Chương 24: Mối nợ năm xưa 7
*
Trông thấy đêm tối dần buông, Thôi phu nhân mới bắt đầu sinh lòng bất an.
Tính từ lúc trên phố chạm mặt con tiện nhân cùng gã lang tử kia, đã qua hơn nửa ngày, người nhà Thôi thị Thanh Hà vốn định cư tại Thần Đô hẳn đã sớm nghe tin, sao đến giờ vẫn chưa tới cứu bà ta? Chẳng phải chỉ là vài cái tát, nhiều lắm cũng chỉ nói vài lời xin lỗi, bồi thường ít bạc, thế là xong chuyện đó sao?
Tòa phủ đệ này nhìn qua tuy có vẻ khí phái, nhưng một nữ nhi nhà buôn thì biết thế nào là cửa son thế quý? Cùng lắm chỉ là dùng bạc chất đống mà mua lấy. Suy cho cùng, chừng như Tuân Nhi đã là sự lựa chọn làm phu quân tốt nhất mà con tiện nhân kia có thể bám víu, nếu không, thuở ban đầu cũng đâu đến mức chết dí mặt dày mà quấn riết lấy. Vậy cớ sao Thôi thị Thanh Hà vẫn chưa tới cứu bà ta?
Thôi phu nhân mắt trơ trơ nhìn mặt trời lặn rồi trăng lên, trăng lặn lại ngày sang, trong nỗi thấp thỏm đợi tới sáng hôm sau, chợt một đám nha sai mặc quan phục như lang như hổ xông thẳng vào phòng. Tiếng la hét lẫn tiếng quát tháo vang lên hỗn loạn, Thôi phu nhân bị lôi đi trong bộ dạng chật vật, bịt mắt, bị nhét giẻ vào miệng, tống thẳng lên xe ngựa. Xe sóc nảy chẳng biết đã bao lâu, cuối cùng bị quẳng vào một nhà lao tối tăm ẩm thấp.
Trên tường đá phủ rêu xanh loang lổ còn hằn vết móng tay cào xước, nền đất lộn xộn rải dăm nắm rơm khô, góc tường có hai cái bát sứ sứt mẻ cùng một cái thùng dơ bẩn, trong khe cỏ còn thấy côn trùng lúc nhúc bò ra.
Thôi phu nhân dựng hết lông gáy sau lưng, hốt hoảng bấu vào song sắt, gọi khản cả cổ suốt hơn một canh giờ, tới khi lạc cả giọng mới thôi. Nửa đời bà ta sống trong cảnh vinh hoa sung túc, chưa từng chịu cảnh thế này, vốn dĩ cũng không phân biệt nổi lao ngục của quan phủ hình thù ra sao.
Trong ngục u tối mờ mịt, chỉ có ở cao tận đỉnh tường đá mở một lỗ cửa sổ nhỏ bằng bàn tay, nhờ chút sáng lọt vào mà bà ta mới biết được đêm ngày.
Ngày ấy, nhà lao có một bà già mặt mũi vô cảm tiến vào, ném một muỗng cháo kê loãng vào chiếc bát sứ vỡ coi như cơm, lại rót thêm ít nước đục ngầu vào chiếc bát khác. Thôi phu nhân vội vàng hỏi nơi này là đâu.
Bà già đáp: “Địa lao Đại Lý Tự.”
Thôi phu nhân thất sắc. Tuy chẳng hiểu biết bao nhiêu, nhưng bà ta cũng biết chuyện đánh nhau ẩu đả chốn dân gian, sao có thể chạm tới Đại Lý Tự? Sau cơn giận dữ giậm chân mắng chửi, bà ta rút ra được hai điều:
Một là, con tiện nhân kia chẳng hề nhớ chút tình cũ, vậy mà dám báo quan. — Ừ thì bà ta có thể đánh kẻ khác để hả giận, nhưng đối phương lại không thể phản kháng, đó đã thành lẽ quen thuộc mười mấy năm nay.
Hai là, nhà con tiện nhân rõ ràng chỉ là kẻ buôn bán, trừ phi gần đây vợ chồng Lư Trí Nam kết giao được quyền quý nào, hoặc chính gã lang tử hôm nọ bị bà ta sai nô bộc đánh cho một trận lại chẳng phải người thường, mới có thể kinh động đến Đại Lý Tự.
Đến trước lúc mặt trời lặn, bà già vô cảm kia lại vào đưa cơm nước. Thấy hai cái bát sứ loang loáng vẫn nguyên vẹn, bà ta chẳng lấy làm lạ, chỉ cất muỗng gỗ định rời đi. Thôi phu nhân hấp tấp hỏi: “Còn những kẻ tù khác đâu, sao chỉ có mình ta?”
