Chương 21: Mối nợ năm xưa 4
*
Lý Hiếu Trung đối với quản sự Bùi phủ có ấn tượng đặc biệt tốt, người ấy khiêm nhường nhiệt thành, cung kính lễ độ, tuyệt không có vẻ hống hách càn rỡ như bọn nô tài nhà quyền quý khác. Vừa nghe hắn là đến tìm Lư tiểu nương tử, liền hấp tấp mời vào trong phủ, trông bộ dạng như đã chờ đợi từ lâu, không rõ là ảo giác của hắn hay là thực vậy.
Cậu của A Hội là Bùi Thiếu tướng dung mạo thanh tú nhã nhặn, cốt cách đoan chính, chỉ là thần sắc có phần thờ ơ, không ưa nói chuyện, dường như khí huyết không thông, ý chí u uẩn — Tiểu thần y mười tám tuổi Lý Hiếu Trung khổ công ngẫm nghĩ, vẫn chẳng hiểu vì sao.
Bùi Thứ Chi chỉ chào hỏi sơ lược với mọi người rồi lui bước, Lư Hội đứng bên giải thích: “Cậu của ta xử lý trăm công nghìn việc mỗi ngày, bận lắm.”
Lão Tống từng làm tiên sinh dạy học ở học đường làng hơn mười năm, lúc này bệnh cũ tái phát, liền nắm lấy Lý Hiếu Trung và Chu Gia Lệ để dạy dỗ một hồi.
“Hôn nhân vốn là để kết thân hai họ, ngươi đã không phải hạng vô danh bỏ nhà bỏ nghiệp, thì dù là đính ước hay là từ hôn, chưa được trưởng bối chấp thuận, sao có thể tự ý quyết định? Nam tử hành xử lỗ mãng, thì còn có thể cứu vãn. Nhưng nếu liên lụy đến danh dự của nữ nhi, tổn hại tiền đồ người ta, chẳng phải lỗi lầm đều thuộc về ngươi cả sao?”
Lý Hiếu Trung trong lòng xấu hổ vô cùng, thầm nghĩ may mắn hai vợ chồng nhà Lư Chí Nam vốn cởi mở rộng lượng, bằng không mà gặp phải cha mẹ cố chấp trọng danh tiết, chuyện này mà ầm ĩ ra ngoài, chẳng phải sẽ hại nữ nhi nhà người ta cả một đời?
“Cô cũng thế! Dù Lý tiểu lang có bao nhiêu điều không phải, ít nhất người ta còn biết rõ bản thân thích gì ghét gì, chuyên tâm học y, quyết ý từ chối hôn sự do trưởng bối sắp đặt. Còn cô? Lý tiểu lang không chịu cưới, cô lại trút giận lên người A Hội thì được ích gì? Không có A Hội thì sẽ có nàng Vương, nàng Lý, nàng Trương, chẳng lẽ cô định đánh từng người một sao?”
“Lý tiểu lang tính tình vốn là vậy, cô hoặc là vui với điều người ta vui, hai người chí hướng tương thông; hoặc là rộng lượng tùy duyên, để người ta vui theo ý mình. Còn cứ muốn ép người ta thành bộ dạng cô thích, thì chỉ chuốc khổ vào thân! Gả cho ai, có gả hay không, điều ấy chẳng phải chuyện hệ trọng. Điều thực sự quan trọng là cô muốn sống một đời như thế nào…”
Chu Gia Lệ dạo gần đây chịu nhiều đả kích, giờ thấy lão Tống càm ràm như vậy, lại khiến nàng ta nhớ đến vú nuôi già ở nhà, hiền lành mà lắm lời, nỗi tủi thân dâng đầy trong ngực, liền “oa” một tiếng bật khóc.
Lão Tống đành dịu giọng lại, bèn lôi hết bản lĩnh năm xưa từng dỗ dành lũ trẻ ở làng ra mà khuyên giải.
Lư Hội kéo Lý Hiếu Trung sang một bên, hỏi nhỏ: “Sau này huynh định làm gì?”
Lý Hiếu Trung không chút do dự: “Ta muốn đến Giang Nam.”
