Chương 3: Niềm vui kín đáo
*
Ba ngày sau, Bùi Thứ Chi áo giáp chỉnh tề, chuẩn bị lên đường.
Dẫu sao cũng là việc binh đao hệ trọng, Lão Tống cùng đám thị vệ đều phải đi theo.
Trước lúc khởi hành, Bùi Thứ Chi lạnh nhạt phân phó Tử Liệt chọn cho Lư Hội vài cao thủ lưu lại bảo vệ. Lư Hội không nói thêm gì, chỉ giữa chốn đông người, vung roi quất thẳng xuống khối giả sơn cao ngang nửa người trong viện.
Chỉ nghe “rắc” một tiếng, đá núi vụn vỡ tung tóe.
Đám thị vệ reo hò khen ngợi vang trời.
Mấy hôm liền nhìn cái mặt lạnh tanh của Bùi Thứ Chi, đến giờ Lư Hội mới thấy hả dạ, tựa như lại quay về Sa Châu vô tư năm nào — tiểu nương tử nhà Nam Ngọc Thương Hành, tiếng tăm lan khắp: văn thì tính sổ, kê hàng, võ thì cưỡi ngựa, vung roi, trong thành ngoài quách đều có biết bao thiếu niên nhiệt tình vì cô mà ra sức lấy lòng.
Cô hào sảng phất tay áo, cười nói: “Chúc chư vị lần này cờ xí thuận gió, bình an trở về, đến lúc đó tôi sẽ đãi rượu mời mọi người!”
Đám thị vệ càng hô to cổ vũ.
Lư Hội trong lòng khoan khoái vô cùng.
Bùi Thứ Chi đứng xa xa dưới hành lang, mặt vẫn lạnh tanh, không nói một lời, trông chẳng khác nào vừa bị đội cho mười bảy mười tám cái mũ xanh.
Lư Hội thầm nghĩ một cách độc ác: thật ra ông cậu giả nên cảm ơn Lý Hiếu Trung, Độc Cô Tử Tuân với A Ô Nhĩ mới đúng. Nếu chẳng phải ba kẻ hồ đồ ấy, hết người này đến người khác chiếm trọn những năm tháng tuổi dậy thì của cô, khiến gà bay chó chạy mà chẳng nên trò trống gì, thì e rằng cô đã sớm có đôi có cặp, trăng tròn hoa thắm rồi.
Khi ấy, đến Đông Đô ắt chẳng phải chỉ một mình cô, mà là một đôi phu thê cùng đến; còn ông cậu giả vì “đại kế”, tất nhiên phải nhận thêm một “chàng rể giả” nữa. Nếu thật là thế, không biết sắc mặt ông cậu giả sẽ ra sao nhỉ? Ha ha ha…
Dẫu bụng dạ lắm điều châm chọc, Lư Hội vẫn rất để tâm đến ông cậu giả.
Tiễn đoàn xe đi đến ngoài thành, nhân lúc Lão Tống còn đang đứng dưới hai gốc liễu ngâm thơ biệt ly, cô lẹ làng chui vào xe ngựa, tháo sợi chỉ đỏ trên cổ, hai tay dâng đến trước mặt Bùi Thứ Chi.
“Bùa hộ thân à?” Bùi Thứ Chi hơi sửng sốt, ngón tay khẽ xoay đầu sợi chỉ đỏ, bên kia là túi gấm nhỏ còn vương chút hơi ấm, hương nhè nhẹ tỏa ra, miệng túi hé mở lộ ra góc tờ phù vàng.
Khóe mắt đuôi mày của chàng mềm hẳn đi, dịu giọng hỏi: “Là cô cầu cho ta ư?”
Lư Hội lấy làm lạ: “Người bị bệnh lú rồi sao? Phù cầu cho người khác, tôi treo trên cổ mình làm gì?”
Cảm xúc mềm mại vừa mới nhen nhóm lập tức “rắc” một tiếng gãy vụn, hóa thành bốn chữ to đen sì — “không hiểu phong tình.”
Tâm trí chàng thu lại rất nhanh, nét mặt liền lạnh lùng: “Phù này ở đâu ra? Dạo gần đây cô chỉ quanh quẩn ở nhà với trong cung, đâu có thời gian đến chùa.”