Bà già gương mặt khô quắt nhăn nhúm, thoáng nở nụ cười chẳng giống cười: “Tù nhân trọng tội, giam riêng một chỗ.”
Thôi phu nhân chẳng kịp sợ hãi, vội vã cất giọng hỏi theo: “Ta rốt cuộc phạm tội gì?”
Bà già ngoảnh đầu cười khẩy: “Tự ngươi không rõ sao? Lá gan thật lớn, dám mưu hại Hoàng tôn.”
Cái gì?! Hoàng tôn nào? Bà ta khi nào từng mưu hại qua… Trời đất quay cuồng, Thôi phu nhân ngã phịch xuống đất.
— Hóa ra gã lang tử kia lại là Hoàng tôn?!
Thân thể và tâm trí bà ta đều ngập trong hối hận lẫn kinh sợ, liền bắt đầu gào khóc om sòm:
Ngày đầu tiên, bà ta hướng về phía cửa ngục trống trải, không ngừng biện bạch rằng mình tuyệt đối không hề có ý mưu hại Hoàng tôn, chỉ là hiểu lầm thôi, hiểu lầm cả! Nhưng là hiểu lầm gì, bà ta nào dám nói ra rằng vốn chỉ muốn đánh cho Hoàng tôn một trận.
Thế là sang ngày thứ hai, nội dung khóc lóc biến thành chửi rủa và vu cáo, nói rằng tất cả đều do Lư Hội hại bà ta, là ả cố ý bày mưu hãm kế, khiến bà ta đánh nhầm vào Hoàng tôn.
Có lẽ bản thân bà ta cũng thấy lời này quá khó tin, tới ngày thứ ba lại hóa thành than khóc cầu xin tha mạng.
Vài ngày nay, Thôi phu nhân coi như đã nếm hết khổ nhục cả đời còn lại. Cháo kê loãng cùng nước đục mà lúc đầu còn khinh ghét, đến ngày thứ hai đã không nhịn được mà ăn uống cả, trong ấy lẫn sỏi cát cũng đành chịu, còn mùi vị hôi tanh khó nuốt, vậy mà vét sạch bát rồi bụng vẫn đói cồn cào.
Tới ngày thứ tư, bà ta chẳng còn sức kêu gào, chỉ ngửi mùi hôi thối từ thùng phân bên cạnh, nằm co quắp trên rơm khô, yếu ớt rên rỉ: “Con ơi, mau tới cứu mẹ…”
Đang lúc sống dở chết dở, bỗng có mấy nữ ngục tốt thân hình thô kệch lôi bà ta ra ngoài.
Thôi phu nhân đói tới nỗi hoa mắt chóng mặt, chẳng biết bị lôi kéo qua mấy khúc quanh, cuối cùng mới được đưa vào một gian phòng khô ráo ấm áp. Trong không khí thoảng hương ánh nắng và mùi xà bông tắm, khiến bà ta cảm động mà hít thở thật sâu.
Hai nữ ngục tốt sai bà ta tự tắm rửa chải đầu, rồi đưa cho một bộ váy áo cũ nát. Sau ba bốn ngày khổ sở như luyện ngục, giờ đây chỉ cần được khôi phục khô ráo sạch sẽ, cho dù là vải thô vá chằng chịt, Thôi phu nhân cũng rưng rưng cảm kích.
May mà hơn mười năm nay bà ta vốn bồi bổ thân thể bằng gà cá yến sâm, tuy giờ đói sợ tới nỗi tay chân mềm nhũn, nhưng vẫn mau chóng sửa soạn thân mình cho gọn gàng.
Sau đó, bà ta được đưa vào một gian thư phòng thanh nhã. Chính giữa thượng vị có một người ngồi ngay ngắn.
Thôi phu nhân thấy thoáng quen mặt, ngẫm lại liền run rẩy toàn thân, vội muốn khom người hành lễ, nào ngờ vì mấy ngày đói mệt quá độ, thân thể mềm nhũn, ngã sấp thẳng xuống đất. Nhưng miệng vẫn kêu được một câu: “Dân phụ bái kiến Thiếu tướng!”
Bùi Thứ Chi thản nhiên nói: “Xin Thôi phu nhân an tọa.”
Một nữ ngục tốt mang ghế gỗ đến, một người khác đỡ bà ta ngồi xuống, rồi cả hai cùng lui ra khép cửa.
Bùi Thứ Chi nói: “Thôi phu nhân trí nhớ thật tốt. Ba năm trước, trong tiệc cáo lão của Thôi công, may mắn được diện kiến một lần.”
