Chương 34: Quê nhà: Xốc nổi, ranh mãnh
*
Năm Tạ Sùng hai mươi tuổi, anh từng muốn trở thành một gã du mục ba lô, và nơi đầu tiên anh mơ ước được đặt chân đến chính là đất nước Mông Cổ. Thế nhưng ngay trước ngày khởi hành một hôm, Tiền Tụng gặp tai nạn xe, bị chấn động não, chuyến đi đành phải hủy bỏ.
Gã du mục chẳng thành, Ulaanbaatar cũng lỗi hẹn. Về sau, anh đã đi qua không biết bao nhiêu miền đất, rồi cũng dần lãng quên Mông Cổ ở tận phía sau đầu.
Vào ngày hôm nay, anh chợt tìm lại được cái cảm giác của một gã du mục ba lô năm nào.
Chiếc xe họ lái đến vùng thảo nguyên chăn thả là xe của Mâu Đức Xương.
Lời nguyên văn của Mâu Đức Xương là: “Xe của con tốt lắm, cũng to nữa, cơ mà chiếc xe nhỏ của ba lại quen đường đất thảo nguyên hơn. Nhỡ đâu có lúc con lái không quen tay, quẹt trúng gầm xe, tiền sửa sang lại tốn kém dữ lắm.”
Tạ Sùng vui vẻ đón nhận tấm chân tình ấy của Mâu Đức Xương.
Trên xe của họ chở đầy những rượu, thuốc lá, trái cây, rau củ và cả đồ ăn vặt. Mâu Văn ngồi ở băng ghế sau, cái miệng cứ ăn liên miên không ngớt.
Thấp thoáng từ đằng xa, những làn khói bếp đã lọt vào tầm mắt.
Mâu Đức Xương giới thiệu với Tạ Sùng: “Đằng kia chính là vùng chăn thả rồi. Thời buổi này, những khu chăn nuôi như vậy hiếm gặp lắm, phần lớn họ đều đã dọn về định cư ở các làng bản cả rồi. Số dân du mục còn thiết tha dựng lều bao Mông Cổ, rong ruổi dời nhà theo nguồn nước ngọn cỏ ngày một thưa thớt dần.” Nói xong, ông khẽ thở dài một tiếng: “Dân du mục già thì bám đất bám thảo nguyên không rời, ngặt nỗi người trẻ bây giờ lại thích cuộc sống yên ổn hơn.”
Hồi còn nhỏ, tình cảm mà Mâu Văn dành cho vùng thảo nguyên chăn thả này vốn đã rất phức tạp.
Cô thích đến vùng chăn thả này chơi lắm, nơi đây có cơ man nào là ngựa, bò, cừu và lạc đà, khiến cô ngày nào cũng bận rộn luôn tay luôn chân. Chuyện mưu sinh của người lớn bỗng chốc hóa thành trò chơi của cô con gái nhỏ. Cô thích lùa cừu, vắt sữa bò, thích dắt díu bầy lạc đà đi uống nước. Dưới lăng kính của cô, hết thảy đều là trò chơi nhà chòi trẻ con. Ngặt nỗi, chỉ cần ở lại đây quá ba ngày là cô sẽ ngã bệnh, do không được ăn uống đủ đầy trái cây rau củ, bờ môi cô bắt đầu nứt nẻ, bong da, rồi lại đổ máu cam. Những khi ấy, cô lại bắt đầu thấy nhớ nhà.
Làn khói bếp mỗi lúc một gần, và rồi những nếp lều bao Mông Cổ cũng hiện ra ngay trước mắt.
Chúng đứng sừng sững giữa khoảng trời đất bao la, bao quanh là những chiếc hàng rào to rộng. Thuở này đang là ban ngày, chuồng cừu trống trơn trống hoác. À không phải, vẫn còn ba con cừu non đang bị buộc vào hàng rào, trên cổ thắt sợi dây màu đỏ, đang kêu be be.
Phía trước lại có một tốp người đang đứng xếp thành một hàng ngay ngắn.
Tạ Sùng hỏi Mâu Đức Xương: “Chú đầu tiên có nước da đen nhẻm tên gì vậy ba? Còn dì thứ hai có lúm đồng tiền bên má trái tên gì vậy ba?…”
Anh sợ bản thân không nhớ nổi sẽ làm người ta phật lòng. Mâu Đức Xương lại cười nói: “Cứ gọi bừa đi, dù gì buổi tối uống say khướt rồi, kiểu gì cũng gọi loạn cả lên thôi.”
Mâu Văn đã chạy ào đến ôm lấy chú cừu non rồi. Cô ôm chầm lấy cổ chú cừu non, bắt chước tiếng chúng kêu be be, giải cứu chúng ra khỏi chiếc hàng rào. Dây thừng vừa lỏng ra, chú cừu non cứ ngỡ mình đã được tự do, chú cừu nhỏ trắng muốt tựa như một đám mây nhỏ nhắn liền chạy thoăn thoắt đi mất với dáng vẻ xiêu xiêu vẹo vẹo.