Lư Hội ra vẻ thần bí: “Là Y Lam, trước khi theo mẹ về Sa Châu, đã cố ý đến Bạch Mã Tự xin cho tôi đấy, linh lắm. Người mang theo bên mình, nói không chừng có thể hóa nguy thành an.”
Bùi Thứ Chi khẽ cười nhạt: “Cô sao biết là linh? Con nít nhỏ tuổi, đừng mê tín mấy thứ quỷ thần ấy.”
Lư Hội vội xua tay: “Thật mà, thật đấy! Tôi vụng về, trước kia cứ suốt ngày va đập, nhưng từ khi có bùa này thì chưa từng xảy ra chuyện gì nữa. À mà, ba lần trước, người với Quận vương đều… mà tôi thì chẳng hề hấn gì, phải không…”
Mặt Bùi Thứ Chi đen sầm lại.
Thiếu nữ nói quanh co, nhưng ý lại rõ rành rành.
Hôn thê của Lý Hiếu Trung, mẹ già của Độc Cô Tử Tuấn, còn cả tên người Hồ kia, ba lần kéo đến gây hấn, Kính Tuyên bị đánh đến thâm tím mặt mày, chính chàng cũng dính máu, chỉ có kẻ đầu sỏ gây họa là cô ta thì sống nhăn, không sứt một mảnh da. Nghĩ đến đây, vết thương cũ nơi cánh tay chàng như lại nhức lên.
Thấy sắc mặt ông cậu giả chẳng lành, Lư Hội ấp úng nói thêm: “Dù có phải nhờ bùa hay không thì cũng cứ mang theo đi. Tôi mong người bình an trở về.”
Giọng cô càng nói càng nhỏ.
Bùi Thứ Chi: “… Đưa tay ra.”
Lư Hội ngẩn người, ngoan ngoãn chìa tay.
Bùi Thứ Chi lấy trong tay áo ra một vật, đặt vào lòng bàn tay cô.
Lư Hội cúi đầu nhìn, chỉ thấy đó là một lá bùa đồng mạ vàng, hình dáng tròn trịa. Cô ngắm kỹ rồi bật cười: “Sao lại là con rùa nhỏ thế này! Làm khéo thật, đầu đuôi mai đều sống động như thật.”
Khuôn mẫu của loại bùa này vốn được bí chế trong quân Sở vương. Khi ấy Bùi Thứ Chi chưa kịp nói rõ hình dạng, Sở vương đã bảo người vẽ theo nhũ danh của con trai yêu – Linh Thọ Nhi. Tới khi Bùi Thứ Chi biết thì mọi sự đã xong xuôi.
Việc này không tiện nói ra, chàng đành nghiêm mặt đáp: “Rùa thần tượng trưng trường thọ, bình an, có gì không tốt?”
Lư Hội vội nói: “Không có gì không tốt cả, rất tốt, cực kỳ tốt!”
Bùi Thứ Chi khẽ hừ một tiếng, rồi dặn: “Khi ta không ở Đông Đô, nếu cô thiếu thứ gì, cứ mang bùa này đến tìm quản sự Lộc Dã Đường. Dù là nhân thủ, vật dụng, hay cô có lỡ gây họa, cũng sẽ có người thay cô lo liệu.”
Lư Hội chẳng nghĩ nhiều, chỉ vui vẻ cảm tạ.
Bùi Thứ Chi cau mày: “Tạ cái gì? Quản sự Lộc Dã Đường cô cũng quen, có việc cứ sai khiến, cần gì bùa này?”
Lư Hội nghe vậy mới tỉnh: “Ờ nhỉ, sao lại thế được?”
Bùi Thứ Chi khẽ gảy than trong lò, mắt liếc sang cô, giọng trầm xuống: “Đó là để phòng ngừa cô. Người nhà thì chẳng cần bùa gì cả; còn kẻ không phải người một nhà thì chỉ nhận bùa, chẳng nhận người. Hôm nào cô mất bùa, xem đám Tử Liệt còn nghe cô không. ‘Người một nhà’ — ý của ta, cô hiểu rồi chứ?”
