Chương 18: Biết được – Sáng trong, chấn động
*
Mâu Văn không kìm hãm nổi bước chân đang chạy mau. Cô da diết muốn gặp Tạ Sùng, chẳng muốn trễ đi một giây nào. Cô lao vọt ra khỏi khu chung cư, chạy băng lên cây cầu vượt, thậm chí còn chẳng kịp ngó nghiêng cảnh đêm, cứ thế mà lao thẳng về phía anh.
Anh đứng ngay nơi ấy, tại chốn cũ mà hai người từng gặp nhau lần trước.
Đêm cuối tháng Chín đã có những luồng gió mát hiu hiu, thổi động vạt chiếc áo gió màu đen và mái tóc anh. Anh đứng sừng sững tại đó, mắt chẳng hề liếc dọc ngang mà chuyên tâm đợi cô. Khách bộ hành vội vã lướt qua như bóng mây tản sáng, duy chỉ có mình anh là hiện lên rõ ràng.
Người đàn ông đẹp mã” khiến bao kẻ phải ngoái nhìn, song chính anh lại chẳng mảy may hay biết.
Mâu Văn đứng trên cầu vượt, hớn hở vẫy tay với anh: “Anh Tạ!”
Tạ Sùng ngẩng đầu lên, trông thấy cô đứng ở chốn cao, phía sau lưng là màn đêm lấp lánh. Anh cũng vẫy tay đáp lại, bảo cô mau xuống đây.
Mâu Văn chạy đến ngay trước mặt anh, vạt áo khoác mải miết đuổi theo sau lưng cô, phải đợi cô đứng vững thì vạt áo mới chịu “đứng yên”.
“Quà đẹp thật đó! Bức tranh sơn mài trên chiếc hộp kia là do ai vẽ vậy?” Mâu Văn mỉm cười hỏi.
“Tôi vẽ đấy.” Tạ Sùng đáp: “Tôi cứ tùy tiện phẩy vài đường là ra ngay tác phẩm nghệ thuật.”
“Vậy còn phần chữ thì sao? Lại là ai viết thế?”
“Cái này mà còn phải đi kiếm người viết ư? Chẳng phải cứ có tay là làm được sao?” Tạ Sùng đắc ý vô cùng.
“Mấy món đồ đó chắc đắt tiền lắm nhỉ? Bao nhiêu tiền vậy?” Mâu Văn muốn nhẩm tính một mức giá, để mai sau có dịp cô sẽ trả lại món nợ ân tình này cho Tạ Sùng.
“Cả đống đó hai trăm.” Tạ Sùng nói nhăng nói cuội.
Mâu Văn dĩ nhiên đâu có thèm tin, cô “xì” một tiếng, hỏi Tạ Sùng muốn ăn chút gì, bữa nay nhất định phải để cô đãi.
“Bữa này nên tính sao đây? Ăn đĩa cơm chiên tính là một bữa hả? Vậy lỡ ăn thêm món khác thì tính sao?” Tạ Sùng cố tình trêu chọc, muốn xem thử cô tỳ hưu nhỏ này hôm nay định móc hầu bao ra bao nhiêu.
“Bữa nay ở hẻm sau, bất kể anh ăn món gì, cả thảy đều chỉ tính là một bữa. Chỉ cần anh ăn nổi thì tôi sẵn sàng đãi.” Mâu Văn chỉ tay vào chính mình: “Người đẹp đô thị Mâu Văn đây, hiện giờ cũng rủng rỉnh chút đỉnh rồi.”
“Vậy tôi chẳng khách sáo đâu.”
Hai người kẻ trước người sau tiến về hẻm sau.
Tạ Sùng muốn nếm thử mấy món mà anh hầu như chưa từng ăn bao giờ. Đậu hũ thúi chiên, anh cắn thử một miếng, suýt thì trớ cả ra vì hôi tanh; xiên thịt cừu nướng cỡ lớn, anh lại chê bai sớ thịt chẳng ngon; bát miến chua cay nho nhỏ, anh lại bảo sợi miến nhai như nilon… Mâu Văn bảo hay là anh đừng ăn nữa, anh vốn chẳng thích ăn, lại sợ uổng phí nên cứ cắm cúi nhét vào miệng, đậu hũ thúi anh nhét một miếng lại buồn nôn một lần, anh việc gì phải khổ sở như thế chứ? Hay là anh đưa phần đó cho tôi đi?