Thôi phu nhân vội vàng đáp: “Không dám, không dám! Thiếu tướng bận trăm công nghìn việc, vậy mà vẫn nhớ tới dân phụ, dân phụ…”
—— Đó là yến tiệc trọng thể được tổ chức để tiễn lão tộc trưởng nhà họ Thôi, Thôi Mậu cáo lão hồi hương. Bà ta, vốn chỉ là chi ngoài của chi ngoài Thôi thị Thanh Hà, phải tốn biết bao bạc trắng cùng công phu xoay xở mới có được suất dự tiệc. Nhớ rõ lúc yến tiệc nghỉ giữa chừng, một đám nữ quyến đứng cách bờ hồ, xuyên qua rặng hoa xa xa trông thấy thiếu niên quyền thần vừa mới thăng chức Trung Thư Xá Nhân —— Bùi Thứ Chi.
Khi các phu nhân, tiểu thư khác đều mơ tưởng trong lòng “người này mà làm rể hiền thì tốt biết mấy”, thì Thôi phu nhân lại chỉ ngẩn ngơ nghĩ, bao giờ con trai bà ta mới có được vận số như vậy, để bản thân có thể hưởng thụ sự vinh hiển rực rỡ, được người đời vây quanh như sao chầu nguyệt.
“Ngươi có biết tội lỗi bản thân phạm vào là gì không?” Bùi Thứ Chi cắt ngang lời lải nhải của bà ta.
Thôi phu nhân lập tức khuỵu gối, gào khóc biện bạch: “Dân phụ thật sự không hề có ý hành thích Hoàng tôn! Dân phụ đâu biết người là Hoàng tôn, dân phụ chỉ là muốn… chỉ là muốn… a a a a…” — muốn đánh hắn một trận.
“Bộp!” Bùi Thứ Chi vỗ mạnh xuống án, giọng nghiêm lạnh: “Nếu còn ầm ĩ nữa, lập tức quay lại đại lao!”
Thôi phu nhân lập tức nín bặt —— khổ sở đã chịu đủ, bà ta quyết không muốn quay lại cái chốn quỷ quái ấy.
“Vài ngày trước, kẻ bị ngươi thương tổn chính là cháu trai đương kim Thánh thượng, Tín Lăng Quận vương Lệ Kính Tuyên. Lúc ấy nhiều người tận mắt chứng kiến, ngươi sai khiến nô bộc hung hăng vây đánh, rõ ràng là muốn lấy mạng người ta.” Bùi Thứ Chi nói giản lược mà đanh thép: “Chiếu theo luật lệ bản triều, hành thích hoàng thân, tội đáng tru diệt.”
Thôi phu nhân run rẩy như lá rụng, tay nắm chặt mép ghế gỗ, miệng lắp bắp: “Dân phụ thật sự không phải muốn hành thích Hoàng tôn, xin Thiếu tướng minh giám!”
Trong cơn hoảng loạn, bà ta chợt nhớ ra: Đúng rồi, xin Thiếu tướng thẩm tra con tiện nhân kia… nữ tử Lư thị! Ả ta có thể chứng minh dân phụ không hề có ý hành thích, chính là tiểu thư Nam Ngọc thương hành…”
Sắc mặt Bùi Thứ Chi hơi hiện vẻ bất mãn: “Chủ nhân Nam Ngọc thương hành, Lư Trí Nam, xuất thân từ Lư thị Phạm Dương. Tháng trước đã cùng nhà họ Bùi ta nhận thân, con gái Lư Hội xét ra là cháu gái của bản tướng.”
“Cái… cái gì?!”
Tin tức này còn khiến Thôi phu nhân khó tin hơn cả việc lỡ tay đánh trúng Hoàng tôn. Bà ta ngẩn ngơ, mặt đầy kinh hãi: “Nhà bọn họ chẳng phải chỉ là chi ngoài của chi ngoài Lư thị Phạm Dương thôi sao, đã mấy đời áo vải, từ lâu chẳng khác gì dân thường rồi…”
Bùi Thứ Chi nhàn nhạt nói: “Phu nhân cũng xuất thân từ chi ngoài của chi ngoài Thôi thị Thanh Hà, phụ huynh tổ tiên mấy đời cũng đều áo vải cả.”
Thôi phu nhân toàn thân run lẩy bẩy, tứ chi tê dại, tâm trí rối loạn chẳng biết đáp lời ra sao.
“…Lần này cũng là do Hội Hội niệm tình xưa mà tha thiết cầu khẩn, bản tướng mới chịu đứng ra.” Bùi Thứ Chi tiếp tục nói.
Thôi phu nhân như trong đêm tối thấy được ánh sáng, chẳng kịp nghĩ đến thù hận ngày xưa, vội vàng liên thanh: “Phải phải, Lư tiểu nương tử cùng con trai ta tình sâu nghĩa nặng, tất nhiên muốn thay dân phụ biện bạch đôi lời…”
“Phu nhân nên ăn nói cẩn thận.” Bùi Thứ Chi lạnh giọng: “Hội Hội với lệnh lang chuyện cũ đã qua, chớ nên lôi kéo nữa.”
