Chương 44: Thương nhau, tiến bước
*
Mâu Văn thích ăn uống, thích ngủ nghê, thích tự do tự tại chạy nhảy, thích kiếm tiền để dành; không thích xài tiền hoang phí, không thích lừa dối, không thích bị ăn hiếp. Phía sau có một dòng chữ rất nhỏ: Không thích Tạ Sùng đi công tác, bởi vì mình sẽ nhớ anh.
Tạ Sùng thích ăn uống, thích ngủ nghê, thích tự do tự tại; không thích lừa dối, không thích qua loa lấy lệ.
Mâu Văn đưa ra một trang giấy, Tạ Sùng đưa ra một bức tranh. Trên tờ giấy của Mâu Văn viết rất ngay ngắn, nét vẽ của Tạ Sùng lại rất vui nhộn. Anh vẽ một đống đồ ăn, viết chữ “all”, rồi đánh dấu chọn; sự lừa dối được thay bằng một khuôn miệng, vẽ một dấu gạch chéo đỏ tươi thật lớn.
Hai người cầm tờ giấy này nhìn hồi lâu, cảm thấy chẳng thu nhận được thông tin hữu hiệu nào, bởi vì những điều này họ đều đã biết rõ cả rồi.
May mà Mâu Văn lạc quan, cô xếp hai tờ giấy lại với nhau, rồi hỏi Tạ Sùng: “Anh xem, thế này có giống hai đứa mình đang trò chuyện không? Em có thói quen nói năng hẳn hoi, phân trần rõ ràng, còn anh thì thích nói năng lộn xộn…”
“Em mới nói năng lộn xộn ấy, anh đây gọi là lời ít ý nhiều.” Tạ Sùng đón lấy tờ giấy của Mâu Văn rồi chăm chú nhìn, Mâu Văn quả nhiên ngày nào cũng cầm bút, chữ viết vô cùng lưu loát, nhìn vào rất mực dễ chịu. Tạ Sùng cũng viết chữ rất đẹp, ngặt nỗi anh lười viết, chỉ thích vẽ vời tùy hứng.
“Anh hỏi em này…” Tạ Sùng chỉ vào mấy dòng liên quan đến chuyện “ăn” của Mâu Văn: “Em bảo em thích món ngon, vậy hải sản có ngon không?”
“Ngon lắm anh.”
“Nhưng em ăn xong lại đau bụng tiêu chảy rồi còn nôn mửa nữa.” Tạ Sùng nói: “Có phải dạo bạn em mời ăn tiệc lớn rồi em bị nôn không?”
“Dạ phải.”
“Thế thì em nên viết là thích, nhưng không thể ăn nhiều. Sự yêu thích còn kèm theo lo ngại, thì không thể xem là yêu thích thật lòng.” Tạ Sùng bỗng dưng thốt ra một câu nghe đầy triết lý, nói đoạn liền nhìn Mâu Văn đầy thâm ý.
Ơ? Mâu Văn rõ ràng không hiểu, Tạ Sùng bèn bảo: “Mâu Văn em thông minh như vậy, thử ngẫm xem anh nói có đúng không.”
Anh mỉm cười cầm lấy hai tờ giấy kia, từ trong kho của mình tìm ra mấy thanh gỗ nhỏ và tấm kính, Mâu Văn hỏi anh muốn làm gì, anh bí mật bảo: Lát nữa em sẽ biết thôi.
Tạ Sùng có một chiếc bàn làm việc, ngày thường thì sạch sành sanh chẳng thấy bày biện gì. Lúc này kéo ngăn kéo ra, đủ loại dụng cụ nhỏ nhắn bên trong liền hiển hiện. Anh đeo kính bảo hộ, bật đèn rọi trên mặt bàn, trước tiên dùng chiếc cưa máy nhỏ cắt gọt tạo hình, tiếng rèn rẹt nghe rợn cả người. Mâu Văn ngồi đối diện anh, chống cằm ngắm nhìn anh.