Một năm không gặp, thực ra trong lòng hắn có rất nhiều điều muốn nói với Lư Hội, nhưng Chu Gia Lệ nay đã xấu hổ đến mức không còn mặt mũi nào: được tình địch cứu giúp, mượn bạc tình địch, lại còn khiến tình địch thương hại, nàng ta lập tức đòi về nhà.
Lý Hiếu Trung vừa mới được mở mắt thấy rõ thế sự hiểm ác, trong lòng không yên, quyết định chí ít cũng phải đưa Chu Gia Lệ tới đạo Lũng Hữu, đợi người tộc Sa Đà ở đó tiếp nhận rồi mới chia tay. Lư Hội trong người không mang nhiều ngân lượng, vốn định đến tiệm bạc trong thành rút thêm, Bùi Thứ Chi liền đích thân ký hai tờ phiếu phi tiền mỗi tờ ngàn lượng đưa cho Lý Hiếu Trung và Chu Gia Lệ làm lộ phí, lại sai lão Tống tìm thêm ít chuỗi tiền lẻ dùng gấp.
“Lần này đi về hướng Đông, ta mới nhận ra y thuật của mình còn rất nhiều thiếu sót, kiến thức về dược lý lại càng cạn hẹp.” Lý Hiếu Trung nói nghiêm túc, “Nghe nói năm xưa sĩ phu Nam tiến, ở Giang Nam còn lưu lại không ít y thư cổ, ta muốn đến đó xem thử.”
Lư Hội gật đầu tán thành: “Đúng rồi, thật ra huynh giỏi nhất là trị ngoại thương, nhưng có bệnh phát từ trong cơ thể, chỉ chữa được bên ngoài thì lần sau vẫn tái phát mà thôi.”
Lý tiểu thần y chẳng những không giận mà còn cười tươi: “Vẫn là A Hội hiểu ta. Về sau ta còn muốn đến Lĩnh Nam, rồi lên Liêu Đông. Tự xưa Đông Tây Nam Bắc địa khí bất đồng, thảo mộc sinh linh cũng chẳng giống nhau…”
Lư Hội nghe hiểu, liền tiếp lời: “Vậy nên dược liệu sản xuất ra cũng sẽ khác biệt, như hổ cốt miền Bắc, xà du phương Nam chẳng hạn.”
Lý Hiếu Trung vỗ tay cười lớn: “Ta cũng nghĩ thế!”
Hai người cùng cười sảng khoái. Lư Hội chợt nhớ ra một chuyện: “Vài hôm trước ta thấy cậu ta có phái ra mấy đạo thủ lệnh, huynh cầm lệnh có thể tới kho công án của nha môn địa phương tra cứu hồ sơ. Một lát nữa ta sẽ xin cho huynh một bản, đất khách quê người, nhất định sẽ hữu dụng.”
“Hay quá!” Lý Hiếu Trung ban đầu mừng rỡ, kế đó thoáng ngập ngừng.
“A Hội.”
“Có chuyện gì cứ nói.”
“Cái người tên Lý Như Nhi đó…”
“A a a, huynh vẫn còn nhớ nàng ấy à?!”
“Không không, không phải.” Lý Hiếu Trung dè dặt: “Đám người Lý Như Nhi, là do kẻ khác sai tới để hại ta, đúng không?”
Lư Hội nhất thời chột dạ: “… Huynh nhìn ra rồi ư?”
Lý Hiếu Trung thở dài: “Sau chuyện đó ta nghĩ lại, nếu chỉ vì tham tiền, thì hành vi của bọn họ quả thật quá mức dư thừa, trái lại càng giống cố ý tới để dạy dỗ ta và A Lệ.” Nếu muốn lừa bạc thì cứ lập thêm vài màn chuộc thân hay người nhà trọng bệnh là được, cần chi phải ép Chu Gia Lệ từ hôn, lại còn dùng kẻ bịt mặt áo đen để hù dọa, thế chẳng phải là tự chuốc nguy vào thân?
Lư Hội dáo dác ngó quanh một vòng như kẻ trộm, ghé sát vào nói nhỏ: “Cậu ta, dung mạo thì như tuyết liên núi Thiên Sơn, nhưng tâm cơ thì tỉ mỉ hơn cả tổ ong, cho nên các người không cần trả lại bạc nữa.” — Trong lòng cô, vị hôn phu đã sống hòa thuận vài tháng còn thân thiết hơn vị ‘cậu’ mới nhận chưa được hai chục ngày kia nhiều lắm.