“Hay là về nhà tôi làm đồ ăn?” Đôi mắt Tạ Sùng ươn ướt, hàng mi đều bị nước mắt ứa ra từ cơn buồn nôn ban nãy làm cho ướt sũng, trông rõ là “mỏng manh yếu ớt”.
“Về nhà anh làm đồ ăn á hả? Vậy bữa này cũng phải được tính mới được.” Mâu Văn nói: “Là tự anh đòi tới hẻm sau, mỗi một món đều do chính anh đòi ăn…”
“Bữa này được tính.” Tạ Sùng đáp. Anh quả thực ăn hết vô nổi, rốt cuộc đành mua một cây kem đá để mút.
Cây kem đá ăn vô lại ngon thật, giải được cơn ngấy, anh thấy đỡ hơn phần nào.
Hai người rảo bước trên phố để tiêu thực, Mâu Văn hỏi Tạ Sùng chuyện ở Cảnh Đức Trấn, cô muốn lắng nghe “kinh nghiệm làm ăn” của Tạ Sùng, chuyện đó chắc mẩm cũng thú vị hệt như lúc cô vẽ vời vậy.
“Muốn nghe đến vậy sao?” Tạ Sùng hỏi.
“Muốn nghe.”
“Muốn nghe thì tôi kể cho cô nghe một chút.”
Tạ Sùng sản xuất một lô hàng ở Cảnh Đức Trấn, định bụng đem bán sang Mỹ. Chuyện này lọt vào tai gã gian thương họ Trần nọ, gã bèn rắp tâm hớt tay trên một vố. Gã tìm đến xưởng gia công vốn có giao tình cá nhân với ba gã, tình cờ thay xưởng này đã trót ký hợp đồng sản xuất với Tạ Sùng, cớ sự này làm cho tiến độ sản xuất của Tạ Sùng bị đình trệ, song phía nhà xưởng vẫn cam lòng bồi thường vi phạm dựa theo hợp đồng.
Hàng hóa làm xong thì phải vận chuyển khỏi Cảnh Đức Trấn. Tạ Sùng nảy chút mẹo vặt hợp tình hợp pháp, khiến lô hàng của gã nọ bị kẹt lại mấy bữa, lỡ mà gã muốn chuyển đi bằng đường biển thì kế hoạch định sẵn ban đầu coi như chẳng bề theo kịp nữa. Còn lô hàng của Tạ Sùng, dẫu xuất bến muộn mất vài hôm, ấy vậy mà lại lên đường êm xuôi trót lọt.
Mâu Văn chăm chú lắng nghe, bèn hỏi: “Là cái mẹo vặt hợp tình hợp pháp gì vậy?”
Tạ Sùng cười đắc ý: “Gậy ông đập lưng ông. Gã cướp xưởng gia công của tôi, tôi bèn đôn giá để cướp luôn chuyến chở hàng của gã. Dịch vụ vận tải quanh khu vực đó độ hai năm nay đắt khách lắm, gã cần phải đặt xe từ trước. Tôi cướp mối rồi, gã nhất thời kiếm chẳng ra xe đâu.”
Mâu Văn mở to đôi mắt: “Còn làm được vậy nữa hả?”
“Ừm hứm.” Tạ Sùng đáp lời: “Thương trường như chiến trường. Cơ mà dẫu tôi có gọi người đó là tên gian thương họ Trần thì gã nọ cũng có chút khí khái, khá là ra cái nết dám chơi dám chịu. Tôi ngỏ ý sẽ chở giúp lô hàng của gã đi, ngặt nỗi đám hàng ấy phải xuất dưới danh nghĩa của tôi, thế là gã không chịu. Gã bảo dẫu có đem đổ sạch xuống sông Hoàng Phố thì cũng quyết không giao cho tôi.”
Tạ Sùng vừa kể dứt lời thì cười ha hả.
Mâu Văn cũng thấy gã kia khá ngộ, bèn bật cười theo.