Đây là lần đầu tiên cô thấy Tạ Sùng làm đồ thủ công. Bởi vì tính chất công việc, khả năng tự tay quán xuyến của cô cực kỳ cao. Lớn như đường ống của cả ngôi nhà, nhỏ như một chiếc đinh trên vách tường, cô đều có thể làm, biết làm tất thảy. Nhưng cô chưa từng làm qua tác phẩm nghệ thuật.
Cô không biết làm, cũng chẳng hiểu được.
Chế tác tác phẩm nghệ thuật lại là một kiểu tự tay làm lụng khác, nó đòi hỏi những động tác rất đỗi tinh vi. Ngón tay Tạ Sùng vô cùng linh hoạt khéo léo, vê một sợi chỉ mảnh, xỏ qua lỗ kim, rồi lại đâm xuyên qua lớp da bò non màu nâu và màu đen, cô hỏi Tạ Sùng đang làm gì đấy, Tạ Sùng bảo đang may tấm áo cho “thư họa” của hai đứa mình.
Dáng vẻ dịu dàng, cụp mi rủ mắt của anh trông thật khiến người ta thương mến, Mâu Văn chẳng hiểu nổi vì sao mình lại đi thương mến một người đàn ông có thể bồng bế cô thực hiện động tác squat.
“Tạ Sùng, đêm đầu tiên của anh là dành cho em phải không?” Mâu Văn rốt cuộc cũng hỏi ra thắc mắc bấy lâu nay. Bản thân cô cũng không rành rẽ lắm, nhưng cứ cảm thấy vào đêm tân hôn hôm ấy Tạ Sùng chẳng mấy thuần thục. Cô cứ muốn hỏi mãi, lại e là bất lịch sự.
Nguyên do là vì cô chưa từng nghe Tạ Sùng nhắc về bất kỳ lịch sử tình trường nào của bản thân, một lần cũng không. Người như Tạ Sùng, đâu đến nỗi chưa từng được ai thương thầm, cũng đâu đến mức chưa từng rung động trước ai.
“Cái gì cơ?” Làn da Tạ Sùng từ cổ trở lên bắt đầu chầm chậm lan một lớp hồng rực, đỏ tựa như dị ứng cồn. Mâu Văn chưa từng thấy da của ai lại đỏ đến thế, sắc đỏ ấy lan tràn lên tận gương mặt anh.
Mâu Văn đưa tay sờ mặt anh: “Anh không sao chứ? Sao mặt anh đỏ gay đỏ gắt thế này, anh sắp tự bốc cháy luôn rồi à?”
Tạ Sùng lặng thinh, lại cúi đầu xuống, nhưng lỡ sẩy tay một cái, mũi kim liền đâm vào ngón tay.
“Trời đất, Tạ Sùng.” Mâu Văn bừng tỉnh đại ngộ: “Hèn gì đêm hôm đó… anh tìm không ra chỗ… anh…”
Tạ Sùng buông đồ đạc xuống, đứng bật dậy rướn qua bàn để bịt miệng cô lại, Mâu Văn né người ra sau, bảo: “Kìa, phải không nào! Có phải vì anh là lần đầu tiên nên… anh…”
“Em không phải sao?”
“Em phải mà.” Mâu Văn đáp: “Em phải, thì sao nào?”
“Thế thì tại sao em lại cười nhạo anh?”
“Em đâu có cười nhạo anh.” Mâu Văn dùng hai tay ôm lấy má mình, híp mắt cười nhìn Tạ Sùng. Sắc đỏ trên mặt anh đã từ vầng trán chầm chậm rút bớt xuống dưới rồi.
Mâu Văn nói: “Em chỉ thấy rất bất ngờ thôi.”
Tạ Sùng vẫn im hơi lặng tiếng. Anh chẳng hiểu chuyện này có gì mà phải bất ngờ, cái thứ đó của anh có phải mọc trên trán đâu mà cứ hễ gặp ai là lại nghĩ đến chuyện mây mưa với người đó trước tiên. Anh gặp một người, phải qua lý trí trước. Lý trí thông suốt rồi mới đến con tim. Con tim rung động rồi mới tính đến chuyện sâu xa hơn.
