Chương 64: Chẳng qua là gợn sóng sông Tương
*
Mùa đông năm ấy, khi thông báo khôi phục kỳ thi đại học lan truyền khắp mọi miền đất nước, Trần Tương nhận được giấy báo trúng tuyển, rời một đội sản xuất ở Thường Đức để quay lại giảng đường.
Các sĩ quan đào tạo thời bấy giờ phổ biến là tuổi tác hơi lớn một chút, sự trân trọng và niềm hy vọng đối với cơ hội này khiến họ giống như những lá cờ đỏ tươi trẻ trung, hiên ngang đứng vững trên bãi tập. Trần Tương chưa từng một lời oán thán khi đi làm bất cứ nhiệm vụ chung nào, ông cố gắng chắt bóp thời gian trong những kẽ hở eo hẹp giữa học tập và huấn luyện để đọc vài cuốn sách giải trí. Ông thích đọc sách, ở ngôi trường quân đội tốt nhất thời bấy giờ, tài liệu trong thư viện cũng chẳng mấy phong phú, nhà trường chỉ trong phạm vi năng lực của mình mang về một lượng lớn giáo trình và sách thuộc khối ngành lý công để cung cấp cho học viên.
Thời đó, các công thức lý thuyết hoàn toàn phải tự tay tính toán suy luận trên những tờ giấy thô ráp, bản vẽ kỹ thuật thì trăm hay không bằng tay quen, nguồn tài liệu đọc hiểu duy nhất được coi là tương đối đầy đủ chính là tuyển tập vĩ nhân. Trần Tương ở trong trường đã tự tay chép lại tập một, còn nội dung tinh thần của những tập sau đã được ông gửi gắm bằng một phương thức sục sôi hơn vào cảnh sắc sông núi nơi biên giới phía nam. Năm tốt nghiệp, ông không đợi nhà trường phân công mà chủ động nộp đơn quyết tâm lên đường đến vùng biên cương hẻo lánh của Tổ quốc.
Sẽ có một ngày, làn sóng thời đại đẩy chủ nghĩa cá nhân lên một tầm cao nổi bật hơn, nhưng những người như họ cũng sẽ không ngưỡng mộ hay ghen tị. Trần Tương phân biệt rõ ranh giới giữa chủ nghĩa lý tưởng và lý tưởng, sự khác biệt chính là, những vị trí tẻ nhạt phải ngồi ghế lạnh kia, ông không đi thì luôn phải có người khác đi, và ông tình nguyện đi thay người ta. Trần Tương rất may mắn, sinh viên đại học thời đó vẫn được coi trọng, ông theo thủ trưởng điều chuyển công tác về Bắc Kinh, lập gia đình rồi có một cậu con trai tại đây.
Bố mẹ ông không biết chữ, trong hoàn cảnh bị người ta chỉ trỏ, xì xào bàn tán cả ngoài sáng lẫn trong tối, ông lại đặt cho con trai mình một cái tên có thể khiến tất cả mọi người càng có thêm bằng chứng xác thực để tiếp tục đàm tiếu sau lưng ông.
Trần Kính Chương từ khi sinh ra đã chẳng phải chịu khổ bao giờ. Ở trên người con trai, Trần Tương rất dễ dàng phá vỡ nguyên tắc “nghiêm khắc với mình, khoan dung với người”. Khi ông răn dạy con trai, lời lẽ nhất định phải đánh trúng tim đen, phân tích sâu sắc thấu triệt, bởi vì ông cảm thấy tính cách của Trần Kính Chương bẩm sinh đã tản mạn, nói một cách đơn giản, ông cho rằng con trai mình ngay cả khi đã lên trung học thì đôi lúc vẫn không hiểu nổi tiếng người.
Sự khắt khe của Trần Tương đối với Trần Kính Chương vượt xa mức độ của một người cha nghiêm khắc thông thường. Luôn có một vài phương pháp có thể giúp người ta tiếp cận gần hơn với chân lý, chẳng hạn như thử nghiệm phân tách trong kinh doanh, hay kiểm soát biến số trong khoa học, nhưng cuộc sống này không có thế giới song song, không có cái gọi là chân lý tối thượng, mà cho dù có đi chăng nữa thì cũng chẳng bao giờ có ngày mọi chuyện được phơi bày sáng tỏ. Chẳng ai rõ trong những yêu cầu quá mức và phiến diện ấy của Trần Tương, có bao nhiêu phần là kỳ vọng con hóa rồng, và có bao nhiêu phần là do tâm lý tự ti của một người trưởng thành đang tác oai tác quái.