Mâu Văn đuổi theo sau, bỏ lại nghi thức chào đón dài dòng ở phía sau lưng.
Nơi đó hẳn là đang ca múa rộn ràng, dâng khăn khát đạt, rồi tiếp tục kéo người ta vào trong lều bao Mông Cổ để uống trà sữa, nhâm nhi gạo rang cùng thịt bò khô và trò chuyện rôm rả.
Lúc Mâu Văn ôm chú cừu nhỏ quay trở về, Tạ Sùng đã uống cạn chén rượu đầu tiên rồi.
“Mặt trời còn chưa xuống núi nữa mà.” Mâu Văn nói: “Để trễ chút rồi hãy uống, cho anh ấy đi luộc thịt cừu với con.”
Cách họ luộc thịt cừu chính là bắc một chiếc bếp dã chiến ngay giữa đất trời bao la. Trong nồi đổ đầy nước sạch, rồi thả từng tảng thịt cừu đã được xẻ sẵn vào luộc. Cứ phải liên tục đượm thêm củi khô, ngọn lửa cháy bập bùng nghe bôm bốp tách tách, trông vui mắt vô cùng.
Tạ Sùng chẳng mấy hiểu được lời các người dân du mục nói, anh ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ, than vãn với Mâu Văn: “Cùng là Nội Mông cả, sao mà mỗi vùng miền lại nói một giọng khác nhau thế em nhỉ? Hồi anh ở Nha Khắc Thạch còn hiểu được người ta nói gì, qua tới bên này lại điếc đặc luôn rồi.”
“Vậy thì anh chỉ có nước bám sát theo em thôi. Em chính là cô nàng thông dịch viên nhỏ của anh đó nha.” Mâu Văn đứng phắt dậy, vênh váo tự đắc nói: “Đi thôi, cái đuôi nhỏ ơi, chúng mình ra bờ sông gánh nước nào.”
“Em cũng có biết nói đâu, giỏi lắm thì bập bẹ được vài ba từ đơn độc chứ mấy.” Tạ Sùng phũ phàng vạch trần cô.
“Nhưng em nghe hiểu được, còn anh hiểu được không?”
“Không.”
Hai người bọn họ cứ vừa đấu khẩu vừa chuẩn bị đi kéo nước.
Mâu Văn tìm đâu ra một chiếc xe đẩy nhỏ rồi đẩy đi.
Tạ Sùng vốn dĩ định bụng phụ giúp cô một tay, bảo cô buông ra để anh đẩy cho. Ngặt nỗi cái xe đẩy này chẳng chịu nghe lời, cứ thích đi đường vòng vèo uốn lượn. Tạ Sùng đẩy chiếc xe ấy lao bạt mạng trên đồng cỏ, nhìn trân trân nó ngày càng rời xa con suối nhỏ, Mâu Văn lẽo đẽo theo sau anh mà cười đến quặn cả ruột gan.
Trầy trật mãi mới đẩy được chiếc xe ra đến bờ suối, Tạ Sùng liền bị cảnh sắc nơi đây hớp hồn. Bên bờ suối sừng sững một cây cổ thụ, tán lá to rộng đến vô ngần, cành xum xuê lá tươi tốt, những nhành cây là là sà xuống gần chạm mặt đất, trông tựa như một cây nấm khổng lồ.
Tạ Sùng ngồi xổm bên bờ suối rửa tay, vốc một ngụm nước suối nếm thử, vị ngọt lành thanh khiết. Múc nước xong xuôi, anh chằng buộc kỹ càng lên chiếc xe nhỏ, vừa dợm bước đẩy đi thì lại nghe thấy Mâu Văn buông lời trêu chọc mình.
“Nhỡ mà người ta biết được cậu ấm họ Tạ đây không biết đẩy xe, chẳng phải sẽ cười chê anh chết mất sao?” Mâu Văn vừa nói vừa làm điệu bộ nhại lại dáng vẻ của Tạ Sùng: “Ái chà chà, cái xe này nó tự mọc chân rồi kìa!”
Cô chẳng biết mò đâu ra một chiếc khăn để trùm lên đầu, gương mặt bị cái nắng hanh hanh rọi vào đỏ ửng, nhìn qua cứ ngỡ một thiếu nữ người dân du mục chính hiệu.
Tạ Sùng bị cô trêu cho phát cáu, anh liền quăng ngang chiếc xe đẩy, hai thùng nước lăn lóc văng ra ngoài, nước đổ lênh láng cả một vùng, anh cũng chẳng thèm đoái hoài tới, lập tức co giò đuổi theo Mâu Văn.