Cô nhận ra công việc của Tạ Sùng chẳng hề giống với những gì mình tưởng tượng.
Cô vốn ngỡ công việc của anh ắt phải hào nhoáng hơn, ví dụ như ngồi ngự trong căn văn phòng rộng thênh thang tha hồ chỉ tay năm ngón, hễ có chuyện gì thì cứ giao phó cho thư ký hay trợ lý đi giải quyết. Ai ngờ Tạ Sùng việc gì cũng phải tự thân vận động, lại còn phải so mưu tính kế với người ta.
“Người đời xảo quyệt lắm!” Tạ Sùng nói: “Cô biết trên thương trường hạng người nào dễ bị ăn hiếp nhất không?”
“Là hạng người nào vậy?” Mâu Văn hỏi.
“Hạng người như cô là dễ bị ăn hiếp nhất.” Tạ Sùng nói: “Nói cách khác, chính là tôi của thuở trước dễ bị ăn hiếp nhất. Chúng ta ai nấy đều mong kiếm được tiền, đụng mặt kẻ giúp mình sinh lời đều hết dạ cung kính, lắm lúc lại ngó lơ đi vài chuyện khiến bản thân chẳng mấy dễ chịu, cứ tặc lưỡi mặc xác nó đi, tiền vô túi mới là đồ thật.”
“Chẳng phải phải như vậy sao?”
“Không phải. Trước hết, đồng tiền bắt cô phải đánh đổi bằng một cái giá nào đó thì tự thân nó đã bị mất giá rồi. Cô hiểu ý tôi chứ? Bữa nay vì mối làm ăn này, cô đành ngậm bồ hòn làm ngọt, dẫu cho có kiếm được khoản tiền nọ, cô vẫn sẽ thấy tủi thân đôi chút, điều này chính là một dạng tổn thương về mặt tâm lý; còn đối phương thì sao? Kẻ đó nhận ra cô chịu đựng được sự uất ức, thế thì gã sẽ bắt cô phải chịu đựng triền miên… Những đồng tiền cỡ đó đều bị rớt giá cả thảy, nó sẽ kéo theo cả một chuỗi phản ứng dây chuyền.”
Tạ Sùng xua xua tay: “Thôi bỏ đi, không bàn chuyện này nữa.” Tạ Sùng giơ ngón cái lên với cô: “Cô giỏi thật đó, đơn hàng to cỡ vậy mà cô nói bỏ là bỏ ngay tắp lự.”
“Chứ sao nữa? Gã đó tởm lợm chết đi được.” Mâu Văn đáp lời: “Nhận trang hoàng nhà cho gã thì nguy hiểm biết chừng nào.”
Tạ Sùng nghe vậy bèn khẽ mỉm cười.
Mâu Văn vốn là người rất đỗi thông minh, sau vụ của thằng khốn dạo nọ, nay nếu cô muốn nhận một khách hàng thì ắt sẽ “điều tra” lai lịch trước. Trúng cái hạng khách nam cứ úp úp mở mở không chịu hé lộ thông tin chân thực thì cô ắt hẳn phải thủ sẵn vài phần dè chừng.
Hai người bọn họ rảo bước trên phố, cả hai đều hiếm khi có được một đêm thanh nhàn đến nhường này. Đây là đêm cuối tháng chín chốn Bắc Kinh, tiết trời chừng mười một mười hai độ, trời mơn man dăm cơn gió thoảng hiu hiu, bọn họ cứ vậy mà dạo bước vào sân vận động trường Đại học Nhân Dân.
Trên sân vận động Đại học Nhân Dân có rất đông người dạo bộ và chạy vòng quanh, trên khán đài có từng tốp dăm ba người đang ngồi tán gẫu.
“Anh coi phim Friends bao giờ chưa?” Mâu Văn hỏi Tạ Sùng: “Thì là… quán cà phê ở cổng Đông coi bộ giống trong Friends lắm á. Tôi từng đi chung với bạn cùng phòng một lần, thích thật sự luôn.”
“Vậy tại sao bây giờ lại không đi?”