“Hồi em đi học chỉ biết có mỗi việc học.” Mâu Văn nói: “Thời cấp ba thì đau đáu nghĩ chuyện thi đỗ đại học tốt, bởi vì ở quê của em, học hành chính là con đường hữu hiệu nhất để đổi thay số phận. Thầy cô thường hay bảo tụi em: Cho dù các em có thi vào trường cao đẳng, trường đại học dân lập hay công lập hạng hai, hạng ba, chỉ cần mượn danh nghĩa học hành để bước chân ra ngoài, là có thể nhìn ngắm thế giới bao la ngoài kia rồi. Thầy cô nói tuổi đời còn xanh mà đã bôn ba làm lụng kiếm sống thì cực khổ gian truân lắm.”
Tạ Sùng dừng hẳn động tác trên tay, ngả người ra lưng ghế, chăm chú lắng nghe Mâu Văn giãi bày.
“Thầy cô khen em thông minh, công thức chẳng cần phải học thuộc lòng, chỉ cần giải qua một lượt bài tập là nó tự khắc in sâu vào tâm trí. Em chỉ cần không ngừng giải đề, làm đủ mọi thể loại bài tập là được rồi. Thành ra dạo ấy em dốc hết tâm tư vào việc luyện đề, em cũng từng nhận được thư tình đó chứ, nhưng vừa trao tay liền đem nộp cho thầy cô giáo ngay. Em không thích người khác cản trở việc học hành của mình. Cản trở em thi đỗ đại học danh tiếng để đi nhìn ngắm thế giới bên ngoài.”
Tạ Sùng bĩu môi: “Đem nộp cho thầy cô luôn sao? Cạn tình đến thế?”
“Lẽ tất nhiên phải giao cho thầy cô chứ. Thầy cô là thật lòng thật dạ muốn tốt cho em, còn những cậu trai viết thư tình chẳng qua chỉ để giải tỏa nỗi lòng, nếu em không có được một tương lai xán lạn thì cậu ta có thèm bận tâm đến em không? Có khi phủi mông bỏ chạy mất tăm rồi, anh nói có phải vậy không?”
Tạ Sùng quả thực tán thưởng Mâu Văn vô cùng. Đầu óc của Mâu Văn quá đỗi tỉnh táo, mới mười mấy tuổi đầu đã biết phân định rạch ròi việc chính việc phụ, chẳng chút lay động trước những cậu trai tầm thường kia.
Mâu Văn tiếp lời: “Lên đến đại học, em lại càng không có tâm trí đâu mà yêu đương. Học bổng dồi dào, hậu hĩnh quá mà, em phải giật cho bằng được học bổng, phải tranh thủ mọi cơ hội. Có vài bạn học ghét bỏ em lắm, cho rằng em là kẻ hám lợi. Ban đầu em không sao hiểu nổi: Tranh đấu vì thứ mình khát khao mà cũng bị coi là hám lợi sao? Về sau em nghĩ thông suốt rồi, ai ai cũng muốn có được, tranh không lại bèn quay sang bảo người đoạt được là hám lợi. Đây chẳng phải là vấn đề của em, mà là vấn đề của người ta.”
Mâu Văn thậm chí từng bị bạn học cô lập. Vì chuyện đó mà cô chạnh lòng mất mấy ngày, rồi sau đó, dần dần mọi người cũng dần quen thuộc nhau hơn. Âu cũng nhờ vào một sự việc.
Nhà trường có đợt xét duyệt học bổng trợ cấp cho sinh viên nghèo hiếu học, khoản tiền đó gần như tương đương với học bổng chính quy, là một số tiền không hề nhỏ. Có vài bạn học râm ran bàn tán sau lưng rằng Mâu Văn chắc chắn sẽ đăng ký, thế nhưng Mâu Văn lại không nộp đơn.
Lý do cô không nộp đơn rất mực đơn giản: Cha mẹ cô đều còn khỏe mạnh, hiện tại vẫn có khả năng lao động, bản thân cô vừa có thể nhận học bổng lại vừa đi thực tập, tiền bạc bấy nhiêu đã đủ chi dùng. Khoản trợ cấp ấy nên để dành cho những bạn học thực sự cần đến, cô không muốn chiếm suất của người ta.
