăng mộ thì chẳng phải càng thực dụng hơn sao…”
Chử Thừa Cẩn vừa nói đến đó đã thấy ánh mắt cảnh cáo của Bùi Thứ Chi, vội vàng đổi giọng: “Là cháu sai rồi, cháu bị ma xui quỷ khiến, gây nên tội lớn, xin cô mẫu khoan dung tha tội cho cháu!”
Gã liên tục dập đầu, vừa cười gượng vừa nói thêm: “Nếu cô mẫu vẫn chưa nguôi giận, cháu lập tức cho người phá bỏ phủ mới xây, đào hết đá ra, đem trả lại để lấp cho Hoàng lăng cũng được.”
Trước một kẻ ngớ ngẩn như thế, Nữ hoàng cũng đành bó tay.
Nữ hoàng trầm ngâm giây lát rồi nói: “Ngươi về đóng cửa hối lỗi ba tháng, coi như kết thúc việc này.”
“Ba tháng?” Kẻ quen ăn chơi là Chử Thừa Cẩn suýt kêu ầm lên, nhưng rồi lại lập tức cúi đầu, “Vâng vâng, cháu tuân chỉ. Ba tháng tới cháu nhất định sẽ thành tâm hối cải.”
“Lui đi.” Nữ hoàng nhìn hắn thêm một cái, cũng thấy chướng mắt.
Chử Thừa Cẩn lồm cồm bò dậy, lê từng bước ra ngoài, đi được vài bước lại ngoái đầu lại: “Cô mẫu, cháu còn một lời muốn nói.”
Nữ hoàng nghiêng mặt sang một bên: “Nói đi.”
Chử Thừa Cẩn vừa nói vừa bò lại, lăn lộn đến trước ngự án, dập đầu kêu to: “Cô mẫu, người chớ có nhìn tên họ Trang mặt mũi trung nghĩa tận tâm với nước, thực ra cùng đám lão thần mang dạ nhớ tiền triều đều là một giuộc cả! Nếu không tin, cô mẫu có thể hỏi hắn: hắn trung với vị quân nào, là Chử thị hay Lệ thị; hắn yêu nước nào, là tân triều bây giờ hay triều Lệ khi trước?”
Lư Hội trong rèm thoáng rùng mình, chỉ thấy sắc mặt Nữ hoàng đã sầm xuống.
Chử Thừa Cẩn vẫn chưa chịu dừng, nói tiếp: “Cô mẫu, cháu ngu dại thật, chẳng bằng được đám lão quỷ tâm cơ thâm sâu, mưu mô xảo quyệt ấy. Nhưng cháu một lòng một dạ với cô mẫu người mà! Trong triều, chỉ có cháu là thật lòng phò tá người thôi!”
Nữ hoàng lạnh giọng hừ một tiếng: “Nói tới nói lui, vẫn chỉ là muốn nhòm ngó ngôi vị Thái tử chứ gì.”
Chử Thừa Cẩn vội cười nịnh: “Cô mẫu, người gian khổ trăm bề mới đi đến hôm nay, thật chẳng dễ dàng gì. Ấy mà trước khi người xưng đế, hoàng vị phải truyền cho Lệ thị; sau khi người xưng đế, hoàng vị lại vẫn truyền cho Lệ thị — thế thì chẳng phải xưng đế uổng công sao!”
Lư Hội suýt nữa bật cười, vội lấy tay che miệng.
Nữ hoàng lắc đầu với vẻ bất lực: “Thôi được rồi, cút ra ngoài đi.”
Chử Thừa Cẩn ngoan ngoãn đáp lời, hai tay nhấc vạt áo gấm, lon ton chạy ra ngoài, bóng dáng như một con châu chấu béo.
Nữ hoàng chống tay lên án, ánh mắt xuyên qua cửa sổ hoa thủy tinh tròn trịa, nhìn ra ngoài trời. Bà ngồi im thật lâu, rồi khẽ cười nhạt: “……Nhược Trạm, đây chính là đứa cháu mà trẫm định giao phó hậu sự đấy.”
Bùi Thứ Chi cúi đầu: “Lương Vương là người thế nào, trong lòng bệ hạ rõ hơn ai hết, ngoại thần không dám lắm lời.”
Những năm qua, phàm ai phản đối việc lập Lương Vương làm Thái tử, đều chết thì chết, tàn thì tàn, bị lưu đày hoặc tan cửa nát nhà — đến nay, Nữ hoàng còn có thể mong nghe được lời nào khác nữa đây.
“Làm sao lại thành ra thế này rồi.” Nữ hoàng khẽ thở dài, tự nói một mình.
Bùi Thứ Chi tỏ vẻ thản nhiên nói: “Nhà nào mà chẳng có điều khó nói, thiên hạ có bao nhiêu bậc trưởng bối phải phiền lòng vì con cháu, bệ hạ cũng chẳng cần quá bận tâm.”
Nữ hoàng dường như được lời ấy nhắc nhở: “Nghe nói dạo gần đây Nhược Trạm đang bận việc nhà họ Thôi, con trai của Thôi ái khanh lại gây chuyện nữa ư?”
Chuyện Thôi Huyền có đứa con út tên Thôi Tề ưa trêu hoa ghẹo nguyệt, Nữ hoàng sớm đã biết rõ.
Bùi Thứ Chi cười khổ: “Quả thật chẳng qua nổi mắt bệ hạ. Thôi Tề vốn bản tính phong lưu, lần này náo to hơn trước…… phu quân của người phụ nữ kia không chịu bỏ vợ, còn muốn kiện Thôi Tề tội thông gian.”
