Chương 24: Tàn nhẫn, thực tế
*
Tạ Sùng gặp người bạn đời của Tưởng Vu lần đầu tiên là tại chính hôn lễ của cô ấy.
Đó là một người đàn ông nằm ngoài mọi sự tưởng tượng của Tạ Sùng.
Người đàn ông ấy gầy guộc, rắn rỏi với nước da sạm đen, nét mặt nghiêm nghị ít cười, và trên tay chẳng có lấy một vật ngoài thân. Chiếc nhẫn cưới anh ta trao cho Tưởng Vu chỉ là một vòng bạc trị giá mười tệ, ngoài ra chẳng còn gì khác nữa. Anh ta là huấn luyện viên thể thao mạo hiểm, từ trượt tuyết, lướt sóng, cưỡi ngựa cho đến nhảy dù, thỉnh thoảng còn kiêm luôn việc chụp ảnh du lịch. Anh ta tựa như cánh chim di trú giữa thế gian này tùy theo tâm trạng, nghèo khó mà tự do.
Anh ta chẳng giống bất kỳ ai từng theo đuổi Tưởng Vu trước đây, không phải hạng công tử xe sang, cũng chẳng phải gã nghệ sĩ lãng tử, đơn thuần chỉ là một người Tưởng Vu tình cờ gặp gỡ bên bờ biển, rồi ngay ngày hôm sau đã quyết định tiến tới hôn nhân.
Tạ Sùng không sao thấu hiểu nổi. Anh không hiểu vì sao Tưởng Vu lại đối xử với bản thân mình như thế, dường như cô đang mang trong lòng một mối thâm thù đại hận với chính mình.
Tiền Tụng cũng không tài nào hiểu được. Tiền Tụng nhìn người đàn ông kia, lén lút nói nhỏ với Tạ Sùng: “Thằng cha đó không phải là đang chơi thuốc đó chứ, sao trông cái bộ dạng kỳ khôi vậy? Nhìn cứ như con khỉ ấy!”
Thực ra người đàn ông kia chẳng hề khó xem, diện mạo đầy vẻ nam nhi đại trượng phu. Một đôi mắt to đầy vẻ hung hãn khắc sâu trên khuôn mặt góc cạnh rõ ràng, bờ môi mỏng lúc nào cũng mím chặt.
Tưởng Vu hỏi Tạ Sùng xem cảm thấy người nọ ra sao, Tạ Sùng đáp rằng chỉ cần cô thích là được. Tưởng Vu bèn khẽ nở nụ cười, nói rằng em vô cùng thích anh ấy. Tưởng Vu cảm thấy chồng mình hoàn toàn khác biệt với Tạ Sùng, Tạ Sùng quá đỗi lịch thiệp, hệt như một hình nhân giả tạo. Còn chồng cô lại chẳng hề lễ độ, mà vô cùng cuồng nhiệt.
Hôn lễ của bọn họ hầu như chẳng thể coi là một đám cưới đúng nghĩa, chỉ là bao trọn một quán rượu nhỏ, mười mấy người bạn cùng ngồi lại đó uống rượu. Người đàn ông kia có vài gã “bạn bè phong trần”, thảy đều là đồng nghiệp, những kẻ cuồng nhiệt môn thể thao mạo hiểm.
Tạ Sùng vốn dĩ không biết uống rượu, anh lặng lẽ ngồi đó, nhìn ngắm sự náo nhiệt trước mắt, mà bất giác nghĩ về cha mẹ của Tưởng Vu.
Mùa hè năm 1998, trang trại ngựa phát hỏa, ba của Tưởng Vu kéo bọn họ ra khỏi đám cháy, lúc quay lại cứu ngựa thì bị cột nhà đè trúng, bỏng nặng diện rộng, nằm viện suốt nửa năm trời, sau này mới trở lại trang trại làm việc. Bởi vết bỏng khiến gương mặt biến dạng sợ làm con trẻ kinh hãi, ông bèn chuyển sang làm công tác chăm nuôi tại trang trại.
Mùa hè năm 2004, ba của Tưởng Vu dắt ngựa ra bờ suối uống nước, chẳng may sẩy chân rơi xuống nước.
Có người bảo chẳng phải sẩy chân, nhưng người đã không còn, nói gì cũng chỉ là phỏng đoán mà thôi. Năm 2006, mẹ Tưởng Vu tìm được một công việc dắt ngựa ở Tân Cương, rời khỏi Bắc Kinh.
Năm 1998 Tạ Sùng vốn đã không còn học mã thuật, nhưng khi ấy anh chẳng có nơi nào dùng bữa, đôi khi không muốn ra hàng quán thì lại đến trang trại, ở lì trong ký túc xá. Ngày xảy ra trận hỏa hoạn ấy, món mà mẹ Tưởng Vu nấu cho anh chính là thịt cừu kho.
Mẹ của Tưởng Vu không đến tham dự hôn lễ của cô, cũng có khả năng là Tưởng Vu căn bản chẳng hề mở lời với bà.