Nào ngờ Lý Hiếu Trung lại nói: “Không chỉ phải trả bạc, còn phải đa tạ Thiếu tướng đại nhân.”
Lư Hội: “A?”
“Bài học lần này vô cùng quý giá.” Tiểu thần y nghiêm túc: “Một lần bị rắn cắn, lần sau gặp nữ tử lâm nạn, ta cứu hay không cứu? Vẫn sẽ cứu thôi, nhưng nam nữ có khác, dù y giả lòng cha mẹ cũng cần có chừng mực — nên để bà chủ quán trọ chăm sóc nàng ấy, chờ xác minh thân phận từ nha môn hoặc nha hành rồi mới đưa tiền chuộc thân, mỗi lần xem bệnh đều phải có người làm chứng… và, phải lượng sức mà làm.”
Lư Hội lập tức nhìn hắn bằng con mắt khác: “Hiếu Trung, huynh như trưởng thành rồi, nói năng đâu ra đấy.” Xem ra tên cậu đen lòng kia nói chẳng sai, quả thật là có trải qua mới có trưởng thành.
Lý Hiếu Trung cười: “A Hội, ta thấy muội cũng khác rồi, đi đứng ăn nói thục nữ hẳn ra, giống như bước ra từ bức họa nữ sĩ vậy.”
“Chao ôi, đừng nhắc nữa, không thục nữ cũng không được.” Nhắc tới là muốn khóc, trong thư phòng của ông cậu giả kia, vật gì cũng quý giá, ngay cả một hòn đá đỏ cũng có khi là long châu phượng lệ giá trị ngàn vàng, chỉ cần sơ ý là chạm hỏng đồ, ngày nào Lư Hội cũng sống trong nơm nớp lo sợ, chỉ sợ làm sạt hết gia tài.
“Kỳ thực ta cảm thấy mấy lời khổ sở Lý Như Nhi kể, không hẳn đều là bịa đặt.”
“Huynh đó, rồi lại bị lừa nữa cho xem!”
Khi chia tay, hai người quyến luyến chẳng nỡ rời.
“A Hội?” Lý Hiếu Trung đặt một chân lên bàn đạp, nắng thu buổi trưa chiếu rọi khiến gương mặt hắn rạng rỡ hẳn lên.
“Nói đi!”
Lý Hiếu Trung nhe răng cười: “Ta sẽ học y cho tốt, muội cũng đọc sách luyện chữ, sau này ta lại tới tìm muội, được không?”
Lư Hội nghĩ thầm, người này vẫn cứ thích cười như thế.
“Được chứ!” Cô đáp lời, vẻ mặt đầy hoan hỉ.
Cảnh tượng ấy vừa vặn rơi vào mắt Bùi Thứ Chi và Kính Tuyên đang từ cửa hông trở về phủ.
“Ta thấy là dạy dỗ hắn còn nhẹ đấy!” Kính Tuyên không hài lòng, “Đây đâu phải là tơ chưa dứt, mà là tình vương vấn chẳng dứt mối nào!”
Bùi Thứ Chi sắc mặt thản nhiên: “Vài năm nữa, chuyện của chúng ta đã có kết quả, tương lai họ ra sao, can hệ gì tới ta.”
–
Đêm đến, khi bị bắt đi hầu mực bút, Lư Hội thuật lại lời Lý Hiếu Trung vừa nói — nhưng giấu đi phần hẹn hò lúc chia tay.
Bùi Thứ Chi cúi đầu, khẽ cười: “Cũng còn biết điều.”
“Cái thủ lệnh ấy…” Thiếu nữ mắt to lấp lánh, đầy mong chờ.
Bùi Thứ Chi hừ lạnh một tiếng: “Ấn tín đâu.” Vừa nói chàng vừa tiện tay lấy một tờ gấm trắng tinh, nhấc bút chấp viết.
Lư Hội cẩn thận nâng từ giá trăm vật xuống hai hộp sơn son khảm vàng nhỏ cỡ lòng bàn tay: “Dùng chu sa hay là chàm lam sao ạ?”