Mâu Văn hét toáng lên một tiếng rồi bỏ chạy thục mạng. Tạ Sùng lần này quyết không nhường nhịn cô nữa, chưa đầy mười mấy giây đã tóm gọn lấy cổ tay cô, dùng lực kéo mạnh một cái liền lôi cô trở lại, ghì chặt lấy vòng eo thon. Bản tính chẳng chịu thua, Mâu Văn ra sức đẩy anh ra, thế là cả hai cùng ngã nhào trên nền cỏ xanh.
Những ngọn cỏ cao vút bạt ngàn ấy đã khéo léo giấu nhẹm hai người họ đi.
Tạ Sùng đè chặt Mâu Văn lên lớp cỏ mềm mại êm ái.
Cả hai người bọn họ đều thở dốc hổn hển, bắp chân Mâu Văn vô tình bị ngọn cỏ nhọn hoắt đâm trúng, cơ thể cô khẽ cựa quậy vì khó chịu.
“Đừng động đậy.” Tạ Sùng trầm giọng bảo.
Ánh nắng mặt trời len lỏi qua từng kẽ lá của vạt cỏ rậm rạp, theo từng cơn gió thoảng qua, những vệt sáng ấy cứ lay động nhịp nhàng trên gương mặt của Mâu Văn. Tạ Sùng rút từ trong túi quần ra một mảnh khăn giấy ướt, hai cánh tay chống sang hai bên đầu cô, bắt đầu chậm rãi lau sạch đôi bàn tay mình.
Nhịp thở của Mâu Văn trở nên thật khẽ khàng, cô thầm thì bảo: “Anh cấn trúng người em rồi.”
“Chỗ này sao?” Tạ Sùng cố tình nén người xuống thấp hơn, lên tiếng hỏi cô.
Mâu Văn khẽ khàng hừ nhẹ một tiếng, cô ngước gương mặt lên trao cho anh một cái hôn. Khi gương mặt cô vừa lùi lại, Tạ Sùng liền rướn người theo sát không rời.
Anh lao vào hôn cô như một kẻ điên cuồng si.
Nụ hôn này hoàn toàn khác biệt so với những cái hôn trước đây của anh, anh ngấu nghiến bừa bãi, gặm nhấm lấy bờ môi, vành tai cho đến chiếc cằm của cô một cách hỗn loạn, chẳng màng đến chương pháp gì nữa.
Thân hình anh ngày một đè nặng xuống, ghì chặt đến mức khiến Mâu Văn chẳng còn lấy một đường lui. Thừa lúc ấy, bàn tay anh đã chậm rãi vén nhẹ tà váy của cô lên, cứ thế lướt dần lên phía trên.
Những vệt sáng tối nhảy múa trên đôi chân mượt mà, trắng ngần của cô, những ngọn cỏ cứ liên tục mơn trớn qua làn da nơi cổ chân, nhồn nhột làm sao. Cô khẽ dịch chân ra ngoài để né tránh, ngặt nỗi hành động ấy lại vô tình tạo cơ hội cho bàn tay anh thừa cơ lấn tới.
Anh đã len lỏi vào sâu bên trong, nhẹ nhàng mơn trớn, chạm khẽ vào cơ thể cô.
Mâu Văn ngước nhìn những đám mây trên tầng không, dường như chúng đang sà xuống ngày một thấp hơn. Áng mây ấy như sắp sửa sà xuống, chuẩn bị rơi rụng ngay trên thân hình cô.
“Tạ Sùng, Tạ Sùng, Tạ Sùng.” Cô cứ liên tục gọi tên anh không ngớt.
“Anh đây.” Tạ Sùng vẫn chăm chú dõi theo những vệt sáng tối trên gương mặt cô, chẳng biết vì e ngại ánh nắng rọi vào hay đang muốn khước từ anh mà đầu cô cứ khẽ lắc lư qua lại, còn anh thì trầm giọng thầm thì gọi tên cô trong niềm mơ màng.
Anh lót một cánh tay xuống bên dưới thân mình cô, giúp cô tách khỏi nền cỏ thô ráp, còn bàn tay kia thì vẫn không ngừng tìm tòi, thăm dò nơi sâu kín của cô.
Anh thực sự muốn yêu cô đến chết đi sống lại ngay tại nơi này.
Anh chẳng rõ ngọn nguồn cơn “phẫn nộ” này từ đâu mà đến, tựa hồ như có làm thế nào cũng chẳng bõ bèn gì, chuyển động nơi bàn tay lại càng lúc càng dồn dập hơn. Mâu Văn bị khóa chặt đến mức chẳng thể cử động, chỉ biết dùng lực đẩy anh ra. Cô vừa sợ hãi có ai đó đột nhiên đi ngang qua, ngặt nỗi lại vừa luyến lưu cái cảm giác đất trời ngưng đọng trong một khoảnh khắc này, nơi chỉ có hai người họ. Chỉ có riêng hai người họ mà thôi.
