Chương 30: Cuộc đối đầu ở Tiểu Sơn Học Quán
*
Ánh sáng ban mai xuyên qua màn cửa sổ, rơi thành từng vệt vàng óng lấp lánh trong phòng.
Lư Hội mặc vào bộ hồ phục mới mà mẹ vừa may cho, đứng trước gương búi gọn mái tóc dài mềm mượt, rồi lấy ra ngọn hắc tiên đã lâu không động tới, thuần thục quấn vòng vòng quanh eo mình. Khi tỳ nữ Bùi phủ bưng váy áo, trâm vòng tiến vào, thì kinh ngạc phát hiện ra vị tiểu thư ôn nhu dịu hòa bấy lâu nay giờ phút này căng thẳng như một dây cung đã giương.
Xa giá lắc lư trên con đường lát đá xanh bằng phẳng, Lư Hội tựa vào vách ngồi, tay phải đặt lên chuôi roi, cảm giác quen thuộc khiến cô yên lòng, song trong dạ lại thấp thỏm lo lắng khi nghĩ tới việc sắp xảy ra.
Ngày trước theo chân Kính Tuyên dạo chơi khắp phố phường Lạc Dương, cô từng thấy không ít người trong tửu quán, tửu lâu, trường đấu gà… vừa đùa vừa so tài quyền cước cung tiễn. Mỗi khi ấy, Lư Hội đều nhắc nhở bản thân: đây là Trung Nguyên — an ổn, giàu có, đồ vật tinh xảo, y phục tao nhã. Người nơi đây chẳng bao giờ phân chia của cải bỏ sẵn vào mấy túi vải để lúc nào cũng sẵn sàng bỏ trốn, cũng chẳng khi ngủ phải chừa một tai nghe ngóng tiếng vó ngựa dồn dập ngoài thành.
Còn tại nơi Lư Hội lớn lên, quyền cước đao cung là để liều mạng mà sống, tuyệt đối chẳng phải trò tiêu khiển lúc rảnh rỗi. Đao một khi rút khỏi vỏ, ắt phải thấy máu mới được thu về; ra tay thì phải dốc toàn lực, bằng không, kẻ địch chẳng chết thì kẻ chết chính là mình.
Bởi thế, Lư Hội vốn chưa từng nghĩ sẽ động thủ với đám tiểu thư học quán kia — há lại nỡ đánh nát khuôn mặt mịn màng như cánh hoa của họ? Hay bẻ gãy đôi tay đôi chân mềm tựa nhành liễu ấy?
Nhưng nếu không ra tay, cô sẽ cứ thế mà chịu đựng bị bắt nạt mãi.
Giờ đây cô đã hiểu, đao kiếm chưa hẳn chỉ có hình, vô hình cũng có thể làm người ta tổn thương.
Chỉ mong chớ làm thương tổn đến chỗ yếu hại của họ vậy.
Bởi muốn một lần chấn nhiếp tất cả, hôm nay Lư Hội cố ý tới Tiểu Sơn Học Quán muộn hơn, thành thử khi cô bước vào lớp thì những tiểu thư khác đã có mặt đông đủ.
Dư Xảo Nương tự giác ngồi ở hàng cuối, khổ sở vẫy cô đến ngồi chung.
Lư Hội sải bước đi tới, dứt khoát gom cả giấy bút trên bàn nhét vào thư hạp: “Đi, chúng ta lên ngồi hàng đầu!”
— Thực ra lớp học rất rộng, từ hàng cuối đến mấy hàng trước vẫn còn nhiều bàn trống, thỉnh thoảng ghép lại để dạy vẽ chữ lớn.
Dư Xảo Nương kinh ngạc: “Ngồi… ngồi lên phía trước sao?”
Lư Hội khí thế bức người: “Đúng, hôm qua tỷ chẳng phải than rằng ngồi sau nghe chẳng rõ ư? Chúng ta ngồi lên hàng đầu!”
Dư Xảo Nương lắp bắp: “Phía… phía trước…”
— Đại lão quên rằng chúng ta đang bị ghẻ lạnh rồi sao?
Lư Hội thẳng thừng xách cả nàng lẫn thư hạp lên, đi mấy bước tới hàng đầu, thản nhiên mở hạp bày giấy bút.