Bùi Thứ Chi dùng ấn chu sa.
Trước khi thủ lệnh được bỏ vào phong thư, Lư Hội lén liếc qua, hàng đầu tiên viết: “Kẻ cầm thủ lệnh này, hành mệnh bốn phương, đến nơi nào…” Cô mơ hồ cảm thấy so với mấy tờ thủ lệnh từng thấy trước đó, tờ này có đôi chút khác biệt — chữ viết khác, ấn đóng cũng không giống.
“Cậu… cậu có phải còn có nhân thủ khác ở địa phương, dùng thủ lệnh cũng không giống nhau…” Cô không kìm được mở miệng hỏi.
Ánh mắt của Bùi Thứ Chi quét tới, Lư Hội lập tức ngậm miệng, “Là lỗi của tôi, chuyện không nên hỏi thì không hỏi.”
“Nếu mai sau có thể thành sự, chuyện của ta cô tự nhiên sẽ càng ngày càng biết nhiều hơn. Bằng không, biết ít thì vẫn hơn.”
Bùi Thứ Chi chậm rãi gấp lại phong thư, mười ngón tay trắng trẻo thon dài, nhưng ở khe hổ khẩu và đốt ngón trỏ, giữa hai đốt đầu và đốt thứ hai lại có vết chai mờ mờ: vết trước là do cầm đao kiếm, vết sau là do kéo dây cung mà thành.
Lư Hội theo bản năng cảm thấy một loại nguy hiểm, không chỉ một lão thợ săn từng cảnh báo cô: tuyệt đối chớ tham lam, nên dừng sớm thì hơn.
–
Vài ngày sau, Vương Như Nhi từ biệt ra đi.
Một đời danh kỹ đất Thần Đô, hoa khôi ca cơ rời khỏi kỹ danh tòng lương, vốn phải là chuyện chấn động toàn thành, đội đưa tiễn không dài mười dặm cũng phải là đám công tử phóng đãng ra mặt, nước mắt giàn giụa nơi dịch quán ngoại thành. Thế nhưng dưới sự cố ý che giấu của Vương Như Nhi cùng sự trợ giúp của Bùi Thứ Chi, chỉ có mấy vị bằng hữu lâu năm thân thiết đến tiễn, trong đó có Lý Chước Chước và Lưu Nguyệt Nô.
Lư Hội cũng đi, lý do là trước khi Lý Hiếu Trung rời đi có dặn đôi câu về sức khỏe, bảo cô chuyển lời tới Vương Như Nhi.
Bùi Thứ Chi không yên tâm, đành phải cùng cô đi một chuyến, đi được nửa đường thì gặp Kính Tuyên đã lành vết thương, liền đồng hành.
“Giá của Vương Như Nhi chẳng hề rẻ, lại còn mang tội danh nô tịch, lần này ngươi tốn kém không ít nhỉ?” Kính Tuyên mặt mũi hệt như mấy bà cô tám chuyện, “Tổng cộng mất bao nhiêu?”
Lư Hội thấy Bùi Thứ Chi nhắm mắt tựa vào vách xe không muốn mở miệng, liền vội vàng lên tiếng: “Điện hạ nói thế thì thô tục quá, Vương nương tử tư dung khuynh quốc khuynh thành, tôi thấy còn thương cảm. Trời xanh có đức hiếu sinh, triều đình cũng có người quân tử có phẩm hạnh, cậu tôi lấy lòng cứu giúp mà khẩn cầu với quan lại các ty, các vị đại nhân nhân từ tốt bụng đều sẵn lòng tác thành cho Vương nương tử.”
—Trả ơn thì phải có dáng vẻ trả ơn, chớ nên miễn cưỡng, chuyện gì cũng tích cực chủ động một chút, cũng đỡ bị làm khó.
Mấy lời này đúng là vừa đường hoàng vừa giả tạo, Bùi Thứ Chi lập tức bật cười khẽ.
Kính Tuyên mắng: “Mới ở cạnh Nhược Trạm được mấy ngày mà đã học được cái kiểu dẻo miệng này, ‘tôi thấy còn thương’ mấy chữ đó không phải mấy ngày trước ta mới dạy cô à, múa rìu qua mắt thợ!”
