Chương 12: Chỉ còn lại một phòng khách
*
Cơn mưa bão đã trút xuống, họ đành phải chạy tới khách sạn gần hãng Tây nhất. Hành lang cửa cao và sâu, gã bồi phòng người Nam Á mặc chế phục trắng, đeo găng tay trắng, lịch sự chặn hai người lại ngoài cửa. Giang Kỳ Nguyên dùng tiếng Anh nói chuyện với gã, gã bồi phòng lắc đầu, nói một câu gì đó. A Ngọc nghe không hiểu, chỉ đầy hoài mong nhìn hai người giao thiệp. Giang Kỳ Nguyên nói một tràng dài, đối phương rốt cuộc chỉ đáp lại đúng một câu, mà theo tai A Ngọc nghe được, dường như lúc nào cũng là cùng một câu đó.
Đúng lúc này có một quý bà người Tây đi ngang qua, liếc nhìn về phía này một cái, như con người đang nhìn chó cắn nhau. Đó là ánh mắt mà Giang Kỳ Nguyên vốn dĩ quá quen thuộc khi còn ở Chợ Lớn. Chuyện làm ăn của cha anh lớn đến thế, vậy mà chỉ một tên cảnh sát Pháp nho nhỏ tìm đến tận cửa, anh vẫn phải cười cầu hòa, dâng thuốc, nói lời ngon ngọt.
Giang Kỳ Nguyên mặt không cảm xúc, nói với A Ngọc một tiếng: “Chúng ta đi.” Rồi trở mình bước thẳng vào trong mưa. A Ngọc dồn dập bước theo sau lưng, gặng hỏi: “Gã nói gì vậy?”
Giang Kỳ Nguyên không trả lời, sải bước trong mưa vài bước. Nước mưa nương theo tóc mai của anh chảy tòng tọc xuống.
A Ngọc lại hỏi tiếp.
“Gã nói, khách sạn không tiếp đón người Trung Quốc. Tôi nói tôi dư sức trả tiền phòng, cũng xướng được tên hãng Tây hợp tác, gã loanh quanh rốt cuộc cũng chỉ có một câu: Không tiếp đón người Trung Quốc.”
“Vậy anh nói với gã là anh quen vị tai-pan đó đi. Hay là chúng ta đi cầu xin vị tai-pan?”
“Không có chuyện đó đâu.” Gió mưa tạt thẳng vào mặt anh, anh như mất hết cảm giác, chẳng buồn nhấc tay lên lau.
“Vậy… vậy anh nói với gã, anh đâu phải người Đường. Anh đến từ Sài Gòn, từng sang bên Pháp…”
Giang Kỳ Nguyên nghiêm nghị một cách hiếm thấy, thô bạo ngắt lời cô: “Tôi sao lại không phải người Đường? Chúng tôi nếu không phải người Đường, năm đó khi Tôn Văn đến Việt Nam, tại sao chúng tôi phải tài trợ cho ông ấy làm cách mạng, tài trợ đánh đổ nhà Mãn Thanh? Đường Sơn tiếp tục nghèo nàn yếu ớt, thì ở bên ngoài chúng ta vĩnh viễn chỉ là lũ lợn mang bím tóc trong mắt người Tây!”
A Ngọc im lặng không cất lời, cô không sao nói rõ trong lòng là cảm giác gì. Ở cái chốn huyện thành nhỏ hẹp, thế giới của cô bé xíu, đàn ông đã là trời rồi. Hóa ra ngoài trời còn có trời, trên người còn có người. Cái tầng trời cao hơn cả đàn ông, chính là các quan Tây.
Cơn gió thốc từ mặt nước sang, hắt mưa xiên xẹo vào mặt hai người. Giang Kỳ Nguyên mặc cho nước mưa quật vào mặt. A Ngọc đột ngột giơ tay lên, lau sạch những giọt nước trên mặt anh.
Giang Kỳ Nguyên sững sờ, ánh mắt đảo quanh rồi chầm chậm dừng lại trên gương mặt cô. Trong cơn mưa gió ảm đạm, cô trông vẫn ngoan ngoãn dịu dàng đến thế. Trên mảnh đất vàng năm ngàn năm, nơi chẳng bao giờ thiếu những kẻ cam chịu như cô. Những người phụ nữ số kiếp đắng cay như thế, cứ từng lứa từng lứa mọc lên, rồi lại từng lứa từng lứa héo tàn.