Như hôm qua, các tiểu thư hai bên lại cố tình làm ra vẻ “khinh bỉ” bỏ đi, song lần này Lư Hội mặc kệ — các nàng muốn đi thì cứ đi, cô tuyệt chẳng còn né tránh nữa.
Từ bốn phía ánh mắt căm ghét khinh thường ném tới, Lư Hội trừng lớn mắt từng người mà trợn trả — cô là cháu ngoại gái của quyền thần Bùi Thiếu tướng, ai dám công khai ức hiếp cô?!
Quả nhiên, khi cô dám nhìn thẳng lại, đám tiểu thư kia trái lại chẳng dám đối diện, đồng loạt né tránh ánh mắt.
Oai phong lẫm liệt như vậy, khiến Dư Xảo Nương há hốc mồm kinh hãi.
Tất nhiên, các tiểu thư cũng chẳng chịu dễ dàng nhận thua. Sau một khắc tĩnh lặng, một cô nương mày mắt sắc nhọn làm ra vẻ cười cợt bước tới. Nàng ta cầm sách, giả bộ hành lễ với Lư Hội: “Đã sớm nghe tiếng a tỷ nhà họ Lư học vấn uyên thâm, tiểu muội muốn thỉnh giáo một đôi điều, chẳng hay câu ‘Nước có đạo, lời ngay, việc thận; Nước vô đạo: việc thẳng, lời nhường.’ nên giải thế nào?”
— Trong lớp phút chốc im lặng, ánh mắt mọi người đều dồn về phía Lư Hội, hoặc lo lắng, hoặc hiếu kỳ, song phần nhiều là chờ xem trò cười.
Lư Hội chậm rãi đứng dậy, một tay túm lấy cổ áo trước của nàng ta, rồi nhằm chỗ trống không có bàn ghế mà mạnh mẽ quật xuống. Cô nương kia lập tức bị một lực lớn hất ngã, không chỉ ngồi phịch xuống đất mà còn trượt dài trên sàn gỗ trơn nhẵn hơn một trượng, tới tận khi lưng đập vào một chiếc án mới dừng lại.
Lư Hội lạnh lùng cười: “Nghe gì mà nghe mãi, học vấn của ta có uyên thâm hay không, các cô chẳng rõ ư?”
— Cô thề với hương thân phụ lão ở Sa Châu, vừa rồi cô thật sự chỉ dùng có ba phần sức thôi đấy!
Cô nương ngã dưới đất lập tức òa khóc: “Cô ngang ngược vô lý, ra tay thương người, cô… cô ức hiếp người khác!”
Năm sáu vị tiểu thư vội vàng chạy đến đỡ nàng ta, vừa xem xét vừa an ủi, rồi bảy miệng tám lời chỉ trỏ Lư Hội mà mắng.
Nhưng một đám tiểu thư đọc sách chưa từng lăn lộn chốn thị thành thì biết chửi rủa được gì cay độc, cũng chỉ lặp đi lặp lại mấy lời như “thô lỗ, hạ tiện, vô sỉ, chúng ta phải cáo tố cô với phu tử” mà thôi.
Lư Hội nhớ đến lời của Bùi Thứ Chi, liền thản nhiên nói: “Cái gì mà ức hiếp người, ta chỉ là sức tay lớn một chút, lỡ không cẩn thận thôi.”
Dư Xảo Nương sau cơn kinh ngạc rốt cuộc cũng ngậm miệng lại, vội vàng phụ họa: “Đúng vậy, A Lư chỉ là vô ý. Hôm qua chúng ta còn ở ngoài hiên gió lạnh ăn cơm cũng chẳng than thở, các cô chớ có lấy chuyện nhỏ xé ra to!”
Trong đám tiểu thư có một người tức quá, liền hướng về phía Lư Hội mà mắng chửi: “Chúng ta đã dò hỏi rồi, cô vốn là con gái thương nhân, trời sinh phù phiếm nông cạn, hám lợi nông nổi, chẳng biết dùng thủ đoạn dơ bẩn gì mà bám được vào Bùi Thiếu tướng, nay liền cáo mượn oai hùm, ngạo mạn vô cùng. Quả nhiên có mẹ thế nào thì sinh ra đứa con như thế ấy, dẫu có bước vào Bùi phủ cũng là chó chẳng đổi được tính ăn phân…”
Dư Xảo Nương sốt ruột, kêu lên: “Các cô sao lại thế! Đánh người thì không đánh vào mặt, hại người chớ hại lòng, miệng buông lời ác độc thì còn ra thể thống đọc sách gì nữa…”
Lư Hội không nói không rằng, kéo Dư Xảo Nương ra sau, vung chiếc trường tiên bên hông, mạnh mẽ quật xuống — trong khoảnh khắc, sợi roi dài mảnh như một tia điện đen sấm sét thẳng bổ vào đám tiểu thư, xung quanh liền đồng loạt hô kinh hãi.