Lư Hội quay đầu: “Cậu, tôi có nói quá không?”
Hôm nay cô vẫn búi song hoàn kế, hai bên buông xuống một dải tóc dài đến vai, dưới tai chừng hai ba tấc còn điểm một hạt minh châu, thành ra mỗi khi cô nghiêng đầu, minh châu lay động, chiếu lên gương mặt tròn trịa sáng rỡ ánh ngọc.
Bùi Thứ Chi cố nén cười, “Không hề quá, Hội Hội rất có tiềm năng.”
Kính Tuyên trợn trắng mắt, “Tiềm năng gì chứ, tiềm năng học theo làm gian thần của ngài à?”
Lư Hội lập tức lớn tiếng phản bác: “Cậu không phải gian thần! Ai nói cậu là gian thần đều là vì ghen tị!”
“Nếu ai ai cũng nói thì sao?”
“Thì là ai ai cũng ghen tị! Bảo sao Cẩu Tử nói bản tính con người vốn ác, thiên hạ này thật là khó mà khá lên được!” Lư Hội vẻ mặt đầy đau đớn căm phẫn, như thể đang đau xót trước sự đê tiện của thế đạo.
Kính Tuyên suýt nữa bị nước miếng của chính mình làm sặc, “Phụt—ha ha ha ha ha, Cẩu Tử… ha ha ha… khụ khụ khụ khụ…”
Bùi Thứ Chi cũng bật cười ha hả.
Hôm nay chàng tóc đen búi lỏng, chỉ cài một cây trâm ngọc bích trong suốt, thân khoác đạo bào màu bạc nhạt điểm vân chìm, buông lơi phóng khoáng, càng khiến dung mạo như ngọc, khí cốt đạo phong thanh nhã hơn người.
Chàng cười rất sảng khoái, mà Kính Tuyên thì không cười nữa, thần sắc ngơ ngẩn như nhớ đến chuyện gì đó.
“Tôi có nói sai gì sao…” Lư Hội hơi có chút tự hiểu lấy mình.
Bùi Thứ Chi hơi rung vai, cười nói: “Không phải Cẩu Tử, chữ ấy đọc là ‘Tuân’, Tuân phu tử, trong miệng có thêm một nét ngang.”
Lư Hội bừng tỉnh, thì ra miệng có cửa thì là Tuân, miệng không cửa mới là Cẩu.
Bùi Thứ Chi cảm thấy dáng vẻ lúc này của cô gái, vừa bất lực lại vừa ngơ ngác, thật quá đáng yêu, chàng không nhịn được mà xoa nhẹ mái tóc mềm buông trên vai cô.
Ánh mắt của Kính Tuyên cũng rơi xuống nơi đó.
“Đã lâu lắm rồi không thấy ngài cười sảng khoái thế.” Y bỗng nói.
Bùi Thứ Chi nhướng mày, “Nói vớ vẩn, ra triều mà hỏi, ta vẫn thường cười lớn đó chứ.”
Kính Tuyên lắc đầu, “Cười thật cười giả ta còn không phân được à.” Y quay sang nhìn Lư Hội, “Coi như ngươi còn chút giá trị.”
Xe ngựa tới nơi, Kính Tuyên vượt qua mọi người, cầm lấy bàn tay mềm mại của Vương Như Nhi, lưu luyến bịn rịn nói lời từ biệt thật lâu, rồi lại ha ha hì hì kéo các giai nhân khác đùa cợt.
Lư Hội mãi mới tìm được cơ hội nói chuyện riêng với Vương Như Nhi, liền kéo nàng ra một góc, đưa cho nàng một phong thư: “Đây là của Hiếu Trung đưa, trong đó có mấy lời dặn dò liên quan đến chuyện ăn uống hằng ngày.”
Vương Như Nhi vẻ mặt yếu ớt u sầu, “Là thiếp phụ đã phụ lòng chân tình của Lý tiểu lang.”
“Không có không có, Hiếu Trung không trách cô đâu, huynh ấy biết cô là phụng mệnh hành sự, bảo cô dưỡng bệnh cho tốt.” Lư Hội liên tục xua tay.