Theo luật, nam nhân dụ dỗ phụ nữ đã có chồng phải chịu phạt trượng và tù một năm rưỡi, mà hình phạt của người phụ nữ lại tăng gấp đôi.
Dù nhà họ Thôi có bỏ tiền chuộc tội, thì danh tiếng và tiền đồ của Thôi Tề cũng coi như mất sạch.
Nữ hoàng mỉm cười hỏi tiếp: “Sau đó thì sao?”
Bùi Thứ Chi đáp: “Bọn thần đã mời mấy vị trưởng bối mà người chồng ấy kính trọng nhất tới Đông Đô, hết lời khuyên nhủ, cuối cùng hắn cũng chịu nhận bạc mà bỏ vợ.”
Nữ hoàng lộ vẻ khinh miệt: “Thôi Huyền cũng coi như người chững chạc, chỉ khổ cái đứa con út ấy thật chẳng nên thân, đã mấy lần rồi.”
Lời xoay chuyển, nàng hỏi: “Nhược Trạm thấy Thôi Thăng thế nào?”
Thôi Thăng là đường đệ cùng tộc của Thôi Huyền, đều là người Thôi thị Bác Lăng.
Bùi Thứ Chi khom người: “Lão Thôi là người mà vi thần khâm phục nhất trong đời, học thức uyên thâm, chính trực cương nghị. Mấy chục năm qua một lòng vì quốc gia, hiểu dân tình, vi thần thực chẳng sánh được.”
Nữ hoàng gật đầu: “Xem ra người này có thể dùng được. Giữ hắn ở Lại bộ chẳng phải là phí tài sao.”
Bùi Thứ Chi thầm nghĩ: Chẳng phải người đã định sẵn rồi à.
Nhưng ngoài mặt vẫn nghiêm nghị nói: “Lão Thôi quả là tài năng của Tể phụ, lại chẳng từng kết đảng, bệ hạ nếu trọng dụng, ắt ngài ấy sẽ tận trung vì nước.”
Nữ hoàng mỉm cười: “Nhược Trạm lúc nào cũng nói đúng điều trẫm muốn nghe.”
Bùi Thứ Chi cười đáp: “Thần nói toàn lời thật cả. Lão Thôi chính trực ai ai cũng biết. Ông ấy từng chỉ thẳng mũi vi thần mà mắng ‘trơn như cá lươn’, còn chê Thôi Huyền ‘không tề gia thì sao trị quốc được’. Hai nhà vì thế cạch mặt nhau hơn mười năm, ngay cả khi về quê tế tổ, lão Thôi cũng chẳng chịu đứng cùng hàng với cụ tổ thần.”
Nữ hoàng bật cười ha hả. Mấy chuyện này bà sớm đã sai Ngụy Quốc phu nhân dò tra rõ ràng. Bà muốn chính là hạng người như vậy.
Rồi cậu chuyện quay lại: “Dù Thôi Tề phạm tội chẳng phải trọng tội, nhưng rốt cuộc cũng làm hỏng phong hóa, đức hạnh. Thôi Huyền lại chỉ biết nuông chiều, chẳng chịu dạy bảo.”
Bùi Thứ Chi khẽ lắc đầu: “Cụ tổ vốn định nghiêm phạt Thôi Tề, nhưng cụ bà lại nhất mực bao che, nên vi thần đã viết thư khuyên hai vị ngoại huynh, cho ba người em họ Thôi thị đến Đông Đô học tập.”
Nữ hoàng nghe vậy liền sinh lòng hứng thú: “Đem con cháu nhà Thôi Huyền đến à? Ý khanh là gì?”
Bùi Thứ Chi cười khổ: “Chỉ là kế phân sủng thôi. Từ xưa cha mẹ chỉ có một đứa con thì ắt dễ nuông chiều; còn nếu có nhiều con, anh em tự khắc ganh đua kiềm chế lẫn nhau, chẳng dám làm càn.”
Nữ hoàng gật đầu: “Phải rồi, ngoài Thôi Tề, các con khác của Thôi Huyền đều đã ra ngoài lập nghiệp.”
Đối với kế này, bà hiểu rõ hơn ai hết — năm xưa chính là nhờ kế phân sủng của Vương Hoàng hậu, bà mới được hồi cung.
Bùi Thứ Chi nói: “Đợi đến khi ba đứa cháu nhỏ kia đến trước mặt hai cụ, tuổi còn thơ, lại ngoan ngoãn hiếu thuận, khi ấy Thôi Tề bị kiềm chế, có lẽ cũng sẽ biết thu liễm hơn.”
Nữ hoàng phá lên cười: “Cho dù nó chẳng thu liễm, vì sợ làm hư các cháu nhỏ, hai cụ nhà họ Thôi chắc chắn cũng sẽ ra tay trị cho nó một trận nên thân.”
Cười rồi, nàng bỗng nhíu mày, trầm ngâm hồi lâu: “Ước chế và cân bằng sao…….”
Một lúc sau, bà khẽ phẩy tay: “Chậm trễ nửa ngày rồi, Nhược Trạm dẫn Lư thị đi gặp Huệ Nhi đi.”
Câu cuối cùng, giọng bà đã lơ đãng, như đang nghĩ tới điều gì xa xôi.
Tác giả có lời muốn nói:
Nhắc lại lần nữa, đây là tiểu thuyết, tính cách nhân vật và hướng phát triển về sau có thể không như mọi người tưởng tượng. Nếu không thể chấp nhận, xin rời đi sớm một chút nhé, cảm ơn.