“Bốp” một tiếng nổ giòn vang, chỉ thấy chiếc án gỗ bên cạnh mấy tiểu thư kia bị roi chém vỡ làm đôi, mảnh vụn rơi lả tả khắp nơi — bàn ghế trong học quán Tiểu Sơn đều làm từ loại gỗ quý dày nặng, thường ngày đến bậc tráng hán có giáng nắm đấm xuống cũng chưa chắc một đòn mà phá nổi, nay lại bị sợi roi mảnh dài đánh tan, đủ thấy lực đạo mãnh liệt, thế roi kinh người.
Có một tiểu thư còn cứng miệng, vừa phun ra ba chữ: “Cô dám…” thì Lư Hội đã quất thêm một roi thứ hai.
Roi ấy quật nghiêng vào khung cửa sổ chạm hoa ngay cạnh mặt nàng ta, lập tức gỗ vụn nát bắn tung tóe, văng khắp mặt mũi thân thể, khiến nàng ta sợ đến ngây dại, chẳng dám nhúc nhích.
“Cô tin hay không, dẫu ta có quất nát khuôn mặt cô, người nhà cô cũng chẳng dám tới tìm cậu ta mà hỏi tội?” Lư Hội kéo roi về, vòng quanh cánh tay, khóe môi nhếch cười lạnh: “Đợi đến khi mặt cô chẳng khác gì đống mảnh vụn dưới đất này, ta xem cô còn dám tiếp tục ăn nói hạ tiện nữa hay không!”
— Người mà cô thương yêu nhất chính là cha mẹ huynh muội, ai dám động vào nghịch lân ấy của cô, dẫu là rồng sống cô cũng dám khoét tim móc gan!
Chúng tiểu thư lặng im như ve sầu mùa đông, vừa run sợ trước khí thế hiên ngang của cô, lại vừa biết rằng cho dù mình chịu thiệt, Bùi Thiếu tướng nhiều lắm cũng chỉ thay mặt xin lỗi, thêm chút tiền thuốc men là xong, nên chẳng ai dám lên tiếng.
“Hay cho bản lĩnh.”
Một giọng nói trong trẻo bình tĩnh vang lên, một bóng dáng cao gầy của một thiếu nữ chậm rãi bước ra từ trong đám người.
Mọi người quay nhìn, thì ra là Lâm Mạt Tử, kẻ vốn xưa nay ít lời, chỉ khoanh tay đứng nơi góc lớp quan sát.
Lâm Mạt Tử nhạt nhẽo mỉm cười: “Không ngờ cô cũng là người tập võ. Nhưng có bản lĩnh ấy mà đem ra ức hiếp nữ tử yếu đuối thì chẳng tính là gì, chi bằng cùng ta so thử một phen?”
Vừa thấy dáng đứng ôm quyền của nàng, Lư Hội liền biết đối phương cũng là người luyện võ. Cô liền đẩy Dư Xảo Nương về phía tường: “Tỷ lánh xa một chút.”
Dư Xảo Nương lập tức nhanh trí, xoay người thu dọn giấy bút của cả hai, ôm hai chiếc thư hạp chạy ra góc lớp. Khi nàng rụt vai nép sát tường thì chợt va phải một người, quay lại nhìn thì lại là Vương Hòa Vi. Thật khéo, nàng ta cũng ôm hai chiếc thư hạp, nép tường như mình.
Hai người chạm mắt, chẳng khác nào soi gương.
“Xin mời.” Lâm Mạt Tử ôm quyền hành lễ, ngay sau đó tung người lên bàn, chân đá xé gió bay tới.
“Hay lắm!” Thấy một cước ấy dữ dội, Lư Hội không dám khinh thường, lập tức né người tránh đi, rồi xoay mình chưởng phản công.