Vương Như Nhi cũng không giả bộ nữa, khẽ cười: “Vậy thì đa tạ. Chỉ là chút bệnh của đàn bà thôi, chẳng có gì to tát.”
Lư Hội buột miệng: “May mà Hiếu Trung ngăn kịp, bằng không để Chu Gia Lệ động thủ thật, thì dù có giả vờ ngất, có giả yếu đuối, cô cũng chẳng còn giả nổi nữa đâu.”
Vương Như Nhi chăm chú nhìn Lư Hội một hồi, rồi lại mỉm cười.
Nàng tháo xuống một cây trâm vàng, dùng đầu nhọn nhắm thẳng vào lòng bàn tay trái, rồi chậm rãi đâm xuống.
Lư Hội ban đầu không hiểu, đến khi thấy máu tươi trào ra từ lòng bàn tay nàng, hoảng hốt túm lấy cổ tay Vương Như Nhi, suýt nữa thì kêu to.
“Xin Lư tiểu nương tử đừng lên tiếng, vết thương nhỏ thôi, không sao đâu.” Vương Như Nhi vậy mà vẫn mỉm cười, “Dù là ca cơ hay vũ cơ, rốt cuộc cũng chỉ là mua vui cho người ta. Bên ngoài quan lại quyền quý cười cợt tâng bốc, nhưng bản thân chúng tôi không thể coi đó là thật.”
“Làm cái nghề này, nếu lúc trẻ không tích cóp đủ bạc để an thân, thì về sau e là cảnh ngộ rất thê lương. Để giành được vị trí hoa khôi, mỗi ngày thu vào ngàn vàng, từ nhỏ ta đã phải chịu không biết bao nhiêu khổ. Chớ nói Chu Gia nương tử đánh mắng vài lần, cho dù nàng ta dùng kim đâm, dùng dao cắt, thiếp thân cũng vẫn phải mỉm cười, vẫn phải ca hát, tuyệt không được khiến các lang quân mất hứng.”
Giọng nói của Vương Như Nhi vẫn dịu dàng thong thả, mềm mại động lòng, như thể người đang bị mũi trâm xuyên thủng lòng bàn tay, máu chảy ròng ròng, chẳng phải là nàng.
“Đừng nói nữa đừng nói nữa, trước hết băng bó vết thương đã!” Lư Hội nhìn mà kinh tâm động phách, vội vàng lục tìm thuốc trong túi bên hông.
Vương Như Nhi thuần thục dùng hai chiếc khăn tay quấn lại hai bên, rất nhanh đã băng xong vết thương.
Lư Hội nhìn chằm chằm vết thương đầy máu ấy, lẩm bẩm như nói với chính mình: “Hiếu Trung nói, huynh ấy cảm thấy những chuyện khổ đau cô kể, không phải là hoàn toàn bịa đặt… Bây giờ cô tích góp đủ tiền chưa?” Nếu chưa, trên người cô vẫn còn.
Vương Như Nhi ngắm khuôn mặt lo lắng của cô gái, trong lòng lại hiện lên một gương mặt chất phác của một thiếu niên khác, chẳng ngờ bản thân lăn lộn chốn hồng trần bao năm, cuối cùng lại thật sự gặp được người tốt.
Nàng mỉm cười: “Thật ra thì nên tranh thủ lúc còn chưa tàn hoa bại liễu, cố gắng tích thêm vài năm nữa, nhưng tôi muốn đi rồi.”
Như Ngọc Thanh nương tử kia, là đến ba mươi mấy tuổi mới dâng biểu xin thoát khỏi nhạc tịch.
Lư Hội hỏi: “Phải rồi, cô định đi đâu thế? Là định gả cho ai sao?”
Vương Như Nhi không đáp: “Tiểu nương tử từng nghe tôi ca hát chưa?”
“Chưa từng. Tôi chỉ nghe Ngọc Thanh nương tử và vị Lưu nương tử vừa rồi ca thôi.”
Vương Như Nhi thần sắc dịu lại: “Thật ra giọng tôi không hay, không bằng Ngọc Thanh nương tử, về lối hát thì không bằng Nguyệt Nô. Tôi có chút danh tiếng ở Thần Đô là vì biết tự mình soạn khúc.”