Mâu Văn chỉ muốn nhận lấy những thứ có được từ chính bản lĩnh của mình. Đấy là nhân phẩm và cốt cách. Bạn học hiểu rõ con người cô, từ đó về sau không còn ghét bỏ cô nữa. Mỗi khi nhắc tới cô, họ đều giơ ngón tay cái tán thưởng: Mâu Văn xứng đáng thắng.
“Cho nên thời đại học em cũng không có thời gian yêu đương. Sau khi tốt nghiệp, em muốn đứng vững gót chân ở Bắc Kinh, rồi sau đó thì gặp được anh.” Mâu Văn nói: “Em không ngờ rằng, gặp được anh rồi chúng mình lại kết hôn. Tất nhiên, chuyện chúng mình kết hôn cũng là do tự em tranh thủ lấy. Là em không ngừng tiến lại gần anh, để giành lấy sự chú ý từ anh. Là em đã luôn chủ động…”
“Em nói bậy.” Tạ Sùng rốt cuộc cũng chịu lên tiếng: “Sao em lại bắt đầu nói năng hàm hồ rồi, anh là người mà hễ ai tranh thủ là liền giành được đấy à? Là ai chủ động thì sẽ có được sao?”
“Ơ?”
Mâu Văn muộn màng nhận ra.
“Người mà anh đã không ưa thì một ánh mắt anh cũng chẳng thèm đoái hoài.” Tạ Sùng bảo: “Em khen Ngô Kỳ Lạc xinh đẹp, cô ta từ nhỏ đã thích anh, cô ta cũng luôn tìm cách giành lấy anh đấy thôi, kết cục có thành công đâu?”
“Ồ, cũng đúng nhỉ. Vậy ra anh vừa gặp đã yêu em à?”
“??? Em hiểu chuyện này theo hướng đó đấy hả? Không thể có khả năng là hai đứa mình vì lý do công việc mà tiếp xúc vài lần, anh thấy có thể làm bạn, rồi sau đó ngày rộng tháng dài rồi nảy sinh tình cảm sao?”
Tạ Sùng cố gắng giúp Mâu Văn thông suốt lại vấn đề, cái lối suy nghĩ rạch ròi trắng đen của cô xem ra khá là cực đoan. Kết cục Mâu Văn vẫn bướng bỉnh chẳng chịu nghe, tự mình đúc kết xong xuôi luôn rồi.
“Không có khả năng đâu, anh rõ ràng là vừa gặp đã yêu em.”
Tạ Sùng bị cô làm cho vừa giận vừa buồn cười, phải phải phải, vừa gặp đã yêu.
“Em nói tiếp đi.” Tạ Sùng bảo: “Có phải em vẫn chưa nói hết câu đúng không?”
“Đúng vậy.” Mâu Văn gật đầu: “Thế nên em một mực bước đi cho tới hôm nay, hì hì, mặc dù thật ra em chẳng đi được bao xa, nhưng hình như em chưa từng vì chuyện gì mà phải lo ngại cả. Em muốn học hành là học hành, chẳng cần lo ngại; muốn giành học bổng là dốc sức học hành, chẳng cần lo ngại; muốn sớm kiếm tiền là không thi cao học, ra ngoài đi làm ngay, chẳng cần lo ngại; thích anh và muốn ở bên anh, cũng không cần lo ngại. Ngược lại, chính anh mới là người ôm nỗi lo ngại ấy.”
“Anh thì lo ngại cái gì?” Tạ Sùng hỏi.
“Bởi vì anh rất giàu, thế nên anh luôn cảm giác người ta thích tiền của anh hơn là thích chính con người anh. Đấy là nỗi lo ngại của anh.” Mâu Văn nói một câu trúng tim đen suy nghĩ của Tạ Sùng. Cô nào có ngốc nghếch, cô hiểu hết thảy mọi điều.
Tạ Sùng giàu sang, cho nên anh có thói quen định giá rõ ràng cho mọi thứ trên cõi đời này. Ngay cả chân tình của người khác cũng được anh gán cho một cái giá. Có lẽ anh chẳng thèm so đo tính toán với ai, nhưng sâu thẳm trong lòng anh, thứ gì cũng có giá trị riêng của nó.