Tiền Tụng cũng không uống rượu. Anh nhìn mấy gã bạn bè của chồng Tưởng Vu mà thấy chướng tai gai mắt. Đám người đó cứ như lũ điên khùng, hết nhảy lên lại ngụp xuống chẳng ra thể thống gì.
“Đúng là một lũ ngớ ngẩn.” Tiền Tụng suýt chút nữa đã nhổ toẹt một bãi khinh bỉ. Hành động ấy lọt vào mắt một kẻ trong đám, anh ta liếc mắt ra hiệu rồi dẫn theo những tên còn lại tiến đến ép Tiền Tụng đấu rượu. Tiền Tụng không muốn uống, gã nọ liền khích tướng: “Bạn bè của Tưởng Vu xem ra cũng chẳng ra hồn gì nhỉ.”
Tiền Tụng nghe vậy liền nổi đóa, cần gì phải đóng vai hiền lành tử tế, anh ấy định bụng sẽ nghênh chiến một trận rượu với bọn chúng. Tạ Sùng ra sức ngăn cản vì không muốn anh ấy hành động theo cảm tính, thế nhưng chồng của Tưởng Vu lại lên tiếng: “Uống một ly đi, tôi tin rằng các anh đang thành tâm dành lời chúc phúc cho Tưởng Vu.”
Tiền Tụng bị đẩy vào thế khó, những người bạn cùng học thể thao cưỡi ngựa năm xưa cũng đứng về phía anh ấy, bắt đầu cuộc tỉ thí rượu chè với đối phương. Chồng của Tưởng Vu cứ dán chặt mắt vào Tạ Sùng, hễ Tạ Sùng không uống, bọn họ lại xoay sang chuốc rượu Tiền Tụng. Trông thấy tình thế sắp sửa bùng nổ thành một trận ẩu đả, Tạ Sùng rốt cuộc cũng nâng ly rượu lên.
Vì Tiền Tụng. Và cũng vì không muốn phá hỏng ngày trọng đại của Tưởng Vu.
Tạ Sùng thầm nghĩ: Ba của Tưởng Vu là người nhân hậu đến nhường ấy, nếu linh hồn ông ở trên trời biết được hôn lễ của con gái mình bị thằng nhóc ngỗ nghịch mà năm xưa ông cứu sống phá hỏng, hẳn ông sẽ đau lòng biết bao. Thôi thì, xem như là để báo đáp ân tình vậy.
Một khi anh đã nhấc ly, đám người kia liền không ngớt lời ép anh phải uống cạn. Chồng của Tưởng Vu dường như có tư thù với Tạ Sùng, một mặt vừa tỏ vẻ thân thiết xưng huynh gọi đệ, mặt khác lại không ngừng nháy mắt ra hiệu cho kẻ khác chuốc rượu anh.
Tạ Sùng nhìn thấu cục diện trước mắt, biết rõ tình bạn bè giữa Tưởng Vu và nhóm học thể thao cưỡi ngựa bọn họ đã đi đến hồi kết, chồng cô sẽ chẳng đời nào muốn cô qua lại với bọn họ nữa. Lòng anh chợt dâng lên một nỗi xót xa âm ỉ.
Tưởng Vu vì cớ gì mà đến nông nỗi này.
Thế nhưng anh vẫn lẳng lặng uống rượu, gương mặt chẳng chút gợn sóng.
Lúc bấy giờ đã hơn ba giờ sáng, khung cảnh sớm trở nên hỗn loạn vô cùng. Anh rút điện thoại ra bảo mình cần gọi lại một cuộc, nhưng số còn chưa kịp bấm đã bị Tiền Tụng giật phắt lấy. Tiền Tụng nói, trên đời này hạng phụ nữ thầm thương trộm nhớ anh nhiều không kể xiết…
Tạ Sùng lồm cồm bò dậy từ phía ghế sô pha, giữ lấy Tiền Tụng mà phân trần: “Không phải như thế, không phải như vậy đâu…”
“Vậy thì là thế nào?” Tiền Tụng cũng đã say mướt: “Rốt cuộc là làm sao hả?”
“Tôi…” Tạ Sùng uống đến mức buồn nôn rã rời, cuối cùng mới thốt ra được một câu trọn vẹn: “Tôi thấy tiếc cho Tưởng Vu quá.”
“Tiếc thật…”
Tạ Sùng bám lấy tia lý trí cuối cùng, đưa những người bạn cùng học mã thuật rời khỏi quán rượu. Đêm đông Bắc Kinh cứ thế ập đến đầy bất ngờ. Mùa đông hiu hắt, gió lạnh thấu xương, bọn họ gục bên thùng rác mà nôn thốc nôn tháo. Đám bạn hỏi Tạ Sùng vì sao lại không để họ xông vào tính sổ với lũ kia, đúng là một lũ ngu ngốc hết chỗ nói.
Tạ Sùng đáp: “Huấn luyện viên Tưởng sẽ không vui.”
Mọi người thảy đều im lặng, sau cùng mỗi người bắt một chuyến xe rồi rời đi.