Cô chợt cảm nhận được một luồng khí mát lạnh thoáng qua, nơi sâu thẳm nhất dường như vừa có một ngọn gió lùa vào, và rồi ngay sau đó, cả khoảng không ấy đã bị lấp đầy khít khao.
Cô hốt hoảng đẩy anh: “Tạ Sùng, Tạ Sùng! Anh…!”
“Đừng động đậy.” Tạ Sùng gầm nhẹ bảo: “Em đừng động đậy!!”
Anh chỉ muốn vào ngay khắc này được khắng khít quấn quýt bên cô, chỉ một chút này thôi.
“Người ta trông thấy bây giờ.” Mâu Văn cuống quýt cả lên, như chực trào nước mắt đến nơi.
“Không có ai đâu, chẳng có một ai hết.” Tạ Sùng trấn an, anh kéo cô ngồi dậy, để cô tự mình ngó nghiêng: “Chẳng có ai cả…”
Họ đang nấp dưới bóng cây cổ thụ kia, vây quanh là vạt cỏ cao vút bạt ngàn. Cô ôm chặt lấy đôi vai anh, mặc cho cánh tay anh đang vòng qua sau lưng mình cứ chốc chốc lại siết chặt rồi lại buông lơi.
“Mâu Văn, em căng thẳng quá rồi.” Tạ Sùng áp sát vào bờ môi cô mà thầm thì: “Em muốn cắn chết anh luôn sao? Hửm? Muốn cắn chết anh à?”
“Em không có.” Mâu Văn bồn chồn như sắp khóc thành tiếng: “Em có đâu mà.”
“Em rõ ràng có.” Tạ Sùng nới lỏng vòng tay để cô cúi đầu nhìn xuống: “Em có mà, em nhìn xem.”
Mâu Văn chẳng rõ thế gian này ai ai cũng đều như vậy cả hay sao, cô chỉ cảm nhận được toàn thân mình vì quá đỗi căng thẳng mà trở nên nhỏ bé vô ngần, tựa hồ sắp sửa không còn chứa chấp nổi anh nữa. Ngặt nỗi, niềm khoái cảm của cô lại ập đến quá nhanh, chỉ trong một chớp mắt đã khiến đất trời như đảo lộn, quay cuồng.
Cô ôm chặt lấy anh, ngửa đầu trông thấy những vệt nắng vàng len qua kẽ lá rớt rụng xuống, thấy những áng mây sà xuống đè nặng lên tán cây cổ thụ, và rồi cả thân hình cô cũng dần đỏ ửng, nóng bừng lên.
Tạ Sùng buông cô ra, tháo bỏ chiếc bao bảo vệ.
“Anh còn chưa…” Mâu Văn khẽ thốt.
“Không sao đâu. Anh đi đẩy xe thêm một lát là nó tự khắc dịu xuống thôi.” Tạ Sùng đang dợm bước đứng dậy, Mâu Văn đã một tay níu chặt lấy anh, ấn mạnh anh ngã nhào xuống nền cỏ.
Tạ Sùng cảm nhận được sự lấn lướt từ áng mây nhỏ đè lên người mình, rõ ràng là một áng mây mềm mại, xốp bông, cớ sao lại có thể khiến anh nghẹt thở đến nông nỗi này?
Mây đen kéo đến.
Cơn mưa nơi thảo nguyên đổ xuống thật bất chợt.
Những đám mây đen kịt từ phía xa cuồn cuộn lăn về phía họ, hai người lại múc nước lần nữa, lần này đổi lại thành Mâu Văn đẩy xe quay trở về.
“Tay có mỏi lắm không em?” Tạ Sùng hỏi.
Mâu Văn lườm anh một cái: “Anh tránh ra xa em một chút đi.”
Tạ Sùng tâm trạng đang vui, khẽ ngân nga tiếng hát. Một giọt mưa bất chợt rớt trúng mặt anh, anh liền kêu lên: “Thôi chết, mưa rồi.”
Kế đó là hai giọt, ba giọt, rồi cơ man nào là hạt mưa rào rào trút xuống mặt họ. Mâu Văn hét toáng lên một tiếng: “Chạy mau!” rồi đẩy chiếc xe lao vút đi.
Mà làm sao họ chạy đua cho lại cơn mưa của vùng thảo nguyên này cơ chứ?
Mưa cứ như thể cố tình rượt đuổi theo sau lưng hai người.
Thoáng chốc, cả hai đều đã ướt sũng như chuột lột.
Hai người bọn họ vừa cắm đầu chạy vừa cười vang lên rồi hét lớn: “Mưa thảo nguyên ăn thịt người ta kìa!”
“Ăn thịt Tạ Sùng đi nè!”
“Ăn thịt Mâu Văn đi nè!”
Được dầm mình dưới mưa sao mà sướng rơn, thoả chí đến vậy!