“Tại vì tầm này người ta sắp sửa đóng cửa tiệm mất rồi.” Mâu Văn đáp lời.
“Vậy bình thường mấy người còn hay đi đâu nữa?” Tạ Sùng cất lời: “Quanh đây còn chỗ nào ngồi nán lại được không?”
“Quán Tị Phong Đường này, Điêu Khắc Thời Quang này… mấy chỗ này thỉnh thoảng tụi tôi có ghé qua, có cảm giác in như được quay về cái thuở học sinh á.”
“Vậy là cô thích phim Friends sao?” Tạ Sùng cất lời hỏi.
“Ai mà lại chẳng thích Friends chứ!” Mâu Văn chống nạnh, bắt chước Phoebe hát Smelly Cat: “Smelly cat, smelly cat, what are they feeding you…”
“Mèo hôi ơi, mèo hôi hỡi
Người ta cho chú ăn cái gì vậy…”
Cô vừa hát vừa nín cười không được, sực nhớ tới cái dạo còn ở trường, có một lần mấy người bạn cùng phòng xúm xít cất công bắt chước Friends. Tạ Sùng nhại theo giọng điệu của Joey, mở to đôi mắt thốt lên: “Oh my god!” (Ôi trời ạ!)
“Anh có coi rồi!” Mâu Văn chỉ tay về phía anh, bảo: “Tôi biết thừa là anh từng coi rồi mà!”
“Tại sao cô lại bảo vậy?”
“Tại trông anh giống Joey lắm, hai người đều là ‘người đẹp’, đều tưng tửng y hệt nhau, hai người…”
Mâu Văn định bảo rằng hai người đều giống hệt một gã khờ to xác, ngặt nỗi Tạ Sùng đã trợn mắt ngó cô rồi. Cô chẳng dám hó hé thêm lời nào, ánh mắt đành lảng sang nơi khác.
Có người từ đằng sau chạy tới suýt nữa tông trúng Mâu Văn, Tạ Sùng dang cánh tay ra che chắn một cái, kế đến anh vòng ngang lưng Mâu Văn dắt cô vào đường chạy sâu tận phía trong cùng. Đêm dần khuya, sân vận động cũng trở nên tĩnh mịch hơn đôi phần, bọn họ bước lên khán đài, ngồi cách nhau một vị trí.
Mâu Văn móc tai nghe ra, đưa cho Tạ Sùng một bên tai, sợi dây chẳng đủ dài, Tạ Sùng bèn xích lại gần Mâu Văn một chỗ ngồi.
Mâu Văn bật bài hát cho Tạ Sùng nghe.
Bên trong chiếc tai nghe, điệu nhạc du dương róc rách cất lên:
I see trees of green, red roses too
I see them bloom for me and you
(Tôi nhìn thấy những hàng cây xanh mướt, thấy cả những đóa hồng đỏ thắm
Tôi thấy chúng đua nhau nở rộ, dành tặng cho tôi và cả cho em)
~~
Đời người thật là huyền diệu. Bản nhạc cô nghe, anh cũng đã nghe suốt bao nhiêu năm ròng.
Anh cứ hay vào những đêm thanh vắng, tĩnh lặng ngồi bên bậu cửa sổ, đón làn gió mát hiu hiu mà lắng nghe ca khúc này. Nếu mà gặp may, anh sẽ bắt gặp một cánh chim vỗ cánh bay vút lên bầu trời, dệt nên khung hình phụ họa cho điệu nhạc, thế nào anh cũng sẽ thốt lên “What a wonderful world”
(Thế gian này đẹp đẽ biết bao”).
“Phát lại lần nữa đi.” Anh yêu cầu khi âm nhạc vừa dứt.
“Anh cũng thích bài này hả?” Mâu Văn ngạc nhiên hỏi anh: “Đây là lần đầu tôi gặp được người cũng thích bài này đó.”
“Vậy chắc là do cô quen biết ít người quá rồi.” Tạ Sùng trêu chọc cô: “Chẳng phải bây giờ đã có thêm tôi đây sao?”
Mâu Văn rút điện thoại ra, nhấn cho điệu nhạc vang lên lần nữa.