Lúc này đây, cô lấy hết can đảm lau nước mưa trên mặt người đàn ông, tự nhiên hệt như nửa đời trước đầy bi thương chua xót của cô từng lau người cho người mẹ bệnh tật, bổ củi cho người cha vậy.
Đầu óc cô quá đỗi đơn thuần, chỉ hiểu được đạo lý mộc mạc rằng ai tốt với cô, cô sẽ tốt lại với người đó.
Anh đăm đăm nhìn người phụ nữ vóc dáng mềm mại này, đột ngột nhấc cổ tay lên, nắm chặt lấy tay cô.
A Ngọc tức thì sững người cứng đờ.
Giang Kỳ Nguyên ý thức được sự mạo phạm quá trớn của mình. Nhưng anh không nỡ buông ra ngay. Anh tham lam nắm thêm một giây, rồi lại một giây nữa, sau đó mới buông tay xuống, lạnh mặt quay đi: “Đi thôi, chúng ta đi tìm chỗ khác.”
Anh nhớ lại Trịnh Bảo La từng nói, trên đảo Sa Diện có một quán trọ, người đến trọ đa phần là người Hoa và người Nam Á làm việc cho người Tây. Anh men theo những đặc điểm mà đối phương từng đề cập để tìm, quả nhiên tìm được một quán trọ kiểu Trung Hoa. Tòa nhà gỗ ba tầng, mặt tiền hẹp, không có biển hiệu. Họ bước vào trong quán nhìn thử, Chủ tiệm đang chỉ huy gã bồi cất lại biển hiệu bị gió quật ngã, sửa sang lại những chiếc đèn lồng bị thổi rách.
Quay người thấy hai người họ bước vào, lại thấy người đi đầu mặc bộ âu phục chỉn chu nhưng toàn thân ướt sũng, liền vội vã mời họ vào trong.
“Trọ lại sao? Vừa khéo chỉ còn lại một phòng khách. Hai anh chị là vợ chồng, tôi có thể sắp xếp cho anh chị.”
A Ngọc tái mét mặt mày, không cất lời.
Trong lòng Giang Kỳ Nguyên dâng lên một suy nghĩ tà ác. Nhưng đứng trước cử chỉ bao dung như Đất Mẹ của A Ngọc vừa rồi, cái niệm đó của anh thật nhỏ bé và bẩn thỉu, anh tự giơ một bàn tay trong tâm khảm ra, tát mạnh dập tắt nó.
Nhưng để tránh người ngoài dèm pha đoán già đoán non, anh vẫn mượn thân phận vợ chồng, chỉ giả vờ ho hai tiếng: “Chủ tiệm, tôi hơi bị nhiễm cảm lạnh, không muốn lây sang cho cô ấy. Còn dư căn phòng nào nữa không?”
“Dưới tầng một có một gian phòng kho, bình thường cho gã bồi nghỉ ngơi. Hôm nay giông bão, có một gã bồi không tới, ước chừng không có ai nghỉ ở đó đâu.”
Giang Kỳ Nguyên lịch sự hỏi: “Tôi trả tiền phí của hai phòng khách, Chủ tiệm xem như vậy có được không?”
Dĩ nhiên là được. Có tiền mua tiên cũng được. Chủ tiệm vội vã hỏi họ còn cần thêm gì nữa không, Giang Kỳ Nguyên biết loại quán trọ này sẽ không có nước máy, liền bảo họ đun hai ấm nước nóng mang sang hai phòng. Anh còn đặc biệt dặn dò: “Vợ tôi hay e ngại, xin đừng để gã bồi vào phòng cô ấy. Mọi đồ đạc cứ để ngoài cửa là được.”
Vì tá túc đường đột, cả hai đều không mang đồ thay, Giang Kỳ Nguyên lại mua từ Chủ tiệm. Đương nhiên, lại tốn một khoản tiền đắt đỏ.
Gian phòng kho nằm sau bếp, đẩy cửa ra, hơi ẩm xộc thẳng vào mặt. Một chiếc giường phản, góc phòng chất đống bao tải, một cánh cửa sổ nhỏ hắt vào ánh sáng trời u tối đen kịt. Giang Kỳ Nguyên đợi bồi mang nước nóng tới liền nhanh chóng tắm rửa qua một lượt, thay bộ áo dài màu xanh xám mua từ chỗ Chủ tiệm.