Dẫu cho chân thấp chân cao sải bước bươn bả trên đồng cỏ, đế giày dính đầy những lớp bùn đất dày cộm, dẫu cho khi chạy được về tới lều bao Mông Cổ thì thùng nước đầy ắp ban nãy giờ chỉ còn trơ trọi lại có nửa thùng.
Mâu Đức Xương nhìn cái thùng nước rồi “tặc lưỡi” chép miệng bảo: “Biết thế này có mưa thì cứ hứng đại nước mưa cho rồi.” Thế là họ lại đem cái thùng đặt ra phía ngoài bãi, để mặc cho nước mưa tự nhiên xối thẳng vào thùng, còn mấy người thì đứng nép nơi cửa lều bao Mông Cổ, phóng tầm mắt ngắm nhìn màn mưa giăng lối ngoài kia.
Đến lúc này mới chợt nhận ra tầng mây đen ban nãy vẫn còn nhạt chán, bởi lẽ những áng mây đen kịt, đậm đặc thực sự giờ mới từ phía chân trời xa xăm lững lờ kéo tới. Tốc độ chuyển động của chúng tuy có phần chậm rãi hơn, ngặt nỗi hễ đi qua nơi nào là lại nuốt chửng những tia sáng cuối cùng nơi đó, khiến cho tất cả mọi thứ trên thế gian bỗng chốc chìm vào cõi u tối.
Thế giới tăm tối ấy đang gặm nhấm, nuốt chửng từng vạt đồng cỏ chăn thả, để rồi cuối cùng sẽ tiến tới nuốt trọn lấy cả bản thân họ.
Đàn cừu cuối cùng cũng đã kịp lùa về trước khi trận mưa giông lớn đổ ập xuống. Mâu Văn tất tả chạy đi mở toang cánh cửa hàng rào của chuồng cừu rồi đứng canh ngay lối vào, Tạ Sùng cũng kề cận bên cô, sẵn sàng làm một chân phụ tá. Ngặt nỗi, anh vẫn chưa biết rõ cô định bụng làm trò gì.
Cô khoác trên mình chiếc áo mưa rộng thùng thình, còn Tạ Sùng vốn dĩ vừa bận áo mưa lại vừa che thêm cây dù lớn. Thế nhưng ngay vào thời khắc này, cây dù lại là vật vô dụng nhất trên đời. Luồng gió lớn thốc tới, suýt chút nữa đã hất anh ngã lộn nhào. Mâu Văn quẹt ngang dòng nước mưa vương trên mặt, tinh nghịch trêu anh: “Anh sắp sửa bay lên trời luôn rồi kìa~”
Tạ Sùng chợt nhớ lại thuở hai người họ dắt nhau đứng trên chiếc cầu vượt ngắm mưa rơi, giờ đây cảnh tượng ấy tựa hồ như vừa đảo ngược giữa một thời không khác.
Mâu Văn ngoắc tay bảo Tạ Sùng né sang một bên, đừng có chắn lối đi của bầy cừu nhỏ. Đám cừu non cứ thế kêu be be rồi chen nhau lao thục mạng vào trong chuồng. Mâu Văn nhanh thoăn thoắt vỗ vỗ vào cái đầu tròn hoặc bờ mông núng nính của từng con cừu, cái miệng thì mải miết đếm: “Một, hai, ba…”
Những con cừu nhỏ sau khi được cô vỗ đầu lại càng ra sức sải chân chạy nhanh hơn hẳn, cái mông cứ lắc la lắc lư rồi tót ngay vào tận góc sâu nhất trong chuồng. Số cừu đã được kiểm đếm xong xuôi nhanh chóng chen chúc, rúc vào nhau thành một khối lớn, tiếng kêu “be be” vang lên liên hồi như thể đang oán trách trận mưa giông tầm tã này vậy.
Những người còn lại xung quanh cũng đang tất bật ngược xuôi để sửa soạn, chuẩn bị ứng phó trước khi cơn bão táp thực sự đổ bộ. “Liệu trời có mưa suốt một ngày một đêm luôn không em?” Tạ Sùng chỉ tay về phía chiếc nồi luộc thịt ban nãy của họ rồi hét lớn: “Thôi hỏng rồi, lửa tắt ngúm mất rồi.”
Mâu Văn vờ như không nghe thấy, chẳng buồn đoái hoài tới anh. Lúc này trong đôi mắt cô chỉ chất chứa duy nhất bầy cừu nhỏ mà thôi. Đôi bàn tay cô khẽ vỗ lên đầu hoặc lên mông của bầy cừu non, tựa hồ như vừa làm phép thuật lên chúng vậy. Đám cừu nhỏ con nào con nấy đều thao láo đôi mắt tròn xoe, trong veo nhìn cô trân trân, cứ như thể cô chính là vị cứu tinh của đời chúng không bằng.