Có lẽ chính Trần Tương cũng đang ở trong cuộc nên không thể phá bỏ mê chướng, thế nhưng con trai ông từ góc nhìn ngước lên của một đứa trẻ, ngay từ nhỏ đã nhìn thấu tất cả. Anh nhìn thấy bố mình khi cư xử với người nhà bên ngoại đã phải dùng những cuộc đấu khẩu ra sao để bảo vệ lòng tự trọng cho nhà họ Trần, và ở góc khuất riêng tư đã gồng mình lên thế nào với quyết tâm vượt qua hai người đồng lứa bên nhà vợ.
Số phận đưa đẩy khiến Trần Tương là người có bờ vai gánh vác, ông chưa từng để lộ nửa phần bất bình trước mặt vợ, cái tên ông đặt cho Trần Kính Chương cũng hoàn toàn xuất phát từ tấm lòng chân thành. Nhưng bất hạnh thay, thái độ của ông đối với con trai lại là một cục diện khác: chân thực, gấp gáp và tàn nhẫn.
Khi Trần Kính Chương còn nhỏ, Trần Tương thường xuyên đóng chốt ở thủ đô. Buổi tiệc dịp cuối năm cuối tháng lúc nào cũng có, lũ trẻ con biểu diễn tài nghệ cốt cũng chỉ để cho vui, chẳng ai để tâm làm thật, ngoại trừ Trần Tương. Có một năm, hai ngày trước khi diễn ra buổi tiệc, Chương Uyển Chi về nhà họ Chương trước để phụ giúp đón khách, chỉ còn lại Trần Tương và Trần Kính Chương ở nhà, Trần Tương bắt con trai phải viết đủ một trăm bức thư pháp bốn chữ “Thiên đạo thù cần”.
Trần Tương có những phương pháp lôi kéo, đả thông tư tưởng vô cùng khéo léo và thâm sâu để làm công tác tư tưởng cho cấp dưới, đáng tiếc những thứ đó lại chẳng mấy khi được áp dụng lên người Trần Kính Chương. Một mặt là vì con trai ông sớm phát triển trí tuệ, không nuốt trôi cái bài ca “khổ trước sướng sau”; mặt khác, ông muốn ít nhất là ở trước mặt một người, ông có thể bộc lộ hết tâm can một cách thẳng thắn nhất. Hồi Trần Kính Chương mới đi làm, Trần Tương thường xuyên gọi điện thoại cho anh, hỏi anh công việc dạo này thế nào, bảo anh phải hòa đồng với đồng nghiệp, phải thấp giọng kín tiếng, đừng có tinh tướng, đừng có lập dị tách biệt với tập thể. Đại ý là như thế, nhưng lời thốt ra khỏi miệng thì lại chẳng được lọt tai như vậy.
Năm Trần Kính Chương 27 tuổi, trong một buổi tiệc gia đình anh uống quá chén, vì líu lưỡi nói sai một câu mà bị Trần Tương mắng sa sả trước mặt mọi người suốt mười phút đồng hồ.
Về sau, cho dù anh có uống nhiều đến đâu đi chăng nữa, trước khoảnh khắc bước chân vào cửa nhà, anh tuyệt đối sẽ không để lộ ra một chút dáng vẻ say xỉn nào.
Những năm sau thập niên hai nghìn, Trần Tương đã không còn thần kinh đến mức ấy nữa. Chỉ cần có Trần Tương tham gia tiệc rượu thì lúc nào cũng đông nghịt người, gia đình ba người bọn họ ngoại trừ dịp Tết có thể riêng tư ăn với nhau một bữa sáng, thời gian còn lại đều phải ngồi chung với cả một bàn đầy người ngoại tộc.
Rồi sau này Trần Kính Chương ly hôn, dạo ấy anh thường xuyên tự tìm việc để tăng ca, thà cứ ngồi rỗi ở cơ quan chứ chẳng muốn về nhà đúng giờ.
Trần Tương khi đó hiếm hoi mới về Bắc Kinh một chuyến, đang lúc mạch chuyện tuôn trào, ông liền buông lời phê bình Trần Kính Chương ngay trước bàn ăn mười mấy con người, bảo rằng sự nghiệp và gia đình lúc nào cũng chỉ lo được một đầu, càng lập gia đình lại càng sống thụt lùi, giờ đến cả cuộc sống cá nhân cũng chẳng ra ngô ra khoai gì nữa. Bầu không khí bỗng chốc rơi vào im lặng gượng gạo, có một người thuộc hàng chú bác lên tiếng hòa giải: “Kính Chương như thế đã là xuất sắc lắm rồi.” Trần Tương không nói gì, một lát sau ông đảo mắt nhìn Trần Kính Chương rồi lại bảo: “Tôi thấy cứ phải tống bọn trẻ tuổi này vào quân ngũ, đâu ra cái kiểu không chịu nổi chút va vấp thế kia.”