Lư Hội lập tức kính phục: “Tự mình soạn khúc thì đã rất giỏi rồi!”
Vương Như Nhi bật cười: “Tài mọn ấy là hồi nhỏ tôi học được từ một vị nương tử trong nhạc phường. Sư phụ khi trẻ vừa có dung mạo vừa có tài tình, nhưng bà say mê âm luật, không nguyện lấy chồng, suốt đời chỉ mong gom góp các khúc phổ lưu tán khắp dân gian, chỉnh lý biên tập lại thành sách, không để tâm huyết của người xưa bị chôn vùi theo năm tháng.”
“Sau đó nhà tôi gặp tội, tôi cũng bị đưa vào giáo phường, thoắt cái đã hơn mười năm. Nửa năm trước, ân sư qua đời, gửi thư nhờ người chuyển đến cho tôi, xin tôi trông nom căn phòng chứa đầy khúc phổ của bà để lại.” Mắt Vương Như Nhi sáng trong, chan chứa khát vọng và ngưỡng mộ, “Không ngờ, bà thật sự cả đời không lấy chồng, thật sự cả đời đều đi sưu tầm khúc phổ—”
“Sau đó tôi không sao ở lại giáo phường thêm một ngày nào nữa. May nhờ Thiếu tướng ra tay giúp đỡ, bằng không tôi chẳng biết còn phải chịu khổ đến bao giờ.”
Nàng hướng về phía xe ngựa của Bùi Thứ Chi hành một lễ, rồi thản nhiên quay người bỏ đi, không ngoái đầu nhìn lại.
–
Lư Hội đứng yên tại chỗ rất lâu, đến khi trở lại xe ngựa vẫn còn cảm khái: “Tuy Vương nương tử nói nàng hát không hay, nhưng ta cảm thấy niềm say mê của nàng với âm luật, chẳng hề kém gì sư phụ nàng. Ôi, không biết nàng đi chuyến này có yên ổn không, có bị ai bắt nạt không…”
Hai người còn lại trong xe chẳng mấy hứng thú với đề tài này.
Bùi Thứ Chi nói: “Thương thế của ngài đã khá hơn rồi phải không, đừng có lười biếng nữa, ngày mai dẫn Hội Hội tiếp tục ra ngoài bái kiến.”
Kính Tuyên bất đắc dĩ: “Khụ, ngài đúng là… Thôi được. Gần đây ngài cứ chạy ra cổng thành suốt, lại đang mưu tính chuyện gì mờ ám thế hử?”
“Trong mắt ngài, thì chuyện gì của ta chẳng là mờ ám.”
Lư Hội cúi gằm đầu xuống.
Trong lòng đám vương công quý tộc này, e rằng dù là người như Vương Như Nhi, thân giá ngàn vàng, tài tình nổi bật, cũng không đáng để họ bận lòng nhiều hơn chút nào.
Cô bắt đầu nhớ phụ thân mình.
Phụ thân cô là người nhiệt huyết, trọng nghĩa khí, trong mắt ông chỉ phân biệt người tốt hay xấu.
Dù là kỹ nữ… thì cũng là người.
–
Sáng hôm sau, Lư Hội uể oải bước đến Mộc Hương Trai, định trước khi Quận vương đến đón mình ra ngoài sẽ tranh thủ dọn dẹp thư trai một lượt, không ngờ Bùi Thứ Chi vẫn chưa lên triều, đang ngồi sau án thư chờ cô.
“Lại đây.” Bùi Thứ Chi thân mặc quan phục tím, cổ dài trắng trẻo, khí độ ung dung.
Lư Hội lê chân bước tới, “Cậu còn điều gì căn dặn ạ?”
“Thứ nhất, những kỹ nữ khác nếu hoàn lương, e rằng hậu cảnh về sau sẽ vô cùng thê lương, duy chỉ có nàng Vương Như Nhi và nàng Lý Chước Chước là không như vậy. Một người khéo ứng xử với đời, một người am tường lòng người, đều là hạng có bản lĩnh tự an bài cho mình.”
Dụng nhân chi đạo cốt ở chỗ vừa ân vừa uy, cưỡng ép người làm việc, sao bằng khiến người ta tự nguyện cam tâm.