Thôi phu nhân vốn kiêu căng hồ đồ, nhưng phản ứng cũng chẳng chậm.
Nghĩ lại hôm đó thấy Lư Hội cùng Tuyên Hoàng tôn trên phố cười nói vui vẻ, bà ta lập tức đoán mò —— con tiện nhân kia có vài phần nhan sắc, lại khéo ăn nói, thích cười cợt quyến rũ, chẳng lẽ Bùi Thiếu tướng muốn mượn cớ lôi kéo Tuyên Hoàng tôn nên mới chịu nhận cô cháu gái này?
Càng nghĩ càng thấy hợp lý, trong lòng bà ta ngược lại cũng thấy an ổn.
“Xin Thiếu tướng cứu mạng.” Thôi phu nhân cố sức cầu khẩn.
Bùi Thứ Chi nói: “Cho dù không có ý hành thích, thì một thân thương tích của Tuyên Hoàng tôn cũng đều do phu nhân gây nên. Theo luật lệ, đánh thương hoàng thân phải chịu trượng hình, sau đó còn phải giam cấm ngục hình…”
“Á~~~~!”
Trong lòng Thôi phu nhân thót lại —— bà ta từng nghe qua trượng hình, nam phạm bị lột sạch quần áo chịu đòn, nữ phạm cũng chỉ mặc một lớp đơn y mỏng. Chỉ cần quá ba mươi trượng, thì từ đùi xuống hông đã máu thịt nát bươm.
Chưa nói đến nỗi nhục nhã, hình phạt ấy sao bà ta chịu nổi. Nghĩ đến đây, bà ta liền khóc thút thít.
“Nhưng mà, bản tướng đã thay phu nhân cầu được một phần nhân tình từ Tuyên Hoàng tôn.” Bùi Thứ Chi nói, “Trượng hình miễn, ngục hình đổi thành lưu đày. Xin phu nhân đi đày tới U Châu, mười năm sau mãn hạn.”
Vừa nghe đến “miễn trượng hình”, tảng đá trong lòng Thôi phu nhân rơi xuống, nhưng lập tức lại treo ngược lên khi nghe “lưu đày mười năm”. Bà ta run giọng kêu: “Lưu đày mười năm?! U Châu rét buốt khổ hàn, dân phụ nào chịu nổi! Xin Hoàng tôn khai ân!”
“Còn một cách khác.” Bùi Thứ Chi dường như đã sớm đoán được, “Cổ ngữ nói ‘có việc thì đệ tử gánh vác, có tội thì con cháu cũng nên thay cha mẹ mà bớt phần’. Dưới gối phu nhân có một đứa con trai, năm ngoái còn là giải nguyên ở Quận Lũng Tây phải không?”
Thôi phu nhân ngẩng đầu, ánh mắt lóe lên hy vọng.
“Bãi bỏ công danh của lệnh lang, mang tội phát về nguyên quán, suốt đời không được nhập sĩ lộ. Như thế Tuyên Hoàng tôn sẽ không truy cứu chuyện này nữa.”
Mỗi chữ trong lời nói của Bùi Thứ Chi đều như búa nện vào tim Thôi phu nhân, khiến bà ta thất thanh kêu: “Sao có thể như thế! Công danh sao có thể dễ dàng bãi bỏ?!”
Bùi Thứ Chi thản nhiên: “Chung quy vẫn phải cho Tuyên Hoàng tôn xả cơn tức. Hoặc tự mình chịu tội, hoặc để thân cận chịu tội, phu nhân tự chọn đi.”
“Xin Thiếu tướng khai ân thêm, để bồi thường cho Hoàng tôn, bao nhiêu bạc nhà dân phụ cũng có thể lấy ra…” Thôi phu nhân tiếp tục khóc lóc cầu xin.
“Phu nhân chớ quá tham lam. Ngươi đã đánh Hoàng tôn một trận, lẽ nào còn mơ được toàn thân thoát tội?” Bùi Thứ Chi đứng dậy, sắc mặt đã hiện vẻ bất nhẫn, “Bản tướng còn nhiều việc bận, xin phu nhân sớm quyết đoán, để bản tướng còn có lời bẩm với Hoàng tôn.”