Khi hai người quấn lấy nhau giao đấu, sự khác biệt lập tức lộ rõ.
Lâm Mạt Tử thân hình cao gầy, giỏi về cận thân, càng áp sát thì chiêu pháp càng lợi hại; trái lại, tuổi tác còn nhỏ hơn, Lư Hội lại có chưởng phong cương mãnh, công thế quyết liệt.
Trong bụng Lâm Mạt Tử lấy làm kinh hãi — từ nhỏ nàng vốn thiên tư, nghị lực vượt xa huynh đệ, chẳng ngờ hôm nay gặp một tiểu thư tuổi trẻ hơn mình lại sở hữu võ nghệ như thế.
Qua mười mấy chiêu, kỳ thực trong lòng Lư Hội đã nắm chắc. Ngay đó, cô bỗng thu liễm chưởng thế, lách người áp sát Lâm Mạt Tử, hữu chưởng bổ vào cổ, xoay mình tả trửu thúc vào bụng, liền sau đó hữu thủ chộp vào yết hầu.
Lâm Mạt Tử không phòng bị Lư Hội chủ động áp sát, vội vàng lùi tránh, ai ngờ đó chính là lúc đối phương chờ. Cánh tay Lư Hội vung roi mềm như lưỡi rắn phóng ra, trong chớp mắt đã quấn chặt cổ tay trái và cánh tay phải của nàng ta, rồi siết chặt ra sau lưng.
Lư Hội giật mạnh dây roi, Lâm Mạt Tử giãy giụa chẳng thoát, thắng bại đã phân.
Dư Xảo Nương vươn cổ trông thấy cảnh này, hớn hở kêu lớn: “Hay lắm!”
Một tiểu thư khác tức tối: “Cũng chỉ nhờ roi lợi hại, có gan thì tay không đánh đi!”
“Càng chẳng có bản lĩnh thì lại càng thích đổ lỗi cái này cái nọ!” Dư Xảo Nương liền chặn họng đáp lại.
Lư Hội cảm nhận Lâm Mạt Tử không còn chống cự, bèn buông roi.
Lâm Mạt Tử lùi mấy bước, xoa cổ tay, nói: “Thủ pháp dùng roi thật tuyệt.”
“Quá khen.” Lư Hội buộc roi trở lại bên hông.
“Có thể tái đấu một trận nữa chăng?” Sắc mặt Lâm Mạt Tử hiện rõ vẻ hứng khởi.
“Đương nhiên có thể.”
Trong khi Dư Xảo Nương cùng đám tiểu thư vừa mở miệng đấu khẩu, hai người Lâm và Lư đã lại quấn lấy nhau, khiến mọi người vội mở to mắt chăm chú nhìn.
Lần này cả hai tay không giao đấu.
Lâm Mạt Tử chẳng còn giữ lại, chỉ tay hợp chưởng, công thế ào ạt, bỏ mặc phòng thủ.
Hai người khi thì tung mình lên xà nhà, khi thì lướt quanh bàn ghế như cỏ nước dao động, đến lúc kịch liệt Lâm Mạt Tử còn đạp cột nhà lấy thế lao thân ập tới — cả sảnh tiểu thư đều hoa mắt chóng mặt, chẳng ai còn mở miệng.
Đấu được hai mươi chiêu, Lư Hội bất ngờ chộp lấy nghiên mực trên bàn ném tới, cả hai cùng dừng thế —
Viên nghiên ấy dừng lại ngay trước trán Lâm Mạt Tử chỉ một tấc!
Dư Xảo Nương mừng rỡ nhảy lên bàn: “A Lư lại thắng thêm một trận!”
Người mù cũng thấy rõ, nếu vừa rồi Lư Hội không dừng tay, hòn nghiên đã bổ nát trán đối thủ, lần này đến cả đám tiểu thư vẫn chửi mắng Lư Hội cũng cứng họng, sắc mặt ai nấy xám ngắt.
Lâm Mạt Tử và Lư Hội cùng lúc buông lui.
Nàng vừa xoa cổ tay, vừa do dự nói: “Võ nghệ của cô quả thực cao minh, nhưng mà…”
Dư Xảo Nương phẫn uất: “Sao, cô còn không chịu nhận thua à?”