Lư Hội bất chợt ngẩng đầu.
Bùi Thứ Chi nói tiếp: “Thứ hai, lần này Vương Như Nhi đi Lô Châu. Thứ sử Lô Châu chính là tình lang thuở trước của nàng, trong mấy nhà thế gia lớn ở địa phương cũng có không ít công tử từng quen biết nàng. Yên tâm, Vương Như Nhi tâm tư sáng tỏ, ắt sẽ biết liệu mà hành.”
Một nữ tử cô độc mang theo tài sản lớn chuyển đến nơi khác, nếu không có ai che chở, ắt sẽ thành ‘con dê béo’—Lư Hội vốn lớn lên nơi biên cương, chuyện ấy hiểu rõ hơn ai hết, bởi vậy mà đêm qua vẫn canh cánh lo cho Vương Như Nhi.
“Thứ ba, mấy ngày nay ta bảo cô quét tước phòng Mộc Hương Trai, có phải thấy tủi thân không?”
“Không tủi thân, không tủi thân, Thiếu tướng người liệu việc như thần, chuyện gì cũng sắp đặt chu toàn rồi.” Lư Hội nghe nói Vương Như Nhi chuyến này được an ổn, trong lòng đã vui mừng khôn xiết, nhảy cẫng đến bên cạnh Bùi Thứ Chi, kéo tay áo chàng tỏ lòng cảm kích.
Bùi Thiếu tướng vốn còn định dùng thêm một chiêu vừa đe vừa dỗ, nào ngờ bị tiểu cô nương này dỗ ngọt một hồi, liền quên béng chuyện trách mắng cô vì không gọi mình là “cậu”.
Chàng trấn định lại tinh thần, mới bảo: “Tính khí của cô quá thô lỗ, phải mài cho chín chắn hơn một chút, có vậy sau này mới thành đại khí.”
“Chuyện như Lý Hiếu Trung, về sau tuyệt đối không được tái phạm. Tự ý hứa gả vốn đã không nên, lại còn đứng trước một gốc cây mà thề non hẹn biển, thật quá đỗi hoang đường!” Tuy không gào thét như Kính Tuyên, kỳ thực trong lòng chàng cũng rất không hài lòng.
“Về sau phải ngoan ngoãn nghe lời, dẫu việc ta cùng người mưu tính không thành, ta cũng bảo đảm cô vinh hoa phú quý, cả đời không lo âu.”
Thiếu nữ gật đầu như gà mổ thóc, “Tôi nhất định nghe lời, chuyện gì cũng sẽ nghe theo, tuyệt đối không làm chậm trễ đại sự của người!” — Ông cậu giả này tuy thoạt nhìn chính tà khó đoán, nhưng tâm địa thật ra không đến nỗi nào.
Nhìn bóng dáng cô vui vẻ như chim sẻ nhỏ tung tăng rời đi, Bùi Thứ Chi không kìm được khẽ mỉm cười, thầm nghĩ từ nay hẳn sẽ thuận buồm xuôi gió.
Tiếc thay, sự đời chẳng như ý muốn.
Chiều hôm ấy, Bùi Thứ Chi vừa tan nha môn trở về phủ.
Vẫn chưa kịp cởi quan phục, lão Tống đã vội vã chạy tới báo tin dữ—
“Mau tới chỗ Lục lang xem thế nào đi, lại bị đánh rồi!”
“Cái gì?”
“Lần này là bị cả một đám người đánh, thương thế còn nặng hơn lần trước, kẻ chủ mưu là một bà lão ăn vận sang trọng!”
“Cái gì?”
“Thực ra bà lão ấy định đánh chỉ có Hội nương… Ấy da, không sai, lại là một vị hôn phu khác của cô ấy!”
“Cái gì?!”
“Nghe Tử Liệt nói lần này không phải người Hồ, mà là một thư sinh đọc sách, diện mạo cũng rất tuấn tú, nho nhã lịch thiệp, chúng ta mau đi đi — ấy ấy ấy chờ lão phu, ngài đừng đi nhanh thế…”
Tác giả có lời muốn nói:
Trung bình ba, bốn chương giải quyết một vị hôn phu, đoán xem nữ chính có mấy mối tình xưa?