Thôi phu nhân rã rời ngã quỵ xuống đất, môi run rẩy khó thành lời. Trong cơn giày vò khốn quẫn, từng hồi ức xưa cũ lại lũ lượt hiện về ——
Từ nhỏ bà ta vốn thông minh xinh đẹp, tuy sinh ra trong một nhánh phụ của thế gia suy bại, nhưng cha mẹ hiền từ thương yêu, chưa từng có ý định đem bà ta gả đi đổi lấy tiền tài. Thế nhưng qua tuổi cập kê rồi, chuyện hôn sự mãi vẫn chẳng đâu vào đâu, hoặc là phú thương chỉ biết tiền tài chứ chẳng hiểu thi thư lễ nghĩa, hoặc là thế gia có thanh danh nhưng lại nghèo túng chẳng ra gì.
Những hôn sự ấy, Thôi Thiến đều không bằng lòng, chỉ còn biết khẩn khoản với cha mẹ, mong cha mẹ chịu bỏ thêm bạc, nhờ bà mối nhiều phen tìm kiếm một mối lương duyên tốt.
Tuy huynh trưởng và chị dâu mặt mày khó coi, song song thân thực sự thương bà ta, lại chần chừ mấy năm. Cầu trời chẳng phụ lòng người, rốt cuộc cũng tìm được Độc Cô thị ở cách tận hai huyện.
Độc Cô thị vốn là đại tộc ở Hán Dương, song chi này lại nhân khẩu đơn bạc, mấy đời chỉ còn lại một mạch. Sau khi lão gia Độc Cô qua đời, để lại hai anh em: người anh cả trung hậu thật thà, quản lý điền trang thương vụ, người em thì yếu ớt nhiều bệnh, song văn tài không tệ, thường ngày đọc sách chờ khoa cử.
Đây chính là lựa chọn tốt nhất đối với Thôi Thiến. Độc Cô thị tuy không phải vọng tộc hiển quý, nhưng cũng là thế gia có danh tại địa phương, tổ tiên từng có tước vị, lại nhiều người ra làm quan, gia sản sung túc. Ban đầu, Độc Cô trưởng huynh cho rằng nhà họ Thôi gia thế mỏng manh, nhưng em trai vừa gặp Thôi Thiến đã đem lòng lưu luyến. Trưởng huynh nhớ tình em mình vốn bệnh tật, khó lòng ưng ý được ai, nay có người con gái ông thật sự thích, liền thuận theo ý ấy.
Thôi Thiến như nguyện gả vào nhà họ Độc Cô, từ đó sống những ngày vàng ngọc, tôi tớ quỳ hầu, năm sau lại hạ sinh một đứa con trai khôi ngô tuấn tú, cả nhà càng thêm cưng chiều, các chị em, chị dâu bên ngoại đều ghen tỵ số phận bà ta may mắn.
Vài năm sau, phu quân thi đỗ Minh kinh khoa, trong nhà còn chưa dứt tiếng pháo mừng, thì ông từ Trường An trở về liền ngã bệnh, chẳng bao lâu đã qua đời, bỏ lại một quả phụ với đứa con thơ.
Độc Cô trưởng huynh thấy bà ta còn trẻ đẹp, chẳng nỡ để thủ tiết nơi nhà mình, bèn cùng nhà họ Thôi bàn bạc: chi bằng đem Tử Tuân cho kế tự sang phòng lớn, rồi đưa cho Thôi Thiến một phần hồi môn cực hậu, để bà ta sớm tái giá. — Thôi Thiến thẳng thừng cự tuyệt.
Kế tự ư? Vì sao bà ta phải kế tự?
Cha mẹ đại bá vốn không con, lại là người thật thà. Dù chẳng kế tự, thì sau này khi hai người trăm tuổi, gia sản kia vẫn thuộc về Tử Tuân. Vì cớ gì bà ta phải xuất tự đứa con duy nhất của mình, vì cớ gì phải bỏ đi cốt nhục do chính mình dốc mười tháng thai nghén sinh ra!
Nhạc phụ đã làm quan mấy chục năm, tổ tiên lại có tước, sản nghiệp nhà họ Độc Cô tích lũy há chẳng đến cả ngàn vạn. Để tránh sau này huynh đệ bất hòa, trước khi qua đời, lão gia còn phân chia gia sản rõ ràng, lại chia nhà không chia viện, hai anh em vẫn ở cùng một chỗ.
Chỉ cần Thôi Thiến không tái giá, của cải phu quân để lại cũng đủ để mẹ con bà ta áo gấm cơm ngon cả đời, lại có cha mẹ đại bá chống đỡ, há sợ những kẻ vô lại đến cửa ức hiếp? Huống hồ phu quân tuy chết sớm, nhưng dù sao cũng đã có công danh khoa bảng, bạn bè đồng môn đồng khoa chẳng ít. Suốt mười mấy năm nay, vẫn thường có người chiếu cố mẹ con bà ta, nguyện đỡ đần con cái của bằng hữu.