Cũng như thế, trong tâm khảm của anh, tình yêu Mâu Văn dành cho anh vốn chẳng chịu nổi sự săm soi nghiền ngẫm. Anh biết Mâu Văn yêu anh, song lại không nhịn được mà nghĩ ngợi: Nếu như anh chỉ là một người đàn ông tầm thường, Mâu Văn liệu có yêu anh sâu đậm đến nhường này. Anh cho rằng Mâu Văn đã phải lòng tiền tài của anh trước tiên, rồi sau đó mới yêu lấy anh. Anh hoàn toàn bỏ sót một điều: Chính anh còn cuốn hút hơn đống tiền của anh nhiều, và xứng đáng được yêu thương hơn nhiều.
Những điều này Mâu Văn đều thấu rõ. Ngặt nỗi đối với những chuyện như vậy, cô luôn chẳng biết phải mở lời ra sao.
Nói nhiều quá thì lại giống như cố tình tô son trát phấn; không nói, thì lại như kẻ thấu suốt mọi điều mà cố vờ vịt ngu ngơ.
Cô mong biết bao Tạ Sùng có thể bớt chút vòng vo, mong biết mấy vào cái khoảnh khắc anh nhìn thấy chiếc đồng hồ ấy sẽ thốt lên ngay rằng: “Trời đất ơi, anh cũng có một chiếc y hệt này.”
Thế nhưng cô nào có hay biết đó chính là chiếc đồng hồ đầu tiên trong cuộc đời Tạ Sùng, nếu như biết được, hẳn cô đã vui sướng khôn cùng. Cô sẽ nghĩ: Chiếc đồng hồ đầu tiên trong đời anh và chiếc đồng hồ đầu tiên mình tặng anh lại là cùng một loại. Phải là mối thiên duyên tiền định thế nào mới có thể xuất hiện sự trùng hợp diệu kỳ đến vậy chứ?
“Vậy nếu như anh chẳng có một xu dính túi, hoặc sau này trở nên nghèo rớt mồng tơi, em có còn thích anh nữa không?” Tạ Sùng hỏi.
“Anh đang giả dụ đấy à?” Mâu Văn hỏi.
“Phải, giả dụ lúc em quen biết anh, anh chỉ là Tiểu Cố chuyên đi đo đạc nhà cửa ở công ty em, em có còn thích anh không?”
“Ngoại trừ việc không có tiền ra, những đặc điểm khác của anh có còn đó không? Thông minh, chính trực, thú vị, chí tiến thủ… mấy thứ đó vẫn còn chứ?” Mâu Văn hỏi: “Trong lời giả dụ của anh, có phải chỉ gạt bỏ đi mỗi thân phận giàu sang thôi không?”
Tạ Sùng suy ngẫm một lát rồi đáp: “Phải. Những thứ đó vẫn còn.”
“Em sẽ thích.” Mâu Văn khẳng định chắc nịch: “Em đã nhìn thấy anh là một người như thế, em có thể mường tượng ra cuộc sống được gây dựng từ chính đôi bàn tay của hai đứa mình cũng chẳng đến nỗi tồi tệ, em vẫn sẽ yêu anh.”
“Nhưng nếu anh vừa không có tiền, mà những phẩm chất em yêu thích kia cũng chẳng còn nữa, vậy thì em sẽ không yêu anh đâu.” Mâu Văn không rõ đây có phải là câu trả lời Tạ Sùng muốn nghe hay không, nhưng cô muốn nói lời thật lòng: “Em sẽ không yêu một người mà chỉ cần nhìn qua một cái là đã có thể mường tượng ra cuộc sống tương lai tồi tệ đến mức nào. Tạ Sùng à, em bước ra khỏi Nha Khắc Thạch là để hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, chứ không phải để đi đến một Nha Khắc Thạch khác, thậm chí còn chẳng bằng Nha Khắc Thạch.”
Mâu Văn không có ý bảo Nha Khắc Thạch không tốt. Cô yêu Nha Khắc Thạch thiết tha. Cơ mà lối thoát của cô nằm ở nơi khác, ít nhất là vào lúc này, không phải ở Nha Khắc Thạch. Cô chẳng rõ Tạ Sùng có thể thấu hiểu tâm tư của mình hay không, cô vô cùng mong mỏi anh có thể hiểu được.