Lời chàng có ẩn ý, nhấn mạnh ba chữ “người một nhà”, song cô gái cùng xe lại ngốc nghếch, bảy khiếu chỉ thông được sáu.
“À ra vậy, tôi hiểu rồi.” Lư Hội tỉnh ngộ, nghiêm túc nói: “Người cứ yên tâm, tôi vốn chẳng định ở lại Đông Đô lâu. Chờ hoàn thành việc người giao, tôi sẽ theo cha mẹ về Sa Châu, tuyệt không mượn quyền thế của người mà làm càn đâu.”
“…”
Ánh mắt phượng của Bùi Thứ Chi sâu thẳm, tối mờ khó đoán, nhìn đến mức khiến tim Lư Hội đập loạn.
Một lúc lâu sau, chàng mới khẽ thở dài: “Thôi vậy.”
–
Lão Tống quay lại, chỉ thấy Lư Hội từ trên xe nhảy phốc xuống, vội vàng chào rồi thúc ngựa chạy mất, chẳng thèm đỡ ông lão lên xe.
Còn Bùi Thứ Chi thì thần sắc thật lạ, nửa như cười, nửa như buồn, mang chút man mác u hoài. Với dung nhan như hoa như ngọc ấy, nếu xếp hạng các công tử Đông Đô cưỡi ngựa tựa cầu, e rằng Bùi Thiếu tướng có thể đoạt danh “hoa khôi” rồi cũng nên.
Lão Tống chậm rãi trèo lên cỗ xe rộng lớn, lẩm bẩm: “Ta định bói cho Lư tiểu nương tử thêm một quẻ nữa. Người ta nói gió theo rồng, mây theo hổ, mà từ khi vào Đông Đô, tướng mạo của cô nương ấy càng ngày càng đẹp, trán tròn, má hồng. Hôm qua ta xem đường chỉ tay, tuy tính cách thẳng vụng, nhưng vận thế cương chính, duy chỉ có hoa đào là cực vượng, thật là lạ lùng…”
Thông thường, kẻ nào cương trực vụng về thì tự khắc xua đuổi vận đào hoa, như Trang Hoài Trinh, bốn mươi tuổi rồi vẫn đơn thân, sao Hồng Loan như chết hẳn.
Bùi Thứ Chi lạnh giọng cười, đáp không nể nang: “Tướng mạo cô ấy đổi là do hai tháng nay lớn thêm, dung nhan cũng nở ra. Còn cái vận đào hoa rối rắm ấy, cần gì bói toán mới biết? ‘Tử bất ngữ quái lực loạn thần’, chi bằng tiên sinh khỏi bói cho rồi.”
Thực ra, Lư Hội vốn thân thể khỏe mạnh, khí huyết sung mãn, mặt mày đỏ hồng. Chỉ là trước kia nắng gió dãi dầu, da hơi sạm nên không rõ. Hai tháng này bị Bùi Thứ Chi giữ bên mình, ăn sung mặc sướng, chăm sóc kỹ càng, da thịt dần trắng nõn, má đào tròn căng, mềm mịn như quả đào chín tới.
Lão Tống: “…”
Quả đúng là kẻ không hiểu phong tình.
Bùi Thứ Chi rũ hàng mi dài, thần sắc u uất, khẽ nghiêng người sang một bên. Chàng lật vài trang sách, rồi bất chợt quay lại.
Gương mặt tuấn tú tinh xảo thoáng hiện chút hứng thú kỳ dị, “Ta nghe nói trong huyền môn có một loại pháp trận, có thể giúp vượng vận, cũng có thể tiêu vận. Nay đường xa vạn dặm, tiên sinh không ngại tính thử, bày trong phủ một trận trừ đào hoa gì đó, để giết tan đám hoa đào thối kia, cho thế gian được yên ổn. Tiên sinh thấy sao?”
Hai chữ “giết tan” được chàng trai tuấn mỹ nói ra đầy sát khí, khiến Lão Tống choáng váng cả đầu — cái này là trúng tà, trúng tà thật rồi!
“…” Ông gượng cười, “Thiếu tướng, Khổng tử nói ‘tử bất ngữ quái lực loạn thần’.”