Độc Cô thị ở Hán Dương đã là mối nhân duyên tốt nhất mà bà ta có thể nắm giữ. Giờ bà ta tái giá, với chút bản sự của nhà mẹ đẻ, sao có thể cầu được mối hôn sự tốt hơn? Cha mẹ đã già, nay trong nhà là huynh trưởng chị dâu làm chủ, rõ ràng bà ta có thể tự làm chủ lấy, cớ gì phải về nhà mẹ đẻ chịu cảnh xem sắc mặt họ?
Bà ta trời sinh thông minh diễm lệ, vốn phải sống những ngày tháng trên người khác. Bà ta chán cảnh túng thiếu keo kiệt, chán cảnh ra cửa gặp khách phải giấu đi y phục bạc màu, chán cả những đồ trang sức bằng đồng bọc bạc thô kệch kia!
Bà ta biết phải chọn cho mình cuộc đời tốt đẹp nhất, biết phải tính toán cho chính mình.
Những năm đầu thủ tiết, bà ta mặc vải thô cơm đạm, bố thí cháo lửa than, thường hay giúp đỡ cô quả nghèo hèn nơi bản thôn, bởi vậy cũng được ít nhiều danh tiếng.
Tử Tuân thông minh, mới bảy tám tuổi đã bộc lộ tài năng, các tiên sinh đều tấm tắc khen ngợi, chắc chắn tương lai sẽ công danh rạng rỡ. Thế thì bà ta còn điều gì phải lo nghĩ? Ngày tháng tốt đẹp còn dài ở phía trước.
Mấy chục năm kế tiếp, bà ta tận hưởng vinh hoa phú quý, ở huyện Hán Dương hô phong hoán vũ, ngày một kiêu ngạo. Chỉ tiếc duy nhất chính là Tử Tuân lớn dần, tính tình càng lúc càng cứng cỏi, chẳng còn nghe lời.
Nhưng bà ta chẳng sợ, bà ta xuân sắc thủ tiết, với con lại có ơn từ ái khôn cùng, bà ta há lại không trị nổi nó?
Bà ta có gì sai chứ, bà ta hoàn toàn chẳng sai gì cả!
Bà ta quyết chẳng cam lòng bị lưu đày mười năm, song bảo bà ta đem công danh tiền đồ của con ra chuộc tội cho mình, bà ta lại chẳng nỡ.
Sắc mặt Thôi phu nhân lúc âm lúc dương, người khi nóng khi lạnh, ruột gan quặn thắt, trong lòng giằng xé dữ dội.
Bùi Thứ Chi đã thong thả bước tới bên cửa: “Phu nhân đã nghĩ kỹ chưa?”
Thôi phu nhân mấy lần muốn mở miệng lại khó nói nên lời, thấy Bùi Thứ Chi đưa tay sắp chạm đến cửa, rốt cuộc bật thốt: “Dân phụ nguyện hồi hương hối lỗi, từ nay mẹ con nương tựa lẫn nhau!”
Bùi Thứ Chi khẽ bật cười, xoay người bảo: “Phu nhân có biết một khi lệnh lang mang tội danh trở về quê, cả đời này con đường khoa bảng sẽ chấm dứt, khó lòng gượng dậy nữa chăng?”
“Biết… biết chứ.” Thôi phu nhân nức nở, “Dân phụ tuổi đã cao, nếu bị lưu đày đến U Châu, e rằng khó có ngày trở lại. Nghĩ tới Tử Tuân cũng chẳng muốn mẹ già khách tử nơi đất lạ mà chết…”
Con đường công danh hiển hách kia, bà ta một phần cũng chẳng hưởng được, vậy thì còn có ý nghĩa gì?
Một bên là con được bay cao bay xa, nhưng chẳng còn liên quan đến bà ta; một bên là tiền đồ con bị hủy, nhưng vẫn có thể bình yên sống ở quê nhà, cơm no áo ấm — bà ta đã chọn rồi.
Bùi Thứ Chi gật đầu: “Được, vậy thì coi như quyết định.”
Chàng vỗ tay hai cái, bên hông phòng bỗng có cửa mở ra, hai người nối đuôi bước ra, chính là Độc Cô Tử Tuân và Lư Hội.
Bùi Thứ Chi nói: “Ta không thích dây dưa, để khỏi sau này sinh oán trách, chẳng bằng sớm để nhau rõ ràng.”
Thôi phu nhân như bị sét đánh, nhìn gương mặt con trai xanh xao tiều tụy, nghĩ đến sự chần chừ vừa rồi cùng quyết định cuối cùng của mình đều lọt cả vào mắt con, hổ thẹn đến mức chỉ hận không thể chui xuống đất cho xong.