Sắc mặt Lâm Mạt Tử lộ vẻ khó xử.
“Mạt Tử.” Vương Hòa Vi bỗng cất tiếng.
Mọi người ngước nhìn, chỉ thấy nàng ta chậm rãi bước vào giữa sân: “Mạt Tử, dùng binh khí đi.”
Nói rồi, nàng lấy từ trong thư hạp ra một bọc gấm dài mỏng, đưa tới.
Vương Hòa Vi quay sang: “Xin Lư nương tử thứ lỗi, chẳng phải Mạt Tử cố chấp không phục, mà là từ nhỏ nàng vốn không chuyên tâm luyện quyền cước, mà khổ luyện chính là song đao.”
Bọc gấm mở ra, lộ ra một đôi đoản đao chuôi khảm ngọc, thân đao kim ngân giao thoa, dài hơn dao găm một chút, hẹp hơn trường đao một bậc, lưỡi đao như mặt nước trong veo, sáng soi bóng người.
“Đao hay lắm.” Lư Hội khẽ khen — Y Lam nhất định sẽ thích.
Lâm Mạt Tử cầm song đao, một thuận một nghịch, nói: “Xin yên tâm, đao này chỉ mở nửa lưỡi.”
Thế nào là nửa lưỡi? Chính là có thể cắt giấy, bào thuốc, đôi khi cứa xước da thịt, nhưng không đến mức đoạt mạng.
Nàng siết chặt song đao, khí thế lập tức đổi khác: không còn vẻ lãnh đạm ít lời, mà đôi mắt sáng rực như lửa, tràn đầy hưng phấn vì gặp đối thủ xứng tầm.
Dư Xảo Nương hồi hộp: “Hội nương, muội có mang đao không? Nếu không ta sai người về lấy? Mau tìm món binh khí đi!”
“Được.” Lư Hội gật đầu, rồi nhận lấy thư hạp của Dư Xảo Nương.
Dư Xảo Nương tròn mắt: “…Ta có mang binh khí đâu.”
Lư Hội từ trong thư hạp lấy ra một cây bút, chấm vào nghiên mực vừa mài xong.
Cô nói: “Đây chính là binh khí.”
“Hả?” Dư Xảo Nương há hốc miệng.
Lâm Mạt Tử nhìn không thuận mắt, chăm chăm vào cây bút: “Cô coi thường ta sao? Dù là binh khí gì, được toàn lực giao đấu cùng cao thủ như cô, dẫu gãy tay gãy chân cũng là vinh dự của ta.”
Lư Hội khẽ lắc đầu: “Công phu của ta chưa đủ, khó mà thu phát đúng mực. Nếu dùng đao kiếm thật, lỡ làm mất mạng người thì ta không muốn liên lụy đến gia đình.”
Ngụ ý: cô không sợ chết, nhưng ta lại sợ phiền toái.
Lâm Mạt Tử thấu hiểu, không tranh nữa: “Được, vậy xin chỉ giáo.”
“Nhanh, dọn hết bàn ghế ra, chừa khoảng trống!”
Tiểu thư mày mắt sắc sảo từng khiêu khích Lư Hội lúc trước bỗng la lên. Đám tiểu thư chung quanh lập tức động thủ, mau chóng dời bàn ghế, giá sách hết sang tường.
Trận quyết đấu này càng thêm kịch liệt.
Song đao kim ngân tựa đôi giao long uốn lượn, liên tục quấn lấy muốn trói buộc Lư Hội; còn Lư Hội chỉ với cây bút lông, chậm mà chắc, đâm chọc như kim sắt, mỗi khi giao long sắp khép vòng vây thì liền bị ngòi bút như chêm sắt chặn đứng.
Hai thiếu nữ đấu đến mặt hồng khí nóng, mồ hôi ròng rã. Rốt cuộc, theo một tiếng quát ngắn, cả hai đồng thời áp bức đối phương ngừng lại.
Mọi người nhìn vào — lưỡi đao của Lâm Mạt Tử gần như dán sát cổ Lư Hội, còn đầu bút của Lư Hội cũng chỉ cách yết hầu nàng chưa đầy một tấc.
Tiểu thư mày sắc kia reo lên: “Hòa nhau rồi!”
Các tiểu thư khác cũng ào ào hò reo.