Tiền Tụng cứ lèm bèm đòi về nhà Tạ Sùng ngủ, rốt cuộc hai người đã quay về bằng cách nào, Tạ Sùng đã chẳng còn chút ấn tượng gì nữa rồi.
Ngày hôm sau anh ngủ cho đến tận giữa trưa, vừa chợp tỉnh đã nhớ mang máng Mâu Văn từng gọi điện cho mình. Lúc gọi lại, đầu dây bên kia chỉ còn là những thanh âm báo máy đã tắt nguồn. Anh lật xem nhật ký cuộc gọi, thấy trong đêm thâu mình đã liên tục gọi đi năm sáu lượt, mà cuộc gọi sau cùng quả thực đã được kết nối.
Lúc ấy là ba giờ sáng, vậy mà anh chẳng mảy may nhớ nổi mình đã thực hiện cuộc gọi đó. Anh gọi Tiền Tụng thức giấc để hỏi han, nhưng Tiền Tụng cũng ngơ ngác chẳng kém gì anh.
“Ba Đồ Lỗ gì chứ, Ba Đồ Lỗ là cái thứ gì, cậu nửa đêm nửa hôm gọi cho Ba Đồ Lỗ làm cái gì? Làm gì có chuyện đó đâu.” Tiền Tụng đã đáp lời như vậy.
Tạ Sùng trở mình đứng dậy thu xếp hành trang, chuẩn bị khởi hành sang Hồng Kông một chuyến để tham dự một buổi đấu giá.
Tạ Sùng từng nhận lời mời tham dự không ít buổi đấu giá, nhưng bản thân anh chưa bao giờ trực tiếp ra giá, mà chỉ thay người khác cầm bảng, mục đích thuần túy là để mở mang tầm mắt. Anh khơi gợi được bao nguồn cảm hứng từ những món bảo vật trong buổi đấu giá, để rồi khi trở về lại tự mình đặt bút phác họa, sau đó gửi đến xưởng sản xuất, hoàn tất mọi khâu từ thiết kế cho đến khi ra thành phẩm.
Lần này lại khác, chính Vương Tiên Hạc đã bỏ tiền mời anh đi. Anh vốn là khách hàng lớn của văn phòng luật chỗ Vương Tiên Hạc, hằng năm đều mang lại cho chị không ít lợi nhuận. Lần này Vương Tiên Hạc nói rằng Sotheby’s sắp đấu giá một món đồ sứ, người ủy thác của chị nhờ chị tìm người giúp đi xem hộ. Trong số khách hàng của Vương Tiên Hạc cũng có những nhà sưu tầm hay nghệ sĩ thực thụ, nhưng chị lại thấy một kẻ “ba không quản” như Tạ Sùng là thích hợp nhất, thế nên mới mở lời nhờ anh giúp một tay.
Tạ Sùng khó khăn lắm mới tóm được cơ hội để “gỡ gạc” lại từ chỗ Vương Tiên Hạc, anh vừa mở miệng đã đòi ngay một trăm nghìn, lại còn yêu cầu được ở tại khách sạn Four Seasons lâu đời. Vương Tiên Hạc đành bất lực mà chấp thuận yêu cầu của anh.
Sau khi thu dọn xong hành lý, Tạ Sùng lại gọi lại cho Mâu Văn, nhưng đầu dây bên kia vẫn chẳng thể kết nối. Anh lờ mờ cảm thấy dường như Mâu Văn đã xảy ra chuyện gì đó, bèn quyết định đến công ty tìm cô một chuyến. Vừa tới cửa công ty thì bắt gặp Lâm Vị Sâm, anh nán lại hàn huyên vài câu rồi hỏi thăm tình hình của cô trợ lý nhỏ Mâu Văn. Lâm Vị Sâm bảo rằng cô làm việc rất liều mạng, hôm nay đã đi đo đạc hiện trường rồi, đoạn hỏi lại Tạ Sùng có phải đang muốn tìm cô hay không.
Tạ Sùng nhìn thấy sự hiếu kỳ thoáng lướt qua trong mắt Lâm Vị Sâm, bèn đáp rằng mình không tìm, tôi với cô ấy cũng chẳng thân thiết gì.
“Có người bạn muốn trang trí nội thất, để khi khác tôi giới thiệu cho kỹ sư Lâm nhé.”
Nói đoạn, anh liền quay lưng rời đi.
Còn Mâu Văn, sau khi hoàn tất thủ tục thay đổi số điện thoại, cô liền quay về văn phòng, vùi đầu quyết chiến với dự án của “anh Chử”. Tiểu Cố từ bên ngoài trở về sau cuộc họp, trông thấy cô dường như muốn chúi hẳn đầu vào màn hình máy tính, bèn tiến lại phía sau nhẹ nhàng bóp vai cho cô, khuyên cô nên nghỉ ngơi một chút.
Mâu Văn nhận ra Tiểu Cố có vẻ không được vui, bèn hạ thấp giọng hỏi han: “Sao thế?”
Tiểu Cố kề sát vào tai cô thầm thì: “Chị bị trừ tiền thưởng hiệu quả rồi.”
“Sao lại thế được?”