Vốn dĩ bà ta muốn giấu kín chuyện này, chỉ dỗ dành con rằng công danh bị bãi bỏ là bởi lụy đến từ mẫu thân, như vậy dẫu có thẹn với con, nhưng trước mặt con vẫn còn có thể ngẩng đầu lên.
“Con à, ta, ta… làm mẹ…” Bà ta vốn định nói “Con cũng chẳng nỡ nhìn mẹ bị đánh trượng rồi lưu đày phải không”, nhưng lời như thế chỉ có thể để con tự nói ra, há lại do chính bà ta mở miệng?
Bà ta chẳng sao phân giải được, rốt cuộc chỉ còn biết ôm mặt khóc òa.
Độc Cô Tử Tuân lặng lẽ bước tới, hướng Bùi Thứ Chi hành lễ: “Đa tạ Thiếu tướng đã ra sức hòa giải, để cho gia mẫu miễn chịu trọng trách.”
Hai bên đều thấu rõ, vậy mà Bùi Thứ Chi vẫn điềm nhiên như thường: “Không cần khách sáo, đều là nể mặt Hội Hội thôi. Ngươi đưa lệnh đường sang chỗ Nhan Thiếu khanh tiêu án đi.”
Độc Cô Tử Tuân đáp một tiếng, tiến đến đỡ Thôi phu nhân rời đi, ngoài cửa sẵn có nha sai chờ đợi.
Thôi phu nhân rũ rượi ngả vào người con, như thể toàn thân khí lực đều bị rút sạch.
Mẹ con họ đi rồi, cửa nhỏ bên trong lại có hai người bước ra.
Lão Tống liên tục lắc đầu: “Thiếu tướng đây là kế tróc tâm mà.”
Kính Tuyên lại cười: “Tróc tâm còn hơn chém đầu, phải vậy mới là dạy cho nhớ đời.”
Bùi Thứ Chi liếc sang: “Ngài đã hả giận chưa?”
Kính Tuyên bật cười ha hả: “Hả giận rồi! Phen này quả không uổng một trận đòn!”
Bùi Thứ Chi lại hỏi: “Tiên sinh cho rằng lần này có thể gặt hái lời dạy sâu xa chăng?”
Lão Tống chắp tay: “Thiếu tướng cao minh. Độc Cô tiểu lang bị tâm ma trói buộc, chẳng dám chỉ rõ lỗi lầm của mẹ goá. Nay tâm ma đã trừ, về sau bất luận xử thế hay làm người, ắt có thể thuận lòng mà hành, từ chỗ quanh co mà tìm ra ngay thẳng.”
Bùi Thứ Chi quay sang chỗ khác: “Còn cô sao thành cái bầu khô thế? Nói đi.”
Lư Hội mấp máy môi, mệt mỏi thốt: “Về chuyện thao túng lòng người… thiên hạ e rằng chẳng mấy ai bì nổi cậu đâu.”
Bùi Thứ Chi: “Không biết nói thì chớ nói.”
–
Hai ngày sau, Độc Cô Tử Tuân đưa mẹ rời khỏi Lạc Thành, Lư Hội tất nhiên đi tiễn.
Vừa gặp mặt, dáng dấp mẹ con họ đã khác xưa hoàn toàn.
Thôi phu nhân ngồi trong xe ngựa, y phục giản dị, chẳng chút son phấn, lúc chào Lư Hội thì hòa nhã dễ gần, nào còn đâu dáng vẻ quý phụ kiêu căng châu ngọc đầy người ngày trước.
Ngược lại, Độc Cô Tử Tuân đã khác hẳn với khí chất ốm yếu tái nhợt thường ngày, đôi mắt sáng rỡ, lưng thẳng tắp.
Lư Hội kéo hắn ra một bên, khẽ nói: “Thật ra công danh của huynh không bị bãi bỏ, chỉ là cậu dọa mẫu thân huynh đó thôi. Bao giờ huynh muốn vào Thần Đô ứng thí thì cứ đi.”
Độc Cô Tử Tuân mỉm cười: “Ta biết.”
“Huynh thế mà vui được? Mẫu thân huynh vừa chịu một phen khổ sở đấy, đồ bất hiếu!” Lư Hội vừa cười vừa trách.
Độc Cô Tử Tuân mỉm cười: “Hiếu thuận vốn nên, nhưng chẳng thể ngu hiếu. Lẽ ấy ta vẫn hiểu, chỉ là chẳng thể ngẩng đầu thẳng lưng mà nói rõ với mẫu thân, thành ra phụ thánh hiền chi giáo. Hội Hội, vốn dĩ ta là một kẻ nhu nhược.”
Chàng trai tuấn tú trong gió thu hơi cúi đầu, mang vài phần u uất, khiến Lư Hội phút chốc lại rung động trong lòng.