–
Tiễn ông cậu giả đi rồi, Lư Hội thấy mình nhẹ nhõm hẳn. Cô hỉnh cái mũi nhỏ, cưỡi ngựa dọc phố, ngửi thấy mùi thơm liền ghé mua mười cái bánh hồ ma thịt dê, hai xửng bánh ngọt hấp, cùng nửa tá lê nướng pha lê. Sau đó, hớn hở phóng thẳng về phía hoàng cung.
Trên đường, cô ăn mất ba cái bánh, hai quả lê, cùng một miếng bánh ngọt. Vào cung, cô lại chia chỗ còn lại cho mấy tiểu cung nữ và tiểu nội quan quen mặt.
Trong tiếng cảm tạ và khen ngợi dồn dập, Lư Hội vui đến quên trời quên đất, ngay cả mấy đồng tiền lẻ trong túi vải cũng đem chia sạch.
Từ bậc cao trên thềm, Cù Tùng Phong đứng nhìn, cười lớn: “Khó trách thiếu tướng thường nói tiểu nương tử này giữ chẳng nổi tiền qua đêm, sau này nhất định phải gả cho người biết giữ của.”
Lư Hội ngượng ngập, “Đại giám chớ nói xấu tôi. Tôi chỉ là giữ không nổi tiền lẻ thôi, tiền lớn thì đều ép dưới đệm giường cả rồi.”
Trong điện yên tĩnh, lò sưởi cháy bập bùng, nhanh chóng hong khô tuyết dính trên quan phục của cô.
Nữ hoàng ngồi trước án thư, khẽ nhíu mày, trong tay lật xem một quyển tấu chương. Đoan Mộc Tuệ ngồi ở ghế bên dưới, cắm cúi viết.
Lư Hội hành lễ xong, Nữ hoàng khẽ gật đầu ra hiệu cho cô lại gần. Cô ngoan ngoãn tiến lên.
“Nhược Trạm đã khởi hành rồi chứ?” Nữ hoàng đặt tấu chương xuống.
Lư Hội đáp: “Vâng.”
— Vô nghĩa, Ngụy Quốc phu nhân có tai mắt khắp Đông Đô, ông cậu giả đi hay không Nữ hoàng lẽ nào lại không biết? Câu hỏi này, e là muốn dò thêm chuyện khác.
Lư Hội liền nói rõ ràng: “Cậu sáng nay đi từ cửa tây thành, hai doanh Hổ Bôn do bệ hạ phái đi cũng đã lấy cớ luyện binh mà rời thành từ đêm qua. Khi thần tiễn cậu ra ngoài, xa xa trông thấy hai vị tướng Hổ Bí đến hội hợp. Cậu nói việc này trọng đại, không thể phô trương, nên chỉ có thần cùng một vị trong Binh bộ tiễn đi, ngay cả Thôi phu nhân trong phủ cũng chưa hay biết.”
— Cậu giả từng dạy, Nữ hoàng thích kẻ vừa hiền hậu vừa thông tuệ: không nên tự cho là khôn, cũng đừng giả vờ ngu.
“Nhược Trạm sắp xếp như vậy là rất ổn.” Nữ hoàng gật đầu, “Đợi bảy tám ngày nữa, tin truyền ra cũng chẳng hại gì.”
Lư Hội thuận miệng hùa theo: “Vâng, cũng chẳng biết cậu bao giờ mới trở lại.” — E là ít nhất hai tháng.
Nữ hoàng nhìn nét vui tươi không giấu nổi trên mặt cô, không khỏi bật cười: “Đúng là đứa trẻ con, quanh thân chẳng còn trưởng bối quản thúc liền mừng đến thế. Nhược Trạm trước khi đi có dặn dò gì ngươi không?”
Lư Hội chợt nhớ lại đoạn đối thoại cuối cùng giữa cô và ông cậu giả trước khi nhảy khỏi xe ngựa —
“Chuyến này ra ngoài, e rằng sẽ lỡ mất Nguyên nhật. Ta cho cô một xâu tiền vàng đúc, coi như lễ mừng năm mới.”
“Đa tạ Thiếu tướng, Thiếu tướng khách khí quá. Ừm… vậy tôi phải tặng người gì đây?”
“Không cần. Nếu cô có lòng, thì… hãy đan cho ta và các trưởng bối trong phủ mỗi người một sợi dây đeo là được.”