Nếu không ở Bắc Kinh, Mâu Văn hẳn cũng sẽ có được một cuộc đời vô cùng tự tại. Ít nhất là ngay vào lúc này, giữa vùng thảo nguyên mà Tạ Sùng hoàn toàn xa lạ, cô đang sắm vai thủ lĩnh của cả đàn cừu.
Gương mặt cô đã bị nước mưa xối cho ướt sũng, cơn mưa ngoài kia lại càng lúc càng nặng hạt. Cô bảo Tạ Sùng hãy mau trở về lều bao Mông Cổ trước đi, ngặt nỗi Tạ Sùng liền từ chối, lý do là vì anh ở lại đây, nhỡ đâu gió lớn có thổi cô bay đi mất thì anh còn kịp ra tay níu cô trở lại.
Họ cứ thế đứng đối diện nhau rồi hét lớn lên để nói với nhau đôi ba câu như vậy.
Bầy cừu nhỏ đã được kiểm đếm xong xuôi, chẳng hề hao hụt mất một con nào. Vừa vặn lúc này, một chú chó chăn cừu oai phong lẫm liệt tiến đến ngay trước mặt họ, khiến Tạ Sùng giật thót cả mình. Một chú chó dẫu cho đã bị nước mưa xối ướt nhèm trông vẫn to lớn lực lưỡng vô cùng, đang trừng mắt nhìn Tạ Sùng trân trân.
Mâu Văn liền ra lệnh cho Tạ Sùng: “Anh mau mau khen nó đi chứ, nó lại vừa dẫn được bầy cừu nhỏ về nhà rồi kìa, phải khen thưởng nó nghe chưa.”
Tạ Sùng lật đật khen nó: “Mày đúng là giỏi quá chừng luôn!” Chú chó chăn cừu sau khi nhận được lời khen liền ngoáy tít cái đuôi rồi bỏ đi.
Mâu Văn dắt tay Tạ Sùng bước vào trong chuồng cừu để kiểm tra lại nguồn nước cùng thức ăn.
Đây là lần đầu tiên Tạ Sùng bước chân vào một chuồng cừu giữa ngày mưa bão, thứ mùi vị hỗn tạp bên trong đó thậm chí đến chính anh cũng chẳng thể nào gọi thành tên. Anh mím chặt môi chực nôn mửa, Mâu Văn liền hung dữ bảo anh: “Anh cố mà nuốt ngược trở vào cho em!”
Tạ Sùng đành phải bấm bụng nhịn ngược vào trong. Bởi vì bầy cừu nhỏ đang hoảng sợ cần anh dỗ dành, anh liền quẳng cái sự ghê cổ kia ra sau đầu, vuốt ve con này nói vài câu, rồi lại vuốt ve con kia thủ thỉ vài lời. Anh chẳng còn vẻ lạnh lùng như dáng vẻ thường ngày hay thấy, bỗng chốc trở nên vô cùng dịu dàng, lại còn luyên thuyên dông dài không ngớt.
Đến nỗi Mâu Văn đứng bên cạnh cứ liên tục lườm nguýt, giục anh dỗ dành cho mau lẹ để bọn họ còn vào trò chuyện.
Dưới vòm trời giông bão thế này, hết thảy mọi công việc đều phải tạm thời đình lại. Mọi người quây thành một vòng tròn ngồi bên trong lều bao Mông Cổ, khoảng trống ở giữa bày biện cơ man nào là chén dĩa mâm tô. Tạ Sùng trông thấy mấy viên bánh sữa, liền bước tới bốc lấy vài miếng, nhét vào miệng một viên, số còn lại thì bỏ tót vào trong túi quần.
Tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái lều bao Mông Cổ ngay trên đỉnh đầu, anh ngỡ như chưa bao giờ màn mưa lại cận kề bên mình đến thế. Nhiệt độ đột ngột hạ thấp, họ liền nhóm lên một chậu lửa. Mấy người vừa dầm mưa xong thì đều ngồi quây quần bên chậu lửa sưởi ấm, hun cho cả người ấm sực lên.
Mâu Văn lấy cùi chỏ huých nhẹ vào người anh, nhắc Tạ Sùng đừng có mà thả hồn đi đâu nữa.
“Người ta hỏi anh kìa, bao nhiêu tuổi rồi đó.” Mâu Văn bảo.
“Anh… năm nay hai mươi bảy tuổi rồi.” Tạ Sùng thật thà đáp lời.
“Ba mẹ anh làm nghề gì vậy?” Mâu Văn lại hỏi.
“Làm kinh doanh buôn bán.” Tạ Sùng lại đáp.
Ai nấy đều có rất nhiều câu hỏi, hết thảy những lời chất vấn ấy đều phải thông qua Mâu Văn thông dịch lại cho anh, rồi anh mới đáp lời. Gần như bao nhiêu chuyện tông ty họ hàng ba đời nhà Tạ Sùng đều bị bới tung lên sạch sẽ. Mâu Văn cũng khoái chí ngồi nghe mấy chuyện này, quả thực là vui thú hết biết.