“Tháng trước con nhỏ bị ốm nên chị phải xin nghỉ, thế là họ trừ luôn tiền chuyên cần của chị.” Tiểu Cố buồn bã đáp.
“Vô lý thật, chẳng phải chị đã đổi ca và làm bù rồi sao?” Mâu Văn thắc mắc: “Vì sao mà họ lại trừ của chị?”
“Ông chủ bảo nếu ai cũng làm thế, sau này mọi người đi làm đều tự ý đổi ca cho nhau thì nền nếp sẽ rối loạn cả lên.” Tiểu Cố khẽ thở dài: “Thôi cũng chẳng sao, chỉ bị trừ bốn trăm năm mươi tệ thôi mà.”
“Ông chủ nào cơ? Chẳng phải là do sư phụ em quyết định sao?” Mâu Văn nói: “Lúc trước sư phụ em xin nghỉ em đã trực thay cho… cũng đâu có bị trừ tiền chuyên cần đâu.”
“Trừ hay không sao em biết được?” Tiểu Cố khẽ nhéo Mâu Văn một cái: “Em đừng có lo chuyện bao đồng, em quên mất công ty yêu cầu phải bảo mật phiếu lương rồi hả?”
Mâu Văn thoáng chút bất bình, Tiểu Cố bèn bảo cô: “Em đừng có giận giùm chị làm gì, sau này bản thân em tự chú ý một chút là được rồi. Hiện tại chính sách quản lý của công ty thay đổi theo từng ngày, em phải cẩn thận đó.”
“Dạ.” Mâu Văn đáp: “Để em mời chị đi ăn, tụi mình đi ăn món gì thật ngon nha. Không được để bụng chuyện không vui nữa đâu đó.”
“Đi ăn Haidilao nhé.”
“Được luôn!” Mâu Văn sảng khoái nhận lời ngay.
Ngày hôm sau khi đến hiện trường, cô lại gặp lại anh Chử và chị Vương.
Chị Vương khẽ khàng nói nhỏ với Mâu Văn: “Anh Chử vốn chẳng hề tìm thêm bất kỳ công ty thiết kế nào khác đâu.”
Mâu Văn thoáng chút ngạc nhiên: “Vì sao vậy ạ? Chẳng phải trước đó anh ấy bảo là muốn so sánh các bản vẽ sao?”
Chị Vương mỉm cười: “Anh Chử nói rằng: Giữa chốn Bắc Kinh rộng lớn này mà gặp được một người đồng hương trẻ tuổi quả thật chẳng dễ dàng gì.” Nói đoạn, chị lại lộ vẻ thắc mắc: “Cô cũng là người Nha Khắc Thạch sao?”
Mâu Văn mỉm cười đáp lời: “Vâng, tôi cũng vậy.”
Chị Vương dường như đã hiểu ra.
Thiếu nữ trước mắt này quả thực quá đỗi thông minh. Cô chẳng hề để lộ chút sơ hở nào mà tung ngay ra quân bài “đồng hương”, khéo léo gạt phăng mọi đối thủ cạnh tranh khác ra khỏi cuộc chơi ngay từ đầu. Chị Vương vốn là người từng trải, nhìn người cực kỳ tinh tường, lúc này đây liền cảm thấy cô gái trẻ này quả thực không phải hạng tầm thường.
Ánh mắt cô sáng rực, tâm tư linh hoạt, một hạt mầm dã tâm tựa hồ đã mọc thêm đôi cánh, chực chờ vỗ mạnh để bay vút lên tận trời xanh.
Chị Vương chẳng hề chán ghét hạng người như thế, bởi lẽ chính bản thân chị cũng là người cùng một khuôn đúc ra.
“Cố gắng lên nhé, cô bé Nha Khắc Thạch.” Chị Vương trêu chọc cô: “Cô có thể tìm anh Chử để trò chuyện thêm về những yêu cầu của anh ấy, nếu không có trục trặc gì lớn thì tháng mười hai này có thể ký kết hợp đồng chính thức rồi đó.”
“Tuyệt quá! Cảm ơn chị.”
Mâu Văn xoay người đi tìm Chử Ngọc Khê.
Chử Ngọc Khê đang rảo bước trên mảnh đất trống, từng bước từng bước một như thể đang đo đạc thứ gì. Trông thấy Mâu Văn, anh ấy liền cất tiếng hỏi cô: “Hiện giờ ngựa ở khu chăn thả còn nhiều không?”
Nhắc đến khu chăn thả, Mâu Văn liền trở nên phấn chấn hẳn lên. Cô chạy tót đến trước mặt Chử Ngọc Khê, hào hứng kể cho anh nghe những con ngựa nơi vùng thảo nguyên oai dũng đến dường nào, người dân du mục nặng lòng với ngựa ra sao, ngay cả thuở này họ vẫn thường cưỡi ngựa xuống phố dạo chơi. Trên những nẻo đường tại Nha Khắc Thạch, việc bắt gặp những người dân chăn nuôi cưỡi ngựa rong ruổi vốn là chuyện thường tình.
Chử Ngọc Khê khẽ gật đầu. “Ông nội tôi vốn là dân du mục.”