Chiếc điện thoại của cô đã dùng từ lâu lắm rồi. Khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng đến thế, các dòng điện thoại bắt đầu liên tục thay mới vòng đời, ấy vậy mà chiếc 5300 của cô trông vẫn mới như in. Lúc nghe nhạc xong, Tạ Sùng nhìn cô quấn dây tai nghe: sợi dây tai nghe màu trắng được quấn từng vòng từng vòng quanh chiếc điện thoại, ngay ngắn chỉnh tề, kế đó mới được bỏ vô chiếc túi vải canvas.
Phải rồi, mỗi lần đi làm cô thường mang một chiếc balo hai dây nặng trịch, bên trong đựng chiếc máy tính còn nặng nề hơn. Cái đám “dân vẽ vời” này bắt buộc phải dùng loại máy tính cỡ đó, mấy loại hệ điều hành bình thường kéo đâu có nổi phần mềm của họ.
Vào những đêm như vầy, hễ ra khỏi nhà là cô lại thuận tay quải chiếc túi xách vải một bên vai, bên trong mang theo dăm ba món đồ lặt vặt tùy thân.
Chiếc điện thoại của cô được thả chầm chậm vô trong cái túi vải ấy.
Mâu Văn nhận ra Tạ Sùng đang mải miết ngắm mình, cô bèn cất tiếng hỏi: “Anh sao vậy?”
“Mâu Văn, tôi chẳng có bao nhiêu bạn bè.” Tạ Sùng cất lời: “Còn cô thì sao? Bạn bè cô có đông không?”
“Tôi ấy à…” Mâu Văn bẻ ngón tay nhẩm đếm, cũng chẳng coi là nhiều nhặn gì. Thuở cấp ba vì cứ mải miết cắm đầu vô chuyện học hành, chưa kịp kết thân với ai thì đã tới kỳ thi đại học mất rồi; thời đại học mối quan hệ với bạn bè chung lớp khá tốt, ngặt nỗi sau khi ra trường người thì học lên cao học, kẻ thì cắm cúi đi làm, số bạn học lên Bắc Kinh cả thảy chỉ có bốn người, mà trong đó có hai người cô lại chẳng mấy quen thân; lúc đi làm rồi những người cô giáp mặt rặt là khách hàng, Tiểu Cố coi như là người bạn tốt của cô, ngoài ra còn có Sở Lăng nữa.
Hết rồi.
“Bạn bè tôi cũng chẳng đông đúc gì.” Mâu Văn nói: “Tiếc thật đó, tôi tốt tính nhường này, vậy mà lại cứ chẳng có lấy thời gian để kết bạn kết bè.”
“Tôi có được tính là bạn của cô không? Mâu Văn.” Tạ Sùng nhìn cô rất đỗi nghiêm túc, anh muốn nghe được câu trả lời từ cô. Đã từng có một lần, anh chắc mẩm mười mươi rằng cô thích anh, đem lòng ái mộ anh, ngặt nỗi cô lại chẳng bao giờ chịu chủ động liên lạc với anh.
Bọn họ từng xảy ra vài lần chẳng vui, anh rời đi Cảnh Đức Trấn, cô liền bặt vô âm tín luôn. Tạ Sùng lại đinh ninh có chăng ánh mắt dạo nọ là do chính anh nhìn nhầm rồi.
Mâu Văn chẳng vội đáp lời anh ngay. Cô vốn dĩ đâu có giỏi nói lời dối gạt. Cô khao khát biết bao để thốt lên rằng anh chẳng phải bạn bè gì của tôi, anh là người mà tôi đem lòng cảm mến. Ngặt nỗi cô lại sợ lỡ mình nói như thế, Tạ Sùng ắt sẽ đứng dậy bỏ đi một mạch.
Anh quả thực là một kẻ sợ phiền phức. Chí ít là Mâu Văn luôn đinh ninh như thế.
“Dĩ nhiên là tính chứ!” Mâu Văn làm ra vẻ nhẹ nhõm cất lời: “Tôi coi anh là người bạn tốt nhất của tôi đó nha! Anh biết rồi đó, tôi ở chốn Bắc Kinh này, chẳng có bè bạn gì mấy. Tôi thích những lúc được ở bên cạnh anh lắm, anh Tạ.”