Lâm Mạt Tử thở dốc, hạ song đao xuống: “Không, ta đã thua.” — Nàng xòe tay áo ra cho mọi người thấy: trước ngực, vai, lưng, thậm chí cả khuỷu tay, đầu gối đều in vài điểm mực, rõ ràng đều là vết bút Lư Hội đã chọc trúng.
Vương Hòa Vi ôn tồn nói: “Nếu A Lư cầm cây trâm, Mạt Tử e rằng đã đầy mình trọng thương.”
Lư Hội thở hổn hển lùi lại, Dư Xảo Nương vội chạy đến đỡ, liên tục đưa khăn, dâng nước: “Muội ổn không? Có mệt không? Mau ngồi nghỉ.”
Lư Hội mệt đến chẳng thốt nên lời, một lúc lâu mới cất giọng cao: “Võ nghệ của Lâm nương tử cao cường, kiên cường tuyệt luân, ta cũng đã dốc hết sức rồi.”
“Ta thua, tâm phục khẩu phục.” Lâm Mạt Tử cười lớn, ôm quyền với cô: “Từ nhỏ đến giờ trong huynh đệ đồng môn ta luôn vô địch, ngạo mạn đã nhiều năm, nay mới biết núi cao còn có núi cao hơn.”
Rõ ràng bại trận thảm hại, nhưng nụ cười trên mặt nàng lại nóng rực như ánh nắng mùa hạ: “Hôm nay được một trận chiến sảng khoái như thế, là phúc ba đời của ta!”
Nàng quay quét ánh mắt quanh: “Chúng ta tuổi tác tương đồng, có kẻ khổ đọc mười mấy năm, có người say mê cầm kỳ thi họa, cũng có kẻ rèn luyện võ nghệ phi phàm — đều chẳng uổng quãng thanh xuân. Từ nay về sau, ai dám cho A Lư nửa phần sắc mặt, tức là đối địch với Lâm Mạt Tử ta!”
Vương Hòa Vi bước đến đứng cạnh, kiên định: “Ta cũng vậy.”
Lâm Mạt Tử nhìn cảnh lớp học tan hoang, cười sang sảng: “Những thứ hư hại trong đường đường hôm nay, ta sẽ đền hết.”
Lư Hội vội chen vào: “Ta cũng chịu một nửa.” — Không cần nhờ cậy ông cậu giả, chính cô cũng gánh nổi.
Lâm Mạt Tử lại cười, bước đến gần: “Hôm nay chúng ta xin nghỉ, ta mời cô đến Thái Bạch Phường uống một trận, mừng cho duyên không đánh không quen.”
Lư Hội lưỡng lự: “Mới ngày thứ hai nhập học mà đã cáo nghỉ, có ổn không?”
Khuôn mặt Dư Xảo Nương đỏ rực vì hứng khởi: “Quá ổn! Ta cũng đi!”
Lư Hội nhướng mày: “Vậy thì được, tỷ đi thưa với phu tử.”
Dư Xảo Nương lập tức chùn bước.
Lâm Mạt Tử cười ha hả, kéo Vương Hòa Vi đi tới: “Để nàng ra mà giảng một tràng chi hồ giả dã, đảm bảo sẽ thành.”
Vương Hòa Vi liền lườm nàng một cái.
–
“Chả trách buổi trưa cô đã về, lại còn nồng nặc hơi rượu.” Bùi Thứ Chi nhướng cao mày dài, “Phàn quán chủ trị học nghiêm cẩn, sao lại dễ dàng cho các cô cáo nghỉ được?”
Lư Hội ôm khuôn mặt tròn đỏ ửng vì men, đáp: “Phàn quán chủ nói gì mà ‘tiêu sái cuồng ca, khó có duyên gặp gỡ’, liền bằng lòng cho bọn tôi cáo nghỉ rồi. Tôi còn lấy làm lạ, sao chúng tôi đánh nhau nửa ngày mà phu tử vẫn không tới, té ra là toàn bộ phu tử trong quán vừa nghe tin liền bỏ cả tiết, đều nằm ngoài cửa rình xem!”
Bùi Thứ Chi nhịn cười không nổi: “Phu tử quá hiền, dung túng các cô, chẳng còn phép tắc gì nữa.”
Lư Hội bỗng buồn bã: “Làm sao bây giờ, quán chủ nói cáo nghỉ thì được, nhưng công khóa vẫn phải làm.”