Chử Ngọc Khê bộc bạch: “Nhưng từ năm năm tuổi tôi đã rời khỏi khu chăn thả rồi, những chuyện ngày cũ chẳng còn nhớ rõ được bao nhiêu. Tôi cũng không cách nào tìm lại được họ.”
“Nếu anh Chử muốn biết thêm, hoặc là muốn tìm kiếm một ai đó, anh cứ việc cho tôi hay. Ba tôi vốn là một ‘người thông tường’ đất Nha Khắc Thạch, ông ấy từng lái chiếc xe nhỏ của mình đi khắp dải Hulunbuir và Đại Hưng An Lĩnh, quen biết không biết bao nhiêu mà kể.” Mâu Văn nói tiếp: “Tiệm bánh bao của mẹ tôi cũng là một trạm trung chuyển tin tức lợi hại lắm đó.”
“Được thôi. Nếu như tôi có ý định tìm kiếm.” Chử Ngọc Khê lại tiếp tục công việc đo đạc trên mặt đất, Mâu Văn bèn dè dặt ướm hỏi: “Anh… định trồng rau… phải không?”
Chử Ngọc Khê lại đưa mắt nhìn Mâu Văn thêm một lần nữa, nhưng rốt cuộc anh ấy vẫn không đáp lời cô.
Thế là Mâu Văn cứ lặng lẽ đứng yên tại đó, kiên nhẫn chờ đợi Chử Ngọc Khê cất lời với mình. Cô cảm nhận được rằng sự im lặng của Chử Ngọc Khê tuyệt nhiên không phải vì thói kiêu căng ngạo mạn, mà là bởi anh ấy đang mải mê chìm đắm trong một dòng suy tưởng nào đó. Lần này, Mâu Văn đã không còn cảm thấy e sợ Chử Ngọc Khê như dạo trước nữa.
Lúc chia tay, cô xin chị Vương địa chỉ, để rồi ngay khi vừa về đến công ty, cô liền gửi tặng chút sản vật quê hương, nhờ chị Vương chia sẻ cùng anh Chử.
Chử Ngọc Khê đã chủ động gọi điện cho cô để bày tỏ lòng cảm kích về món quà quê nhà ấy. Trong điện thoại, anh ấy bộc bạch: “Tôi chợt nhớ lại khung cảnh mình ngồi uống trà sữa nơi thảo nguyên thuở còn nhỏ. Cảm ơn kỹ sư Mâu đã giúp tôi tìm lại những ký ức tuổi thơ.”
Mâu Văn chân thành giãi bày: “Ngày mới chân ướt chân ráo đến Bắc Kinh, tôi đã nếm trải không ít chuyện muộn phiền. Mỗi lúc lòng không được vui, tôi lại mang chút đặc sản quê mình ra nhấm nháp, rồi tự dưng thấy lòng nhẹ nhàng hẳn lên.” Cảm giác ấy cứ như thể quê hương đang đứng ngay phía sau lưng cô vậy.
Chử Ngọc Khê đáp lời: “Vậy thì tôi cảm ơn cô nhiều. Đợi đến tháng mười hai khi tiền của tôi về tài khoản, chúng ta có thể tiến hành ký kết hợp đồng và thanh toán khoản trả trước.”
“Cảm ơn anh Chử, chuyện đó không cần vội đâu ạ, trước tiên tôi cứ phải hoàn thành công việc này thật chỉn chu và tốt đẹp đã.”
Cô thực sự đã bận rộn suốt mấy ngày liền. Có đôi khi tâm trí chợt thoáng hiện bóng hình Tạ Sùng, cô lại rút điện thoại ra, ngón tay đặt hờ lên số máy của anh, định bụng sẽ gọi. Thế nhưng ngay sau đó, cô lại úp ngược chiếc điện thoại xuống mặt bàn.
Mâu Văn nhận ra rằng nỗi nhớ nhung cũng có thể kiểm soát được. Cô có thể tự sắp xếp cho mình bộn bề những công việc khác, để bản thân quay cuồng như một con quay, cứ thế mà hất văng Tạ Sùng ra khỏi tâm trí.
Vào một ngày đầu tháng mười hai, cô trở về nhà sau ca làm đêm muộn, bỗng bắt gặp một bóng hình quen thuộc ngay trước cửa nhà.
Dẫu chỉ là một cái nhìn thoáng qua, Mâu Văn vẫn có thể nhận ra ngay đó chính là Tạ Sùng. Tạ Sùng lặng lẽ đứng đợi cô dưới gốc cây nơi lối vào khu chung cư. Giữa tiết trời đông hiu hắt, chiếc khăn choàng cổ màu xám khói của anh lại trở thành điểm nhấn sắc màu duy nhất nổi bật giữa đêm đen.
Mâu Văn thầm nghĩ: Tạ Sùng lại có thời gian để đến làm bạn với mình rồi đây. Thế nhưng vào lúc này, trong lòng cô chẳng còn sót lại chút khát khao mãnh liệt nào để chủ động bước về phía anh nữa.