Tắm rửa thay đồ xong, anh quay lại quầy lễ tân, muốn mượn điện thoại gọi về khách sạn ở Trường Đê, Chủ tiệm bảo: “Làm gì có chứ, chỗ chúng tôi đâu ra cái thứ cao cấp đó.”
Giang Kỳ Nguyên thầm nghĩ, thôi vậy, trở về rồi giải thích rõ với Lạp Cô sau. Mưa gió bão bùng thế này, ước chừng chị ấy cũng chưa chắc đã về được khách sạn. Vừa tính quay người về phòng, đột nhiên nghe thấy bên ngoài vang lên tiếng nổ ầm ầm kinh thiên động địa. Chủ tiệm gào lên: “Ái chà, tiêu rồi! Đến cây đối diện cũng bị đốn ngã rụi rồi!” Cơn mưa bão như lũ tràn bờ, quật xối xả không ngừng nghỉ một giây.
Giang Kỳ Nguyên ngẫm nghĩ một chút, hỏi Chủ tiệm: “Nước nóng vợ tôi cần đã mang lên cho cô ấy chưa?”
“Gửi lên từ sớm rồi chứ.”
“Phòng cô ấy có an toàn không?”
Chủ tiệm trưng ra bộ mặt kiểu “sao chú em lắm đòi hỏi thế”: “Tôi thì chắc chắn thấy an toàn rồi, nhưng không biết có hợp yêu cầu của hai người không. Cậu cứ lên xem là biết liền chứ gì.”
Lời Chủ tiệm dường như đã cho anh một cái cớ. Anh không chút chần chừ cất bước lên lầu, định bụng nhắc cô chốt chặt cửa, tuyệt đối đừng mở cửa sổ.
Càng đi lên cao, sức gió càng mạnh, lúc bước tới tầng phòng A Ngọc ở, Giang Kỳ Nguyên cảm thấy hình như cả tòa nhà gỗ đang gầm rú, sàn nhà dưới chân rung lên bần bật. Anh có thể nghe thấy tiếng sông Châu Giang ở bờ bên kia bị gió đánh rống lên giận dữ. Anh thầm nghĩ, không biết A Ngọc có sợ không. Nhưng một người kiên cường cứng cỏi như cô, chắc hẳn là trời không sợ đất không sợ.
–
A Ngọc ở trong phòng tắm rửa xong, vừa thắp đèn dầu lên thì bên ngoài đột nhiên chấn động liên hồi như đất trời sụp đổ. Cô đã đóng chặt cửa nẻo, nhưng vẫn thấy tiếng gió hú rít vô cùng đáng sợ.
Đột nhiên trên đỉnh đầu vang lên tiếng gãy nát, cánh cửa sổ Mãn Châu lại bị gió quật tung ra, mưa gió tức thì ùa vào gào thét, dập tắt ngụm đèn dầu trên bàn trong chớp mắt. Căn phòng liền chìm vào bóng tối đen kịt. A Ngọc thấy trong góc phòng có thanh gỗ dài, vội vàng cúi lưng nhặt lấy, bên tai chỉ nghe thấy tiếng nước sông xa xa gầm rú. Tiếng gió quái đản lạ kỳ, như tiếng khóc than u uất của một người phụ nữ vọng lại, tiếng nối tiếng gào lên: Tôi oan quá! Tôi oan quá!
Cô khựng người cứng đờ.
Ký ức quá khứ ùa về xối xả hệt như cơn mưa gió trước mắt. Năm bảy tuổi, lần đầu tiên cô theo người lớn ra bờ sông xem náo nhiệt, nhìn người ta dìm lồng heo một người phụ nữ. Người phụ nữ đó là một góa phụ hàng xóm của cô, đối xử với cô rất dịu dàng, người ta bảo chị vụng trộm với một thương nhân từ tỉnh thành tới nên đem chị nhốt lồng heo thả xuống sông.
Đó là lần đầu tiên trong đời cô tận mắt thấy chuyện đáng sợ đến nhường ấy. Cô khóc lóc hỏi mẹ: “Có thể cứu chị ấy được không mẹ?”