Lúc nói những lời ấy, Bùi Thứ Chi chỉ nhàn nhạt, có lẽ trong mắt chàng, việc cô nương đan dây cũng như Lão Tống cầm bút viết chữ thôi, dễ như trở bàn tay.
Nữ hoàng lại cầm tấu chương lên, thuận miệng dạy bảo: “Lễ vật nhẹ, tình nghĩa nặng. Chỉ cần có lòng là đủ, ngươi cứ đan thêm vài sợi, chớ để các trưởng bối trong Bùi phủ bị bỏ sót.”
Lư Hội lộ vẻ lúng túng: “Bệ hạ nói phải, chỉ là… chỉ là thần… không biết đan dây…”
Càng nói giọng cô càng nhỏ.
Nữ hoàng giật mình, đến nỗi quên cả nhấc tấu chương: “Ngươi không biết đan dây?!”
Đoan Mộc Tuệ cũng ngẩng đầu, ánh mắt đầy kinh ngạc.
Lư Hội chỉ biết cười trừ, “Ha ha…”
“Khoan đã, không đúng.” Nữ hoàng nheo mắt suy nghĩ, “Trẫm nhớ theo tục ở quê ngươi, khi định chung thân phải đan dây đồng tâm. Ngươi đã không biết đan, vậy ba sợi dây đồng tâm kia từ đâu ra?”
Đoan Mộc Tuệ đặt bút xuống, len lén dựng tai nghe.
Lư Hội xấu hổ đến mức chỉ muốn chui xuống đất, thân là người hầu cận bên cạnh Nữ hoàng, e rằng chuyện tám đời tổ tông của cô đều đã bị Ngụy Quốc phu nhân báo cáo tường tận rồi. Nhưng mà… Nữ hoàng, người tám mươi rồi, trí nhớ tốt thế này có hợp lý không ạ?!
Giờ thì cô hiểu vì sao ông cậu giả phải tìm cách lôi kéo Ngụy Quốc phu nhân.
“Thần tuy không tự tay đan, nhưng trong xưởng thêu nhà thần có nhiều thợ giỏi. Thần đã đặc biệt nhờ người khéo nhất đan giúp, để tỏ lòng thành.” Lư Hội cố giữ vẻ nghiêm trang mà phân bua.
Đoan Mộc Tuệ nín cười, cúi đầu giấu mặt sau cuộn sách.
Nữ hoàng bật cười mắng: “Cái thứ ‘thành tâm’ quỷ quái gì thế! Dây kết thân cả đời mà cũng để người khác làm thay, bảo sao ba phen nhân duyên đều chạy mất! Trẫm hỏi ngươi, ba gã tiểu lang đó có biết chuyện này không?”
Giọng Lư Hội bắt đầu lảng tránh: “Họ… họ không hỏi…” Nên cô cũng không nói, chỉ có A Ô Nhĩ là biết rõ thôi.
Ơ, chờ đã — thề bằng cây gỗ tử dương chỉ có hai lần thôi mà, A Ô Nhĩ là theo lễ Trung Nguyên đến cầu hôn, nhưng sau khi đính ước, cô cũng có tặng hắn một sợi dây đồng tâm. Vậy Nữ hoàng nhớ lẫn rồi chăng? Thôi, A Ô Nhĩ vốn mang nhiều ẩn tình, cô cũng chẳng cãi nữa.
Chưa kịp nghĩ xong, Đoan Mộc Tuệ đã cười gục xuống án thư, vai run lên bần bật.
Lư Hội tức đến đỏ mặt: “Bệ hạ và Đoan Mộc đại nhân đều từng nói từ nhỏ không thích nữ công, nhưng bệ hạ anh minh, Đoan Mộc đại nhân văn tài xuất chúng, thế mới thấy việc có biết đan dây hay không cũng đâu phải chuyện to tát gì.”
“Thấy gì mà thấy.” Nữ hoàng cười, “Trẫm là không thích, chứ không phải không biết — Tuệ Nhi, khanh nói xem.”
Đoan Mộc Tuệ cố nén cười: “Vi thần tài hèn học mọn, nhưng dây đồng tâm thì vẫn biết đan ạ.”