“Tạ Sùng.” Tạ Sùng sửa lại cách xưng hô của cô với mình: “Tạ Sùng. Cô từng thấy có ai đời lại kêu bạn bè của mình là anh này hay cô kia chưa hả?”
Mâu Văn mỉm cười, lần này cô thả giọng chầm chậm gợi tên anh một cách rành rọt: “Tạ Sùng.”
“Tạ Sùng.”
“Tạ Sùng.”
“Rốt cuộc cũng kêu trơn miệng rồi!” Mâu Văn đứng dậy, ngoái đầu lại cất lời với anh: “Tụi mình thi chạy nha?”
“Thi gì đây?”
“Chạy bộ đi!” Mâu Văn nói: “Anh có dám thi không?”
“Bao xa?” Tạ Sùng hỏi.
“Ba cây số!” Mâu Văn nói. Vừa hé miệng đã đòi liền ba cây số, cứ làm như thể một trăm mét, năm trăm mét, hay tám trăm mét tất thảy đều chẳng được tính là chạy bộ vậy. Tạ Sùng bĩu môi, có một dạo cấp hai anh từng rèn chạy cự ly trung bình và dài, thi đấu trên thành phố cũng từng đoạt thứ hạng đàng hoàng. Về sau do chấn thương thể thao nên đành ngưng huấn luyện chuyên nghiệp, ngặt nỗi nền tảng căn cơ thì vẫn còn y nguyên.
Tạ Sùng vốn chẳng mấy khi khoác lác, nhưng nếu muốn kiếm một kẻ có khả năng chạy thắng được anh ngay trên cái sân này, quả thực là rất khó. Anh quyết định phải cho Mâu Văn nếm thử chút mùi lợi hại.
“Như vậy đi, tôi nhường cô chạy trước hai mươi giây.” Tạ Sùng cất lời: “Kẻo lại bảo tôi ăn hiếp cô. Thêm nữa, thi thố thì phải có cá cược phân định kẻ thắng người thua, chứ bằng không thì vô vị lắm.”
“Cược món gì đây?” Mâu Văn hỏi.
“Hai trăm tệ.” Tạ Sùng nói: “Nhiều hơn chút đỉnh thì cô lại xót đứt ruột cho coi.”
“Được thôi.” Mâu Văn bèn đem chiếc túi vải của mình vắt lên thanh xà đơn, áo khoác ngoài cũng cởi ra đặt ngay nơi đó. Tạ Sùng thấy cô giương cờ đánh thật, cũng chẳng mảy may nao núng. Anh cởi phăng chiếc áo khoác gió đặt kế bên áo khoác của Mâu Văn. Bên trong anh mặc một chiếc áo thun sậm màu có chất vải dệt cực khéo, tôn trọn vóc dáng anh tuấn: không quá đỗi gầy guộc nhỏ yếu cũng chẳng quá mức vạm vỡ, mà mang dáng dấp cao ráo khỏe khoắn vừa vặn tới độ tuyệt mĩ.
Mâu Văn bước tới lấy áo khoác của mình trùm lên chiếc áo gió của anh, cất lời: “Giấu phụ anh nè, áo của anh đắt tiền quá, lỡ mất thì uổng lắm.”
Tạ Sùng liếc nhìn cô một cái, hất đầu về hướng sân vận động: “Đi thôi.”
Anh nhường Mâu Văn chạy trước, Mâu Văn cũng chẳng thèm khách sáo gì hết, trong chớp mắt đã lao vọt đi. Tạ Sùng trông thấy sải bước chạy đầu tiên của Mâu Văn liền đâm ra hối hận: tư thế chạy bộ của cô nàng “Ba Đồ Lỗ” này quá đỗi đẹp mắt và chuyên nghiệp, nhường tận hai chục giây này e là anh khó có thể đuổi kịp rồi.
Thành thử anh mới nhẩm đếm tới giây mười chín là đã tức tốc phóng đuổi theo.
Đã bao năm Tạ Sùng chưa nếm trải lại cái cảm giác thi thố như thế này.