“Công khóa gì?”
“Nghe không rõ, gì mà ‘có thể hỏi, không thể hỏi, hỏi nhiều hỏi ít’… để lát nữa tôi đi hỏi Tống tiên sinh vậy.”
Bùi Thứ Chi thấy cô say say, dáng vẻ đáng yêu, bèn trêu: “Thế đạo suy vi thật, ta làm cậu suốt ngày gần như chẳng đụng giọt rượu, mấy cô nương thì lại say bí tỉ cả.”
“Bọn tôi chỉ uống rượu quả, sao mà say bí tỉ được!” Lư Hội lảo đảo chống tay muốn đứng lên, “Mặc kệ người nói sao, hôm nay tôi rất vui, vô cùng vui! Không những từ nay chẳng ai dám gạt tôi nữa, mà còn kết giao thêm bằng hữu!”
Bùi Thứ Chi gõ bàn: “Đừng làm loạn, ta có điều cần nhắc nhở cô. Ông nội của Lâm Mạt Tử chính là thuyền vương Mẫn Việt, khi cô qua lại cùng nàng, tuyệt đối chớ can dự vào rối ren trong nhà họ.”
“Thiếu tướng thật là mất hứng.” Lư Hội đang hứng khởi, ghét nhất phải nghe điều ấy, “Ở Tiểu Sơn Học Quán chúng tôi, coi trọng là học vấn cùng phẩm hạnh của từng người, chưa từng hỏi đến thân thế nhà ai, chẳng như Nhị quán Lục học, tranh chấp rối ren.”
Bùi Thứ Chi lạnh giọng cười: “Có lợi hại ắt có tranh giành. Cô tưởng Tiểu Sơn Học Quán an nhàn vô sự, chỉ bởi vì nơi ấy chưa có đủ lợi hại. Triều đình lập Nhị quán Lục học là để chọn nhân tài trị quốc. Các cô ở Tiểu Sơn Học Quán học thành tài, có thể ra làm quan sao? Vương thị Thái Nguyên với Dương thị Hoằng Nông đã sớm bàn chuyện liên hôn, Vương Lãnh Tường dẫu có là tài nữ, cuối cùng cũng phải gả đi, đọc sách giỏi hay dở thì khác gì.”
Trước mắt Lư Hội hiện lên bóng dáng các tiểu thư trong học quán sớm mai khổ học, tuy từng vô cùng ghét bỏ cô, nhưng lòng hiếu học kia lại là thật. Trong dạ cô chợt buốt nhói, phồng má tức giận: “Tôi không muốn nghe nữa.”
Có lẽ do men rượu thêm can đảm, cô gan dạ lạ thường, dám túm lấy tay áo Bùi Thứ Chi, đẩy thẳng ra cửa: “Người đi! Ra ngoài! Tôi muốn rửa mặt đi ngủ, tôi không muốn thấy người, cũng chẳng muốn nghe người nói!”
Cửa “rầm” một tiếng khép mạnh, suýt nữa đập ngay mũi Bùi Thứ Chi.
Mấy a hoàn bưng canh giải rượu cùng nước nóng tới, thấy cảnh này, muốn cười lại không dám, vội cúi đầu tránh ánh mắt.
Bùi Thứ Chi giận dữ quay về Mộc Hương Trai, trải giấy mài mực, vung bút viết, như trút oán khí.
Lão Tống ở bên lo lắng tiến lên: “Thiếu tướng à, nghe nói ngài khuyên Hội nương đi học quán đánh nhau? Chuyện này bất luận kết quả ra sao, e rằng tổn hại đến danh tiếng của Hội nương. Đến khi Ngụy Quốc phu nhân nghe lời gièm pha mà sinh thành kiến thì sao?”
“Tiên sinh đã nghĩ được, ta lẽ nào không nghĩ tới?” Bùi Thứ Chi phượng mục liếc ngang, “Cả đời Ngụy Quốc phu nhân nói làm điều gì, có cái nào hợp với khuôn phép thế tục dành cho nữ tử? Bà ta từ nhỏ đến lớn đều chịu đám quý tộc kinh thành phỉ báng. Nếu cả thành tán dương tài đức vẹn toàn, cùng lắm cũng chỉ là cái bóng thứ hai của Vương Lãnh Tường, Ngụy Quốc phu nhân còn chẳng buồn liếc mắt. Trái lại, những tiểu nương tử bị bàn tán chỉ trích, bà ta còn thỉnh thoảng ra tay che chở, như năm xưa Tư Mã Hữu Nương bị dư luận phỉ báng đó thôi.”