Mặt Lư Hội đỏ bừng, lắp ba lắp bắp: “À… à cái này… Bệ hạ và Đoan Mộc đại nhân quả thật văn võ song toàn, vi thần hổ thẹn không sánh nổi…”
Nữ hoàng chỉ tay vào cô, bật cười giòn giã: “Ngươi đấy, ngươi đấy…”
Giọng bà dịu lại, nói tiếp: “Lát nữa ngươi ra khỏi cung, ngày mai thì không cần vào hầu nữa.”
Lư Hội hoảng hốt đến biến sắc: “Chỉ vì thần nữ không biết đan dây mà bệ hạ muốn đuổi thần nữ đi sao? Bệ hạ, xin đừng mà! Thần nữ có thể học ngay, học rất nhanh nữa!”
Nữ hoàng cười đến run cả vai, lắc đầu nói: “Ngươi tiễn Bùi thiếu tướng xong, chưa về nhà đã vào cung luôn phải không?”
Lư Hội gật đầu, thành thật đáp: “Vâng ạ, tiễn cậu là việc riêng, không thể vì thế mà lỡ việc trong cung.”
— Từ nhỏ mẹ đã dạy cô rằng, chơi là chơi, đùa là đùa, nhưng việc lớn thì tuyệt đối không được sơ suất.
Nữ hoàng khẽ thở dài: “Cha mẹ ngươi yêu chiều là thế, mà cũng không khiến ngươi trở nên hư hỏng. Cũng phải, thương yêu thì thương yêu, nhưng lập thân vẫn phải đoan chính.”
Bà dừng lại một thoáng rồi nói: “Trước khi Nhược Trạm khởi hành, hắn đã tấu xin cho ngươi nghỉ mười ngày, còn cho người đón mẹ ngươi về trước, để cả nhà đoàn tụ, cùng nhau đón Tết Nguyên Nhật. Ngươi về nhà đi, ngoài lễ mừng năm mới Nhược Trạm chuẩn bị cho ngươi, còn có hai xe phần thưởng của trẫm.”
Xin nghỉ? Mười ngày?!
Nỗi kinh ngạc thoáng chốc hóa thành niềm vui rực rỡ, Lư Hội mừng đến ánh mắt sáng bừng: “Thật ạ? Bệ hạ nói thật chứ? Mẹ thần đã về rồi!”
Cô “phịch” một tiếng quỳ xuống, nói: “Đại ân của bệ hạ, thần nữ dù tan xương nát thịt cũng khó báo đáp muôn vàn…”
Nữ hoàng khẽ trêu: “Không cần cảm tạ trẫm, cảm tạ cậu ngươi đi.”
Lư Hội gần như muốn ngửa mặt thề trời: “Thần nữ về nhà sẽ lập tức học đan dây, nhất định học đến nơi đến chốn, treo người mà học cũng được!”
Nữ hoàng cố nén cười, nghiêm giọng nói: “Dạo gần đây ngươi hầu hạ trẫm rất cần mẫn, cung kính, không kiêu không nóng, xử việc cẩn trọng. Trẫm nên thưởng cho ngươi.”
Lư Hội vội xua tay, cười ngây ngô: “Không dám, không dám, đều là nhờ bệ hạ cùng Đoan Mộc đại nhân dạy bảo tốt.”
Nữ hoàng phất tay áo: “Về đi, về đoàn tụ cho trọn. Mười ngày sau quay lại cung, lúc ấy nên thay Tuệ Nhi san sẻ sự vụ.”
Lư Hội lại dập đầu hai cái, rồi vui mừng khôn xiết mà rút lui khỏi điện.
Nữ hoàng lại nói: “Tuệ Nhi cũng lui xuống nghỉ ngơi đi.”
Đoan Mộc Tuệ cáo lui.
Nữ hoàng trầm ngâm giây lát, rồi bỗng cất giọng: “Tinh Nương, ra đây đi.”
Từ sau lớp rèm chồng chéo, Ngụy Quốc phu nhân bước ra, thân mặc áo dài hoa văn tròn nền tối.
Nữ hoàng hỏi: “Khanh đến lâu chưa?”
Ngụy Quốc phu nhân đáp: “Chỉ sớm hơn Lư tiểu nương tử vài bước.”