Sân vận động chốn học đường vốn dĩ khác biệt rất nhiều so với đường cái hay trong nhà thi đấu, ngay giữa khoảnh khắc sải bước lao đi vun vút, anh đã cảm nhận được sự tự do. “Người bạn” Mâu Văn của anh quả thật y hệt như một con linh dương cẳng dài, đang hớn hở sải bước chạy tung tăng.
Tạ Sùng cứ mải miết rượt đuổi theo cô.
Đuổi kịp cô đâu có dễ như thế chứ? Cô đích thị là một đối thủ đáng gờm thân thủ tráng kiện chẳng thể khinh thường, đôi chân dốc sức thoăn thoắt sải bước trong sắc đêm, vượt mặt hết người này lại tới người khác.
Tạ Sùng cứ mải miết rượt đuổi theo cô.
Đuổi kịp cô đâu có dễ như thế chứ? Cô hệt như được ngoảnh bước về chốn thảo nguyên thân quen, thả mình dưới bức màn trời giăng đầy muôn ngàn tinh tú, chạy bộ đắm say quên mình, cô chẳng thèm bận lòng tới bất kỳ một ai khác.
Mái tóc cô bung xõa cả ra, cô cũng chẳng màng ngó ngàng tới. Mâu Văn vui sướng xiết bao, cô yêu thích sải bước đến nhường ấy, cứ y như thể chỉ cần chạy cho đủ nhanh là dư sức quăng hết thảy mọi bề lại tít đằng sau.
Kể cả Tạ Sùng.
Ngặt nỗi Tạ Sùng đâu thể xem nhẹ được.
Mâu Văn phát hiện anh vẫn luôn giữ đều tốc độ bám riết theo cô, ngoái đầu ngó lại một lần, cô nhận ra từng sải bước anh chạy đều in đậm dấu ấn rèn luyện, chẳng hề kém cạnh mấy tay vận động viên chạy cự ly dà nơi học đường.
Trời đất ơi.
Hèn gì anh ấy lại đòi nhường mình hai chục giây! Lão cáo già!
Lòng hiếu thắng của Mâu Văn càng trỗi dậy mãnh liệt, cô càng ra sức sải bước chạy hăng hơn. Tạ Sùng cũng tăng tốc bám riết lấy cô, vòng chạy chỉ còn vẹn khoảng một trăm mét cuối cùng, anh đã bắt kịp ngay bên hông cô.
Anh chẳng hề muốn thắng mà cũng chẳng đành lòng thua, Anh thấy chỉ cần được sải bước như vậy thôi là đủ tốt lắm rồi, những điều đè nén cũ kỹ, những cảm xúc rầu rĩ ứ đọng trong thân thể đều nương theo từng sải bước mà tuôn thoát ra khỏi từng lỗ chân lông. Giống như chứng bệnh lâu năm thình lình thuyên giảm, cả người nhẹ tênh.
Cả hai thảy đều chẳng nói lời nào.
Thi thoảng lại luân phiên ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, giữa màn đêm chốn thị thành đèn đuốc rực rỡ, những vì sao cũng dần lặn mất tăm. Tiếng hít thở của người kề bên nghe rành rọt tỏ tường, bọn họ gần như giữ trọn nhịp thở đồng điệu cùng nhau.
Họ chạy một mạch tới vạch đích, liếc nhìn nhau một cái, kế đó liền cùng lúc cười rộ lên ha hả. Mái tóc của cả hai hệt như thể vừa chui nhủi từ chuồng cừu ra vậy, xù lên rối bời.
Mâu Văn giống y như những lần chạy bộ chung với mấy cô bạn cùng phòng thuở trước, tiến đến sát bên rồi choàng vai ôm nhẹ một cái để ăn mừng vì đã kiên trì tới cùng.
Lần này cũng giống như thế, cô nhảy cẫng tới trước mặt Tạ Sùng, vòng tay ôm trọn cánh tay anh, rồi nhẹ nhàng ôm lấy anh một cái.
Tạ Sùng sững sờ cứng đờ cả người ngay tại nơi ấy.
Tác giả có lời muốn nói:
Giai điệu trích dẫn trong chương: “What a Wonderful World”.