Trần Kính Chương tay cầm chiếc thìa, gương mặt gần như không cảm xúc múc thìa canh cải thảo trước mặt mà ăn, đến một lời đối phó cũng chẳng buồn ho he, mặc kệ cho những lời của Trần Tương rơi tõm xuống đất. Ngoại trừ tiếng gốm sứ chạm nhau cực khẽ phát ra từ bên tay anh, cả gian phòng tiệc rộng lớn chìm trong thinh lặng tột cùng.
Lúc tan tiệc đi về nhà, thư ký của Trần Tương cầm lái, Trần Kính Chương và Trần Tương ngồi ở băng ghế sau, mỗi người chiếm một bên góc, không ai nói với ai lời nào.
Ánh mắt Trần Kính Chương trống rỗng, giữa khung cảnh đêm đại lộ Trường An hoa lệ ngập tràn ánh đèn, anh lại nghĩ về một chuyện chẳng đâu vào đâu. Hồi Giản Nhu học năm thứ ba đại học, anh dắt cô đi chơi ở ngoại ô Bắc Kinh, giữa đường thì nhận được một cuộc điện thoại, có người hỏi anh về chính sách ưu đãi thu hút đầu tư ở khu vực Trung Nam. Anh nhận lời xong liền bảo với Giản Nhu: “Anh gọi điện thoại tí nhé.”
Giản Nhu đang xếp hàng trước một sạp hàng nhỏ, vừa vặn đợi được một bát trà hạnh nhân. Cô vừa húp xùm xụp thứ nước trà nổi váng thơm ngậy hương dầu kia, vừa nghe thấy Trần Kính Chương gọi “Lưu Tham” trong điện thoại. Cô cũng chẳng nghĩ ngợi gì nhiều, đợi anh cúp máy liền thuận miệng bảo: “Em hình như chưa thấy ai dùng chữ ‘Tham’ này để đặt tên bao giờ, trái lại có người lấy âm khác của nó để đọc thành ‘Sâm’, như nhà thơ Sầm Sâm ấy.” Trần Kính Chương đang mải nghĩ xem nên thuật lại chuyện vừa rồi thế nào, đơ ra vài giây mới hỏi cô: “Nghĩa là sao em?”
Giản Nhu đưa ống hút của cốc trà trong tay lên sát bên môi anh, tính khí cực kỳ tốt lặp lại lời mình vừa nói một lần nữa.
Anh vẫn luôn nghĩ bản thân chẳng thể nhớ nổi những chuyện vặt vãnh này, nào ngờ sau khi ly hôn, chúng lại cứ vào những khoảnh khắc không ngờ tới mà nhô ra, hệt như những chiếc xước móng rô trên ngón tay vào mùa thu đông ở Bắc Kinh vậy, bực mình vô cùng.
Nét mặt của Trần Kính Chương thờ ơ thẫn thờ, Trần Tương ở bên cạnh lại bắt đầu mở cuộc họp giáo huấn, luận bàn về tầm quan trọng của việc thanh niên phải được tôi luyện trong quân đội, nói có như thế mới mài giũa cho sạch sành sanh thói sướt mướt ủy mị của cả thể xác lẫn tâm hồn. Thái độ của Trần Kính Chương hệt như gió thoảng bên tai, đợi đến khi Trần Tương dứt bài đại luận vĩ đại của mình, anh mới quay đầu sang, hai cặp lông mày và ánh mắt giống nhau như đúc nhìn thẳng vào nhau qua khoảng không.
Giọng anh vô cùng nhạt nhòa, nói với Trần Tương: “Bố quang vinh vĩ đại, hôm nay những người ngồi trên bàn tiệc đều nghe rõ cả rồi.”
Cậu thư ký kia đến cả kính chiếu hậu cũng chẳng dám liếc nhìn, mắt chăm chăm nhìn thẳng vào mặt đường phía trước.
Trần Tương nhíu chặt đôi lông mày, vừa định mở miệng nói gì đó, Trần Kính Chương lại dùng chất giọng không chút hơi ấm tiếp lời: “Bây giờ con không có cơ hội đi lính, nhưng con đảm bảo, ngày nào đó nếu có chiến tranh xảy ra, nếu đất nước cần người, con nhất định sẽ tòng quân.” Giọng anh vô cùng bình lặng, chẳng đợi Trần Tương kịp phản ứng đã tự ý quay đầu đi, đôi mắt nhuốm màu cô tịch, tiếp tục ngắm nhìn cảnh phồn hoa lướt qua ngoài cửa sổ.
Thực ra lúc đó anh cực kỳ muốn hỏi bố mình một câu đầy bất kính: Bây giờ thì bố ngậm miệng vào được chưa.
Trần Kính Chương không thốt ra câu nói ấy, nhưng đôi môi của Trần Tương cũng chẳng buồn mấp máy thêm nữa. Ông khựng người lại, á khẩu, đưa mắt nhìn con trai mình.
Trần Kính Chương ngoảnh mặt làm ngơ.