Mẹ cô vội vàng bịt miệng cô lại, hạ giọng mắng: “Nói nhăng nói cuội gì đó? Tuyệt đối không được để người ta biết mày thương hại nó!” Cô ngẩng đầu lên, thấy người mẹ bình thường vốn thường xuyên qua lại, giúp đỡ lẫn nhau với chị góa phụ ấy, giữa vô số lời chửi rủa xối xả của đám đông cũng đã nhập hội góp phần một tiếng.
Về tới nhà, mẹ nói với cô: Nếu không hùa theo người ta chửi cùng, những người khác sẽ cho rằng mày với nó là một giuộc. Người ta sẽ trút hết phẫn nộ dành cho nó lên đầu mày.
Nhưng mà, chị ấy ở bên người đàn ông chị ấy thích, tại sao người khác lại phẫn nộ cơ chứ?
Mẹ cô nâng gương mặt A Ngọc lên: “Con gái à, con đừng có khờ như vậy. Chúng ta làm gì có tư cách mà nói đến chuyện thích hay không thích. Ra ngoài con tuyệt đối đừng có nói chúng ta quen biết với người đàn bà đó.”
A Ngọc nhắm mắt lại, trong đầu lúc nào cũng hiện lên gương mặt ngập tràn oán hận đang chửi rủa cả làng của người góa phụ kia. Đêm đó cô bắt đầu lên cơn sốt, mẹ tìm người về làm phép cho cô, bắt cô uống nước bùa đốt thành tro, nằm liệm mấy ngày mới đỡ dần. Sau này cô còn tiếp tục nhìn thấy, nghe thấy những người phụ nữ khác bị dìm lồng heo thả sông, có lẽ vì đã tê dại nên không còn cảm giác kinh hoàng như thuở ban đầu nữa.
Rất nhiều năm về trước, tiếng nước bên bờ sông cũng vang lên hệt như thế này. Tiếng người, tiếng nước, tiếng cái lồng heo chìm nghỉm xuống dòng nước. Từ năm bảy tuổi cô đã bắt đầu sợ hãi âm thanh đó, sợ cho tới tận hôm nay.
Cô tựa vào tường, chầm chậm trượt ngồi xuống, hai tay ôm chặt lấy đầu gối. Trong bóng tối cô chẳng nhìn thấy bất cứ thứ gì, chỉ nghe thấy tiếng nước, cả thế giới đều là tiếng nước ùng ục, ùng ục, là người phụ nữ mang theo uất hận đang chìm dần xuống đáy.
Có người gõ cửa, cô lại tưởng là tiếng gió.
“A Ngọc!” Cánh cửa bị đập vào rung chuyển: “A Ngọc!”
Cô nghe thấy giọng nói quen thuộc, liền lảo đảo ra mở cửa.
Cửa vừa mở, Giang Kỳ Nguyên đứng ở bên ngoài. Cơn gió luồng từ hành lang và ngoài cửa sổ hút vào nhau, giật lấy làm thân thể hai người lảo đảo chao đảo. Anh mặc bộ áo dài, trông không giống anh thường ngày, giọng nói có phần sốt sắng: “Cô không sao chứ? Sao lâu thế không trả lời?”
Ngước mắt nhìn sang, thấy cửa sổ của cô bị thổi tung ra rồi, anh cũng chẳng kịp nghĩ ngợi gì thêm, bước thẳng vào phòng, vơ lấy thanh gỗ bên tường chèn giữ cánh cửa, đóng chặt lại rồi cài chốt. A Ngọc bừng tỉnh lại, gồng sức cùng anh khép cửa.
Chốt cửa sổ đã cài xong, anh xoay người lại, vấp phải A Ngọc đang đứng ngay đằng sau.
A Ngọc rụt lại về sau một bước.
Chú thích:
Tai-pan: Định nghĩa: Là danh từ gốc tiếng Quảng Đông (đại ban / 大班) dịch nôm na là “tầng lớp đầu sỏ” hoặc “đại thương gia”.
Trong thời kỳ thuộc địa (đặc biệt là ở Hồng Kông và các hãng buôn lớn của phương Tây tại châu Á thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20), Tai-pan dùng để chỉ người đứng đầu hoặc tổng giám đốc điều hành cấp cao của các hãng buôn lớn nước ngoài (ví dụ như Jardine Matheson, Swire…)