Chiếc nồi được bắc lại ở bên ngoài đã sôi sùng sục, chiếc nồi mới ấy nằm khéo léo dưới một mái chòi gỗ nhỏ để tránh mưa. Người dân thảo nguyên quả thật vô cùng thông tuệ, gió thổi lồng lộng là thế, vậy mà ngọn lửa trong căn bếp ấy của họ vẫn cứ cháy đỏ rực vô cùng đượm nồng.
Một cụ bà đang đứng một bên cặm cụi thái thịt bò. Thứ thịt bò nơi đây trông chẳng giống với thịt bò nơi phố thị chút nào, Tạ Sùng không kiềm lòng được liền bốc thử một miếng nhấm nháp: thịt hầm mềm nhừ lại thấm đượm vị ngon.
Cuối cùng thì bữa cơm cũng bắt đầu. Ngoài trời đã tối mịt tối mò, tầng mây đen kịt cứ lưu luyến chẳng chịu rời đi, như muốn bao phủ trọn lấy cả vùng thảo nguyên này. Thế nhưng, không gian bên trong lều bao Mông Cổ lại trở nên rộn ràng, huyên náo hẳn lên. Hơn mười con người đều đã được rót đầy chén rượu trắng. Có vị trưởng bối cất tiếng hỏi Tạ Sùng tửu lượng được bao nhiêu? Tạ Sùng liền xua tay lắc đầu lia lịa, bảo rằng mình giỏi lắm cũng chỉ chịu được chừng hai lượng rượu trắng mà thôi.
Đúng là mở mắt nói lời càn dở. Mâu Văn thầm nghĩ trong lòng. Dẫu vậy, cô cũng chẳng nỡ vạch trần Tạ Sùng. Nghĩ đến chuyện lúc này Tạ Sùng đang ở nơi “đất khách quê người, không thân không thích”, cô chính là chỗ dựa duy nhất của anh, thế nên cô lại càng thêm phần săn sóc anh chu đáo. Tạ Sùng vừa toan muốn ăn một miếng dưa leo, ánh mắt anh vừa mới hướng về phía đó, Mâu Văn đã nhanh tay gắp ngay cho anh; Tạ Sùng muốn hớp một ngụm nước, Mâu Văn liền lật đật bưng chiếc cốc nước dâng đến tận tay anh.
Các bậc bề trên thấy vậy liền buông lời trêu chọc hai người họ sao mà quấn quýt ngọt ngào quá đỗi, Tạ Sùng nghe chẳng hiểu gì, Mâu Văn liền hứ một tiếng, đáp lại: Tụi con bằng lòng vậy thì đã sao nào?
Tạ Sùng hớp mỗi ngụm rượu đều ra vẻ vô cùng đau khổ. Anh trốn rượu đến mức bày ra đủ loại chiêu trò, một người chú cầm ly rượu đuổi theo sau lưng anh mà chạy, khiến cả thảy mọi người đều được một trận cười nghiêng ngả.
Tiệc tùng trôi về nửa sau, Tạ Sùng liền hỏi Mâu Văn: “Ngày mai có còn phải uống nữa không em?”
Mâu Văn đáp: “Không uống nữa đâu, chiều tối mai tụi mình quay về Nha Khắc Thạch rồi.”
“Vậy thì được.”
Những người khác đều đã bị men rượu “ướp” cho thấm đượm, giọng nói bắt đầu líu lưỡi cả lại, đủ thứ tiếng Mông Cổ kỳ kỳ quái quái vang lên khắp căn lều bao, Tạ Sùng có nghe cũng chẳng hiểu gì. Thế nhưng anh lại vô cùng kiên trì, tay cầm một chai rượu cùng chiếc ly bắt đầu chủ động “tấn công”.
Đầu tiên anh nhắm vào mấy người có ánh mắt đã lờ đờ, chực ngã gục bên bàn tiệc để tiến lên mời rượu. Lời mời rượu của anh cũng cực kỳ lịch sự: “Chú mà uống không nổi nữa thì thôi đừng uống, không sao đâu ạ, cháu xin phép cạn trước, chú cứ tùy ý.”
Những người dân du mục vốn tính bộc trực, chất phác làm sao chịu nổi lời nói khích ấy? Dù uống không trôi cũng phải gắng gượng nuốt vào, chén rượu cuối cùng vừa trôi xuống bụng, liền ngã ngửa ra sau.
Mâu Đức Xương đứng một bên giơ ngón tay cái lên, nói nhỏ với Mâu Văn: “Tửu lượng của thằng bé thuộc hàng này đấy, chưa từng say bao giờ thật sao? Không phải làm nghề bồi rượu đó chứ?” Mâu Đức Xương có nghe người ta bảo ở mấy thành phố lớn có cái nghề đàn ông đi uống rượu tiếp khách, mỗi lần đi như vậy kiếm được bộn tiền. Tửu lượng này của Tạ Sùng thì chuyện làm giàu chắc là dễ như trở bàn tay rồi còn gì?