Cô tiến lại gần rồi cất lời: “Tạ Sùng, đã lâu không gặp anh.”
“Chừng một tháng rồi nhỉ.” Tạ Sùng đáp: “Tôi vừa đi công tác, ghé qua Hồng Kông, Tokyo rồi sang cả Luân Đôn.”
Có lẽ Mâu Văn lại thay số điện thoại mới, nhưng cô chẳng hề thông báo, cũng không hề liên lạc với anh. Anh đã gọi cho cô vài lần, nhưng hết thảy đều không thể kết nối. Tạ Sùng cảm thấy Mâu Văn quả là một người kỳ lạ, cô thay số điện thoại xoành xoạch mà chẳng buồn báo cho ai hay, cứ như thể giữa chốn Bắc Kinh rộng lớn này, cô chẳng thiết tha giữ mối liên hệ dài lâu với bất kỳ ai vậy.
“Thế nào? Chuyến đi của anh vẫn suôn sẻ chứ?” Mâu Văn hỏi anh.
“Cũng ổn.” Tạ Sùng gỡ một chiếc túi đương treo trên cành cây rồi đưa cho cô: “Quà phương xa cho cô này.”
“Ồ, tôi cảm ơn.” Mâu Văn nhận lấy món quà, đôi mắt khẽ ngước nhìn Tạ Sùng.
“Đêm trước ngày tôi lên đường, cô có gọi cho tôi, nhưng lúc tôi gọi lại thì không thể nào kết nối được nữa. Ngày hôm đó đã xảy ra chuyện gì sao?” Tạ Sùng hỏi.
Mâu Văn trầm ngâm một lát rồi khẽ lắc đầu: “Không có gì đâu, là tôi lỡ tay bấm nhầm thôi. Nếu thực sự có chuyện thì tôi đã gọi lại cho anh rồi.”
“Cô lại làm mất điện thoại nữa à?”
“Lần này thì không. Chỉ là tôi thay số mới thôi.” Mâu Văn đáp lời. Thế nhưng cô cũng chẳng buồn giải thích thêm, bởi cô thầm nghĩ hẳn là Tạ Sùng cũng chẳng mấy bận tâm đến chuyện này.
Tạ Sùng để tay trong túi áo khoác thật lâu, sau cùng mới rút điện thoại ra đưa cho Mâu Văn, bảo cô hãy nhập phương thức liên lạc mới của mình vào máy.
“Ủa?” Mâu Văn khéo léo trêu chọc anh: “Chẳng phải anh vốn dĩ nghe qua là nhớ mãi sao! Tôi chỉ việc nói cho anh nghe là được rồi mà.”
“Chẳng cần phải ghi nhớ số của cô làm gì, đằng nào thì qua vài ba bữa nữa, cô cũng lại thay số điện thoại khác thôi.”
Mâu Văn khẽ gật đầu, chậm rãi nhập số điện thoại mới của mình vào máy Tạ Sùng. Tạ Sùng cất điện thoại vào túi rồi buông lời: “Có việc gì thì cứ giữ liên lạc nhé.” Nói đoạn, anh liền quay bước rời đi.
Mâu Văn trở về nhà, nhẹ nhàng mở chiếc túi mà Tạ Sùng trao cho.
Bên trong là chiếc khăn choàng bằng len cashmere đến từ Luân Đôn, bánh quy kẹp “Người Tình Tuyết Trắng” của Nhật Bản, cùng món bánh bướm đặc sản của Hồng Kông. Hết thảy món nào cũng đều tinh tế và đẹp đẽ vô ngần. Cô nhận thấy ngay chính giữa chiếc hộp thiếc của thương hiệu “Người Tình Tuyết Trắng” là một bức tranh màu nước khắc họa hình ảnh chú cừu nhỏ đứng giữa đồng cỏ bao la, trông thật là đẹp mắt.
Khi Sở Lăng trở về, cô liền tíu tít khoe với bạn: “Sở Lăng cậu nhìn xem, cái hộp bánh Người Tình Tuyết Trắng này có in hình quê mình nè.”
“Hàng đặt làm riêng mà!” Sở Lăng thốt lên: “Nhìn một cái là biết kiểu đặt làm theo yêu cầu ngay tại chỗ rồi.”
“Hả?”
Sở Lăng bật cười, mở máy tính ra rồi tìm kiếm hình ảnh nguyên bản của chiếc hộp cho cô thấy. Mâu Văn ôm khư khư chiếc hộp thiếc vào lòng, thầm nghĩ: Hóa ra trong suốt chuyến công tác dài đằng đẵng ấy, cũng có đôi ba khoảnh khắc Tạ Sùng đã nhớ đến mình.
Anh ấy cũng đã từng nghĩ đến mình như thế.
Ba ngày sau, Mâu Văn quàng chiếc khăn len cashmere mà Tạ Sùng trao tặng rồi lên đường đi làm. Ngày hôm nay tâm trạng cô vô cùng phấn chấn, bởi anh Chử sắp đến công ty để ký kết hợp đồng dịch vụ và thanh toán năm mươi nghìn tệ tiền cọc, sau khi phương án trang trí cuối cùng được đôi bên xác nhận, các khoản còn lại sẽ được chi trả theo từng giai đoạn.