Lão Tống nghĩ kỹ, quả cũng có lý, nhưng vẫn không nỡ: “Dẫu kế sách của thiếu tướng có thể thành, nhưng nếu hủy đi danh tiếng của Hội nương, sau này cô ấy biết gả cho ai?”
Bùi Thứ Chi “cộp” một tiếng quật bút xuống bàn, tức giận: “Tính khí cô ấy như thế, danh tiếng có tốt đến đâu cũng dọa người ta chạy mất!”
Chàng lại cầm bút lên: “May là ta không chấp nhặt với cô ấy, dẫu cô ấy ngang ngược thế nào, ta cũng sẽ tìm cho cô ấy một mối hôn sự xứng ý nhất. Những kẻ hễ nghe lời đồn liền ngả nghiêng, loại cỏ rác vô dụng ấy, mặc kệ cũng được.”
Lão Tống: “…Thiếu tướng vừa mới cãi nhau với Hội nương phải không?”
Bùi Thứ Chi hừ lạnh.
Lão Tống: “Thiếu tướng đang viết gì đó?”
Bùi Thứ Chi: “Lấy đề trong Luận Ngữ: ‘Lấy kẻ biết mà hỏi kẻ không biết, lấy nhiều mà hỏi ít, có như không, thực như hư, bị xúc phạm mà không chấp’, viết một đoạn tiểu luận.”
“Lão phu biết là Luận Ngữ, lão phu hỏi thiếu tướng viết cái đó để làm gì.”
“…Công khóa ngày mai của Hội Hội.”
“Thiếu tướng à, viết hộ công khóa là không đúng đâu.”
“Chưa hẳn là viết hộ, trước khi nộp cô ấy còn phải chép lại một lần.”
Tác giả có lời muốn nói:
PS: Thời Đường, nữ tử đôi khi sẽ gọi nhau bằng họ, ví như A Triệu, A Tiền, A Tôn…
Bởi vì phần nhiều nữ tử thời ấy vốn không có tên chính thức. Trong nhà thường chỉ gọi theo thứ tự sinh, như “mấy nương”. Chẳng hạn thương nhân nữ nổi tiếng Cao Ngũ Nương, hay thậm chí những nhân vật hiển hách như Thái Bình công chúa, kỳ thực đều không để lại “danh tự” xác định.
—
Vậy khi nào nữ tử dễ có được tên rõ ràng nhất? Đáp: là khi qua đời, đặc biệt là mất trong tình huống bất thường.
Ví dụ Vĩnh Thái công chúa Lý Tiên Huệ: giới nghiên cứu hiện đại cho rằng “Tiên Huệ” chính là hai chữ được Đường Trung Tông cùng Vệ hậu ban tặng sau khi ái nữ mất thảm, vì thương xót mà truy phong.
Hoặc như An Lạc công chúa, do có điển cố đặc biệt, nên còn lưu được nhũ danh “Quả Nhi”.
—
Phần lớn nữ tử vốn không có đại danh. Như vậy, giả sử trong nhà có mấy chị em đều đứng thứ ba, thì trong nhà có thể gọi đều là “Tam nương”. Nhưng khi tụ tập đông người, chẳng lẽ ai cũng “Tam nương” gọi lẫn lộn? Thế nên trong giao tiếp, các cô sẽ xưng hô bằng họ: A Lư, A Tôn, A Trần…
—
Tất nhiên cũng có trường hợp đặc biệt, như hai chị em Dương Ngọc Hoàn và Dương Ngọc Dao. Nhưng theo những gì tôi tra cứu được, “Ngọc Hoàn” và “Ngọc Dao” dường như cũng chẳng phải tên do cha mẹ đặt sẵn, mà là hậu thế hoặc triều đình ban cho. Bằng không, trong bốn chị em nhà họ Dương, lẽ nào chỉ hai người có tên, còn hai người kia lại không? Cũng có khả năng họ vốn có, nhưng chưa truyền lại được. Hiện chưa có kết luận xác thực.