Mâu Văn nghiêm túc trả lời: “Con cũng chẳng rõ tửu lượng của anh ấy tốt xấu ra sao, đôi lúc anh ấy cũng say bí tỉ đó chứ.”
Ngặt nỗi lúc này nhìn vào thần thái của Tạ Sùng, uống nhiều rượu đến thế mà bước đi vẫn vững vàng, con cáo già này mười phần hết tám là lúc trước cố tình giả vờ say xỉn trước mặt cô rồi chứ gì?
Tạ Sùng bỗng chốc trở thành một huyền thoại sống của vùng thảo nguyên chăn thả này.
Anh chính là gã con rể phương xa duy nhất có thể chuốc cho cả thảy đám người dân du mục gục ngã la liệt trên bàn rượu. Trước khi nằm ngả nghiêng đổ rạp xuống, ai nấy đều thều thào với anh: “Uống nữa… lần sau lại uống tiếp nhé.”
Tạ Sùng cũng gục đầu xuống bàn: “Hết uống nổi rồi, hết uống nổi rồi.”
Mâu Văn dìu anh quay trở về “căn phòng” riêng của hai người.
Bà con họ hàng đã tinh ý dựng riêng cho họ một gian lều bao Mông Cổ nhỏ nhắn, ngặt nỗi phải băng qua màn mưa tầm tã này tầm chừng ba mươi mét mới tới. Họ khoác trên mình chiếc áo mưa, tay đan chặt tay, cùng rảo bước hướng về phía “tổ ấm” nhỏ.
Tạ Sùng cứ cố tình giẫm chân vào mấy vũng nước đọng, Mâu Văn thấy vậy liền nhảy ùm vào luôn, nước bắn tung tóe khắp nơi, cả hai đều chẳng ai mong được vẹn toàn sạch sẽ.
Vừa bước chân vào bên trong lều bao, Tạ Sùng đã giở thói nhõng nhẽo ăn vạ.
Giọng điệu anh cứ thều thào, nhừa nhựa: “Vợ ơi, vợ ơi… trong người anh khó chịu quá.”
Anh cất tiếng gọi “vợ ơi”, thanh âm trầm khàn cứ như bị nghẹn lại nơi hốc mũi, nghe qua mà khiến cho trái tim người ta cứ từng nhịp run rẩy, xao xuyến khôn nguôi.
“Vợ ơi, anh muốn uống nước.”
Mâu Văn rót nước bưng đến cho anh, anh liền nương theo thế ấy mà ôm chầm lấy Mâu Văn. Đầu anh gối lên đùi cô, gương mặt khẽ cọ cọ: “Vợ ơi, yêu em.”
Thanh âm “yêu em” ấy nhỏ xíu, gần như tan biến vào thinh không, chẳng thể nào nghe rõ. Toàn thân Mâu Văn tựa hồ như dựng cả tóc gáy lên, đôi bàn tay cô khẽ nâng lấy gương mặt của Tạ Sùng, bảo anh mở mắt ra nhìn cô: “Anh nói lại lần nữa xem, hồi nãy anh vừa nói cái gì vậy hả? Em nghe không có rõ.”
Ánh mắt Tạ Sùng bắt đầu trở nên lờ đờ tán loạn, anh lí nhí thầm thì một cách mơ màng: “Vợ ơi, yêu em.”
Vừa dứt lời, anh liền nhắm nghiền hai mắt, triệt để chìm vào giấc ngủ.
Anh đã uống quá nhiều rượu rồi.
Trước khi đến đây anh vốn đã tìm hiểu kỹ càng, nghe người ta bảo dân vùng chăn thả thích kết giao bằng hữu với những ai có tửu lượng cao, lúc uống rượu họ lại càng chuộng bầu không khí huyên náo, rộn ràng. Ba của Mâu Văn không biết uống rượu, thế nên Tạ Sùng phải đơn thương độc mã, vận dụng hết thảy mọi tâm cơ mưu mẹo, mới có thể trở thành người cuối cùng trụ lại rồi ngã gục trên bàn tiệc này.
Rốt cuộc thì tửu lượng của anh là tốt hay là xấu vậy hả?
Mâu Văn khẽ nhéo cái má anh rồi bảo: “Anh nhìn cứ như một gã ngốc nghếch vậy đó, anh giả vờ say xỉn một chút không được hay sao?”
Tạ Sùng thầm nghĩ trong lòng: Được chứ.
Đôi cánh tay anh lại càng siết chặt lấy Mâu Văn thêm chút nữa, hoàn toàn chìm sâu vào giấc nồng.