Đang trên đường, Mâu Văn nhận được điện thoại từ một khách hàng, bảo rằng hệ thống cấp thoát nước và sưởi ấm ở nhà bị lắp sai lệch, muốn cô ghé qua hiện trường kiểm tra một lát, Mâu Văn liền đáp lời đồng ý. Cô liếc nhìn đồng hồ, thấy thời gian vẫn còn kịp nên ghé qua chỗ khách hàng trước. May mắn thay đó chỉ là một phen hú vía, chẳng có vấn đề gì xảy ra, đơn giản là khách hàng đã nhìn nhầm bản vẽ. Đến khi cô tất tả quay về công ty thì phòng họp đã sớm vắng tanh không một bóng người.
Cô gọi điện cho chị Vương, đầu dây bên kia cho hay hợp đồng đã được ký kết xong xuôi, vô cùng mong đợi sự hợp tác lần này.
Mâu Văn linh cảm có điều chẳng lành, cô tìm đồng nghiệp để xem lại bản hợp đồng, thì thấy tại phần điều khoản bổ sung, tên của kiến trúc sư chủ trì lại đề rành rành: Lâm Vị Sâm.
Mâu Văn không tài nào hiểu nổi, cô trực tiếp đi tìm Lâm Vị Sâm. Lâm Vị Sâm nói với cô: “Anh Chử là một khách hàng có thực lực, em đảm nhận vai trò kiến trúc sư chủ trì thì tư cách còn quá non nớt. Công ty sẽ trích cho em 10% tiền thưởng dịch vụ, những việc còn lại em không cần phải bận tâm nữa.”
Mâu Văn ngẩn người.
Trước đây cô vẫn thường nghe Sở Lăng kể về những màn thao túng ngầm nơi công sở, khi ấy cô còn thốt lên rằng thật đáng ghê tởm, sao người ta có thể làm như vậy được chứ? Chẳng ngờ được rằng, trong một tương lai không xa, chính cô lại vấp phải một sự việc còn ghê tởm hơn thế nhiều: đó là cướp đoạt công khai.
Đã là cướp đoạt trắng trợn, vậy mà lời lẽ thốt ra lại vẫn cứ đường hoàng, mỹ lệ đến thế.
Lâm Vị Sâm lúc này mới lên tiếng: “Văn Văn à, sư phụ đã dìu dắt em từ những ngày em còn là thực tập sinh. Sư phụ biết năng lực của em rất khá, nhưng vào lúc này, thực sự em vẫn chưa đủ sức để phục vụ một khách hàng lớn như vậy đâu. Đây là lần cuối cùng sư phụ dẫn dắt em, coi như là tiễn em thêm một đoạn đường, sau này em có thể tự mình hành nghề được rồi.”
“Em cảm ơn sư phụ. Nếu đã như vậy, vị trí kiến trúc sư chủ trì cứ để em đảm nhiệm, rồi sư phụ chỉ dẫn thêm cho em, em sẽ trích lại cho sư phụ mười phần trăm tiền thưởng, có được không? Sư phụ à, em mới chân ướt chân ráo đến Bắc Kinh, em thực sự rất cần khoản tiền này.”
“Em mà làm hỏng mối khách này thì coi như trắng tay!” Lâm Vị Sâm nói: “Sư phụ là vì muốn tốt cho em thôi. Nếu em cảm thấy anh làm sai, em có thể tìm ông chủ để mà đối chất.”
Mâu Văn đã hiểu thấu, một khi bọn họ đã dám làm tới mức này thì thảy đều đã cấu kết với nhau từ trước. Bọn họ chính là đang ức hiếp cô phận gái đơn côi giữa chốn Bắc Kinh chẳng có gì trong tay, đinh ninh rằng dẫu cô có phải chịu đựng nỗi uất ức thấu trời xanh này thì cũng sẽ chỉ biết mỉm cười mà nuốt đắng cay vào lòng.
Phải rồi, bọn họ đã đoán đúng, Mâu Văn khẽ mỉm cười rồi nói: “Vậy thì làm phiền sư phụ vất vả rồi, nếu sau này công việc suôn sẻ, mong sư phụ có thể trích thêm cho em chút tiền thưởng.”
Mâu Văn bước chân ra khỏi công ty, suýt chút nữa đã bị cơn gió lớn hất cho ngã nhào.
Đêm đông Bắc Kinh nổi trận cuồng phong, những tấm biển quảng cáo bị gió lật tung để lộ ra cả phần khung lưng trơ trọi, những cành cây bị bẻ gãy cuốn lên tận trời cao rồi lại rơi xuống vắt vẻo nơi nào đó, những chiếc túi nilon cuối cùng cũng được tự do mà bay lơ lửng giữa không trung, con người cũng chẳng còn ai hiên ngang rảo bước mà thảy đều phải khom lưng bó gối, ôm chặt lấy vai mình mà lầm lũi bước đi đầy vẻ nhếch nhác.