Đôi mắt Tạ Sùng chợt nóng lên, trên tròng kính bảo hộ đã giăng một lớp sương mù trắng xóa. Anh tháo kính bảo hộ đặt sang một bên, cứ thế đăm đắm nhìn Mâu Văn.
Anh vô cùng cảm kích vì Mâu Văn có thể mở lòng san sẻ với anh những lời bộc bạch từ tận tâm can này. Cô đã phơi bày tất thảy mọi điều của bản thân trước mặt anh một cách chân thành nhất.
Cô từng dắt anh về Nha Khắc Thạch, để anh biết được môi trường lớn lên chân thực của cô. Cô chưa bao giờ cố ý né tránh tất cả những điều đó, ngược lại, chính cái nôi ấy đã nhào nặn nên một cô gái bằng xương bằng thịt, không ngừng vươn mình sinh trưởng hướng lên phía trước.
“Sao anh không nói gì thế Tạ Sùng.” Mâu Văn bảo: “Anh cũng nói đôi lời đi chứ?”
Tạ Sùng cất lời: “Mâu Văn, anh có một chiếc đồng hồ giống hệt như vậy. Anh không hiểu nổi vì sao em dọn vào đây ở lâu đến thế rồi mà chưa từng một lần mở ngăn kéo của anh ra, chưa từng nhìn thấy chiếc đồng hồ kia. Em ở trong ngôi nhà này cứ hệt như một người khách trọ, chỉ đi ra đi vào ở những khu vực mà em cho là thuộc về mình thôi.”
“Anh vốn chẳng màng em tặng anh thứ gì, dẫu cho không tặng gì cả, chỉ đơn thuần nấu cho anh một bữa cơm là anh đã vui lắm rồi. Thế nhưng một chiếc đồng hồ giống hệt nhau, vừa rất trân quý, lại cũng thật mỉa mai.”
“Đồng hồ của anh nằm ngay trong ngăn kéo phòng thay đồ, không hề khóa lại. Tất thảy mọi thứ trong nhà này, ngoại trừ két sắt ra, đều không khóa. Chúng đều rộng mở chào đón em, bởi vì đây cũng là nhà của em mà. Những món đồ đó vừa thuộc về anh, lại vừa thuộc về em. Anh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện phải đề phòng em, cũng chưa từng khởi lên ý nghĩ không cho em đụng vào.”
“Dẫu vậy, em lại chưa từng bước chân vào căn phòng đó. Chưa từng tò mò kéo ngăn kéo ra để xem thử anh có những gì. Mâu Văn, em không hề hiếu kỳ về anh, anh phơi bày cái gì thì em xem cái đó, em chưa bao giờ bận tâm đến những điều sâu kín bên trong anh.”
“Em đối với anh cũng chẳng có lòng ham muốn chiếm hữu. Trong nhà có một người đàn bà lạ mặt đến tìm anh, em không hề có một chút không vui nào, trái lại còn khen người ta xinh đẹp, rồi gặng hỏi anh vì sao lại không thích.”
“Những điều này đều không đúng.” Tạ Sùng nói: “Đều không đúng chút nào. Chuyện này khác xa với dáng dấp vợ chồng mà anh từng hình dung, anh cứ ngỡ chúng mình đáng lý phải khăng khít hơn nữa, dẫu cho có tranh cãi gay gắt hay va chạm nảy lửa đi chăng nữa, thì cũng chẳng sao cả. Anh không thích kiểu yêu thích hời hợt bên ngoài như vậy.”
“Anh không thích em cứ làm một người ngoài cuộc, một khách trọ trong chính ngôi nhà này.”
Tạ Sùng nói ra mà lòng cũng nghe đầy tủi thân, anh cũng từng tự hỏi có phải do bản thân làm chưa đủ tốt, cho nên cô mới e dè không dám thực sự lại gần anh. Hoặc giả, có phải chính anh vốn dĩ không xứng đáng nhận được một tình yêu đích thực.