Nữ hoàng khẽ gật đầu: “Lư thị là một đứa trẻ có phúc khí.”
Ánh mắt bà thoáng ngẩn ngơ: “Lạ thật, trẫm vốn thích những cô nương có thân thế cô quạnh hơn. Tuệ Nhi thì vốn là tội nô, không cha không mẹ; A Mục cha ruột bạc bẽo, mẹ kế lại cay nghiệt; còn khanh, Tinh Nương, song thân đều là hạng vô đức khả chán. Vậy mà một tiểu nương tử như Lư thị, cha mẹ hiền từ, gia đình sum vầy…”
Nữ hoàng chưa nói hết, Ngụy Quốc phu nhân chậm rãi tiếp lời: “Bệ hạ chẳng phải cố ý chọn lựa đâu. Chỉ là bệ hạ tôn quý vô song, người hầu bên cạnh phải kín miệng, tĩnh tâm, chăm chỉ và biết giữ chừng mực. Chỉ những ai từng chịu khổ, từng nếm đủ nóng lạnh nhân gian, mới biết trời cao đất dày, mới không phụ lòng bệ hạ.”
Nữ hoàng mỉm cười: “Tinh Nương quả là nhìn xa trông rộng.”
Ngụy Quốc phu nhân khẽ cúi đầu: “Bệ hạ thật muốn giữ Lư thị ở bên sao? Dù sao cô ấy cũng là người của Bùi Thiếu tướng, chẳng thể không cân nhắc.”
Nữ hoàng khoát tay: “Này, khó lắm trẫm mới thấy vừa mắt một người, Tinh Nương đừng làm mất hứng. Hơn nữa có khanh trông coi, trẫm yên tâm.”
Ngụy Quốc phu nhân cúi nhìn tấm thảm dày rực rỡ hoa văn dưới chân, im lặng hồi lâu rồi mới nói nhỏ: “… Thần tuân chỉ.”
–
Lư Hội một đường gấp gáp trở về Bùi phủ, thấy quản sự ở Lộc Dã Đường đang cho người chuyển những rương hòm lớn nhỏ lên xe.
Ông ta cúi người thưa: “Thiếu tướng đã dặn rồi, hôm nay nương tử có thể về huyện Thị Dương, mọi đồ đạc đều đã chuẩn bị xong.”
Cho Lư Trí Nam là sâm Cao Ly và cao lộc nhung, cho Tạ Ngọc Phù là vàng ngọc trang sức và phấn trân châu, cho Lư Kỷ và Lư Ỷ là đồ ăn, vật chơi, tổng cộng đầy bốn cỗ xe lớn, đều dán danh ký của phu nhân Tiết.
Ngoài ra còn có một xe rượu ngự và gấm cống do Nữ hoàng ban thưởng.
Ngồi trên xe ngựa hướng về huyện Thị Dương, Lư Hội trong lòng ngổn ngang trăm mối: bảy phần cảm kích, hai phần bối rối, và một phần lạ lùng khó gọi tên.
Ông cậu giả ấy từng mang bộ mặt thanh khiết như ngọc, phong thái phi phàm, từng nói rằng sẽ chẳng can dự chuyện gì, mọi việc của cô đều do Tín Lăng quận vương và Tống tiên sinh lo liệu. Thế mà chỉ vài hôm, chàng đã đổi ý.
Trước tiên là đuổi đi Tín Lăng quận vương vì “không làm việc đàng hoàng”, rồi ngay cả Lão Tống cũng chẳng chen được tay vào nữa, mọi việc lớn nhỏ của Lư Hội đều bị chàng nắm chặt trong lòng bàn tay.
Lư Hội tuy thuở nhỏ theo bên mẹ không đọc được bao nhiêu sách, nhưng đạo lý trong đời thì vẫn hiểu rõ. Mẹ thường nói: “Nếu chỉ là làm ăn, buôn bán, thì xem việc không cần xem lòng là đủ; nhưng nếu muốn kết giao bằng hữu thật sự, thì vừa phải xem lòng, vừa phải xem việc.”