Cơn gió lớn lật ngược cả bộ mặt của Bắc Kinh. Mọi thứ chẳng còn giữ được vẻ thanh tao thường nhật nữa.
Từ nhỏ Mâu Văn vốn đã là người hiếu thắng, kẻ khác cướp đoạt thứ gì của cô, cô nhất định phải giành lại cho bằng được, đã thích điều gì thì sẽ nỗ lực đạt cho bằng được điều đó, cô chẳng bao giờ cam tâm chịu thiệt thòi trong thầm lặng. Thế nên, cô cũng chưa từng biết rằng cái vị đắng của nỗi uất ức không lời lại khó nuốt trôi đến nhường ấy.
Giờ thì cô đã thấu rõ rồi.
Cô lầm lũi bước đi trong đêm lộng gió, cố gắng rũ bỏ cái cảm giác ghê tởm khi bị người ta chèn ép. Không được, cô chẳng thể nào cứ thế mà cam chịu cho qua chuyện.
Đúng lúc này Tạ Sùng gọi điện tới, Mâu Văn thuận tay ngắt máy ngay lập tức, cô chẳng muốn nghe, cũng chẳng thiết tha trò chuyện cùng bất kỳ ai. Cô dừng bước, lặng lẽ đứng giữa làn gió lạnh căm căm một hồi lâu, trong khoảnh khắc ấy, trong tâm trí cô dâng lên hàng vạn suy nghĩ ngổn ngang, mỗi một suy nghĩ đều là những đường lui hay hướng đi mà cô đang khao khát tìm cầu.
Cô gọi điện thoại lại cho Tạ Sùng.
Tạ Sùng nghe thấy tiếng gió rít gào qua điện thoại, bèn hỏi cô: “Cô đang ở đâu vậy?”
“Tôi đói quá, tôi muốn ăn chút gì đó.” Mâu Văn nói: “Tôi có thể sang nhà anh kiếm cái gì lót dạ không? Nhà anh có sẵn đồ ăn không? Bằng không tôi tự tay làm cũng được.”
Giọng cô có chút khàn đặc, tựa như đang dồn nén điều gì đó. Tạ Sùng lo lắng cô gặp chuyện chẳng lành, bèn bảo: “Được rồi. Để tôi đi đón cô.”
“Thôi không cần đâu. Tôi tự đi được rồi.”
Mâu Văn vẫy một chiếc taxi, đây là một lần chủ động gọi xe hiếm hoi của cô.
Chiếc taxi cứ thế lăn bánh hướng về phía Vạn Liễu, Mâu Văn vẫn luôn đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ. Cõi lòng cô không ngừng giằng xé, cho đến lúc bước xuống xe, cô lại bị một cơn gió thốc tới làm cho rùng mình tỉnh sáo.
Cô thầm nghĩ: Nếu nhất định phải có một người giành phần thắng, vậy tại sao người đó lại không thể là mình? Cớ gì kẻ chiến thắng ấy chẳng thể là mình cho được?
Cô nhấn chuông cửa nhà Tạ Sùng, ngay khoảnh khắc anh vừa mở cửa, cô đã tiến tới và đặt lên môi anh một nụ hôn nồng cháy!
Đầu óc Tạ Sùng trong phút chốc như nổ tung, trận cuồng phong ngoài kia dường như cũng cuốn phăng và lật nhào cả thế giới của anh. Anh đột ngột ghì chặt Mâu Văn vào lòng, mãnh liệt đáp lại nụ hôn của cô với tất thảy sự khao khát nôn nóng.
Cô dường như đã thoáng chút hối hận, cơ thể hơi ngả ra sau định tìm cách né tránh. Anh đưa tay siết chặt lấy gáy cô, ép cả người cô dán chặt lên cánh cửa, rồi tham lam dây dưa nơi đầu lưỡi trong khoang miệng cô.
Hoảng loạn, luống cuống, vụng về mà cũng đầy lỗ mãng, anh để mặc cho ý chí dẫn dắt mà hôn lấy cô, chẳng buồn chất vấn vì sao cô lại hành động như vậy. Hơi thở dường như cạn kiệt, hai gò má áp chặt vào nhau mà thở dốc, rồi anh lại nghiêng đầu, ngậm lấy bờ môi cô.
Trong lòng Mâu Văn là những dòng nước cuồn cuộn cùng tiếng gào thét vang dội, tất cả chúng đều muốn tranh nhau vọt ra ngoài. Cô biết điều này chẳng có gì là sai trái cả!
“Làm bạn cũng không sao.” Mâu Văn vòng tay ôm lấy cổ Tạ Sùng mà nói: “Làm bạn cũng chẳng hề gì.”
“Chỉ cần là anh thôi.” Cô thầm thì lầm bầm.
Thế nhưng trong lời nói ấy của cô, lại vắng bóng đôi phần chân tình. Bản thân cô thấu rõ, còn anh thì chẳng hề hay biết.
Chú thích:
Nguồn gốc của thương hiệu bánh “Người Tình Tuyết Trắng”: https://mirachan.kitchen/bi-mat-ve-banh-shiroi-koibito.html