Mâu Văn cảm thấy Tạ Sùng quả thực là một người vô cùng tinh tế và thấu suốt. Anh thường hay tếu táo bông đùa, trông như một kẻ khờ khạo sống qua ngày đoạn tháng, hay giống như một cậu thiếu niên chưa từng trải sự đời. Nhưng thực ra anh hiểu rõ mọi chuyện, chỉ là anh không nói ra lời mà thôi.
Hôm nay anh đã nói rồi, lại còn bằng phương thức ôn hòa nhã nhặn nhường này.
Mâu Văn thương anh quá đỗi, yêu anh biết bao. Cô hết lần này đến lần khác yêu anh, lần sau lại càng sâu đậm hơn lần trước.
Cô dang rộng vòng tay về phía Tạ Sùng: “Ôm em cái nào.”
Tạ Sùng liền đứng dậy bước đến trước mặt cô, kéo cô đứng lên, ôm chặt lấy cô.
Mâu Văn thấy rằng cuộc sống mình chọn lựa quả thực không sai vào đâu được. Cô đã chọn Tạ Sùng, chọn tình yêu và một lối sống luôn vươn lên phía trước, hết thảy đều là những đáp án đạt điểm tuyệt đối, cô vô cùng mãn nguyện.
Tạ Sùng về sau đã dành ra sáu tiếng đồng hồ để đem những điều hai người viết chế tác thành một chiếc khung tranh mỹ nghệ, đặt ngay trong phòng khách của họ. Chiếc khung tranh mỹ nghệ ấy đẹp đẽ vô ngần, Mâu Văn thích đến mê mẩn, ôm khư khư một hồi lâu.
Mâu Văn sinh ngày 22 tháng 11. Cô không mấy rành rẽ về các chòm sao, Sở Lăng vì có mấy cô cậu thực tập sinh dưới quyền đam mê chiêm tinh nên cũng có tìm hiểu đôi chút. Cô ấy bảo với Mâu Văn: “Sinh nhật của cậu đặc biệt lắm đó. Ngày này chính là điểm giao thoa của sự biến đổi trong thuật chiêm tinh. Nước và lửa, sao Diêm Vương và sao Mộc vào ngày này sẽ chồng chéo lên nhau một cách mãnh liệt. Ngày này biểu trưng cho một bước ngoặt vĩ đại và sức mạnh cải cách to lớn.”
Mâu Văn nghe Sở Lăng thao thao bất tuyệt mà ngẩn cả người ra. Sở Lăng bảo: “Tóm lại là, cả cuộc đời của cậu đều đang lật đổ cái cũ, gây dựng cái mới.”
“Vậy thế là tốt hay là xấu đây?” Mâu Văn hỏi.
“Nhìn nhận một cách biện chứng thì tốt mà cũng chẳng tốt. Không tốt ở chỗ cậu lúc nào cũng chẳng bằng lòng với hiện tại, còn tốt ở chỗ cậu sẽ mãi mãi tiến về phía trước.”
“Được rồi, được rồi.” Mâu Văn bảo: “Cậu nói chuẩn quá đi mất. Hi hi.”
Cô sắp sửa đón sinh nhật rồi, năm nay cô không còn giống như thời đi học phải trải qua những ngày sinh nhật eo hẹp tủi hờn nữa. Cô đã tích cóp được một chút tiền, liền muốn tự thưởng cho mình một ngày sinh nhật thật tươm tất. Nên đón tuổi mới thế nào đây? Cô vắt óc suy nghĩ mông lung.
Cô cũng không khỏi hiếu kỳ: Tạ Sùng có tặng quà cho mình không nhỉ? Anh bảo không đón sinh nhật ở Bắc Kinh thì rốt cuộc sẽ đi đâu đón đây?
Mâu Văn lúc nhỏ mong ngóng cha mẹ tổ chức sinh nhật cho mình, giờ đây lại mong ngóng Tạ Sùng tổ chức sinh nhật cho cô.
Sáng ngày 21 tháng 11, sau khi hai người vừa mở mắt ra, Tạ Sùng bỗng nhiên lên tiếng: “Mâu Văn, thu dọn hành lý thôi em.”
“Làm gì thế anh?”
“Thu dọn hành lý, đi theo anh.”