Người mà lòng dạ chẳng tốt, dù việc làm có khéo đến đâu cũng không thể thân thiết lâu dài; kẻ miệng lưỡi gây tổn thương người, làm việc chẳng đâu ra đâu, dù trong tâm chẳng có ác ý, cũng chỉ có thể giữ một khoảng khách khí, không gần mà cũng chẳng xa.
Căn cứ vào đó mà xét, ông cậu giả của cô, nếu nói về việc, thì chỉ cần chàng muốn, việc gì cũng có thể làm đến mức hoa nở rực rỡ, ngay cả con chó mà Tử Liệt nuôi cũng phải hài lòng mà sủa ăng ẳng.
Nhưng nếu nói về tâm, thì ấy là một vùng đen tối đến mức đưa tay chẳng thấy ngón, hoàn toàn không thể nhìn ra được đường lối gì.
Y Lam từng nói, người họ Bùi kia vừa nhìn đã biết chẳng phải kẻ tốt; cha và mẹ thì bảo, người ấy tâm cơ sâu thẳm, không thể khinh thường; ngay cả Lão Tống cũng đã mấy lần đem chuyện “thiếu tướng” ra đùa giỡn. Thế nhưng không hiểu vì sao, Lư Hội lại mơ hồ mà tin tưởng chàng.
Bởi vì cô thật sự nhìn thấy trong đáy mắt chàng một mảnh xanh thẳm trong veo, chứ không phải sắc đỏ đục ngầu của lửa nghiệp sâu thẳm; cho nên cô tin, dù có là ma quỷ thật, thì cũng là một con quỷ lành.
Từ nhỏ mẹ đã hay chọc cô: “Con bé này vừa hiền vừa bướng, dù biết trước là đường chết, cũng nhất định phải đi đến cuối cùng mới chịu.”
Mỗi lần như thế, cô bé Lư Hội lại cố cãi: “Nhìn một chút thôi mà, có tốn bao công sức đâu.”
Cô chưa bao giờ là người thích tìm đường tắt, chỉ là muốn tận mắt nhìn xem —
vực sâu kia có thật sự dốc đứng đến soi bóng được người, đồng hoang kia có thật sự có linh hồn của những chiến sĩ xưa còn lang thang quanh quẩn. Trên đời có biết bao con đường, nếu chưa đi đến cùng, sao có thể biết chắc rằng đó là đường chết?
Ở trên người Bùi Thứ Chi, cô như thấy hai con người hoàn toàn khác biệt. Một người ôn hòa, tĩnh lặng, tinh tế, chu đáo, luôn biết nghĩ cho người khác; một người lại mưu sâu khó lường, âm u lạnh nhạt, khiến chẳng ai hiểu nổi rốt cuộc chàng đang toan tính điều gì.
Linh giác của thiếu nữ vốn rất nhạy bén. Nếu không, cô đã chẳng nhận ra ngay từ cái nhìn đầu tiên rằng Bùi Thứ Chi chính là thủ lĩnh áo đen trong đêm truy giết bọn cướp;
cũng sẽ chẳng lập tức vạch trần được lớp vỏ giả của “Tiết phu nhân” giả mạo.
Tiếc là cô chỉ cảm được những điều khác thường tinh tế ấy, chứ không biết phân tích hay giải tỏ chúng ra.
Ví như sáng nay, khi ông cậu giả biết cô vốn chẳng biết đan dây, ba sợi dây định thân khi trước đều là do thợ dệt làm giúp, cô còn tưởng sẽ bị mắng cho một trận nên thân.
Không ngờ ông cậu giả chẳng nói lấy một câu, chỉ hiện ra trên mặt một vẻ kỳ lạ khó tả: châm biếm, trêu chọc, bất lực, và xen lẫn một sự vui sướng mờ nhạt đến mức gần như khó nhận ra…
Là vui mừng sao?
Chàng vui mừng vì điều gì?
Vì phát hiện thêm một khuyết điểm của cô chăng?
Lư Hội ngẫm nghĩ mãi suốt hai canh giờ, vẫn chẳng hiểu được chút manh mối nào, đành gãi đầu bỏ cuộc.
Nâng tay vén rèm xe, chỉ thấy ánh tà dương xiên xuống, ráng đỏ nhuộm trời — huyện Thị Dương đã hiện ra ngay trước mắt!