Cô khẽ giọng nói: “Huynh không phải kẻ nhu nhược, ta biết chứ — ta vốn còn lo huynh sẽ trách cậu dằn vặt mẫu thân huynh cơ.”
Độc Cô Tử Tuân bật cười: “Mẫu thân bảo Thiếu tướng nhận muội làm cháu gái, là muốn lấy sắc mị mà lôi kéo Tín Lăng quận vương.”
Lư Hội suýt thì ngửa mặt than trời: “Sắc mị ư? Người ta đường đường là hoàng tôn, cũng là có con mắt cả đấy!”
Không phải đâu, Hội Hội, nàng rất tốt — Độc Cô Tử Tuân thầm nói trong lòng.
Hắn ngẩng đầu nhìn xa xăm: “Trước kia ta luôn đem mẫu thân đặt lên như thần phật trên cao — ân sâu nghĩa nặng, mang nợ chất chồng, chẳng dám oán giận, chẳng dám sửa sai. Ta biết là sai, nhưng chẳng dám chống lại thần phật. Nhờ có Thiếu tướng, nay ta mới hiểu, mẫu thân không phải thần phật, chỉ là một phàm nhân mà thôi.”
“Thuở nhỏ, tâm nguyện lớn nhất của ta chỉ là mong mẫu thân cả đời bình an vui vẻ, nếu có thể dùng công danh đổi lấy sự yên ổn của người, ta há lại chẳng cam lòng? Mẫu thân vốn chẳng có gì đáng trách —— thực ra, khi biết được người cũng có thể nghĩ cho chính mình, ta vô cùng vui mừng, tựa như trút bỏ gánh nặng ngàn cân.”
“Đợi sau khi hồi hương, mẫu thân muốn tái giá thì cứ tái giá, không muốn thì thôi, ta vẫn phụng dưỡng người như cũ. Chỉ là, thân làm người ở giữa trời đất, phải quang minh rộng lượng, ta muốn đi con đường của riêng ta, chẳng thể để mặc người sai khiến nữa.”
Thiếu niên tính tình hướng nội, mang chút u uất, khẽ mỉm cười với cô. Lư Hội nào ngờ rằng, nhiều năm sau, hắn sẽ nuôi một bộ râu dài tuấn tú, trở thành bậc học quan một phương, tự mình trồng trà nuôi cá, tiêu dao như mây nhàn hạc lánh đời.
–
Lư Hội tung tăng bước vào tiệm Mộc Hương Trai.
Trên bàn, sách chất thành núi. Bùi Thứ Chi một mình cúi đầu viết chữ, chẳng buồn ngẩng mặt lên: “Đã tiễn người đi rồi chứ?”
“Cậu cũng nên đi mà, Tử Tuân còn nói phải trực tiếp đến cảm tạ người đó.”
Bùi Thứ Chi hừ lạnh một tiếng: “Hắn cũng xứng để ta đích thân tiễn sao?”
Lư Hội ngượng nghịu: “Vậy người cứ viết chữ cho tốt, tôi đi thăm Tiết phu nhân đây.”
“Quay lại.”
Bùi Thứ Chi ngẩng đầu, vung bút ném vào vò sứ trắng bên cạnh, tức khắc làn nước trong loang ra từng vòng mực đen.
“Độc Cô Tử Tuân định làm gì tiếp theo?” Chàng hỏi.
Lư Hội đáp: “Tử Tuân nói muốn về nhà đọc sách, rảnh rỗi thì ra đồng ruộng dạo bước, thỉnh thoảng chuyện trò cùng lão nông hay phu bán hàng rong. Thấy trời, thấy đất, thấy khói lửa nhân gian.”
“Vậy hắn không định dự kỳ thi năm sau ư?” Bùi Thứ Chi hơi ngạc nhiên.
Lư Hội nói: “Tử Tuân bảo, tu thân tề gia trị quốc, mà học vấn của huynh ấy hãy còn chưa vững. Huống chi tu thân tề gia còn chưa xong, lại càng không thể luận đến trị quốc.”
Bùi Thứ Chi gật đầu: “Thêm chút trải nghiệm cũng tốt, chỉ e tính tình hắn đơn thuần dễ gãy, vào chốn quan trường chỉ có nước bị người ta nuốt sống.”
Lư Hội ngồi sát bên cạnh, tinh nghịch cười duyên: “Người năm mười bốn tuổi đã ra làm quan, còn nhỏ hơn tôi bây giờ cơ. Khi ấy sao chẳng ai nuốt sống người đi?”
Thấy cô mày mắt linh động đáng yêu, Bùi Thứ Chi không nhịn được mà mỉm cười: “Kẻ nào có ý định ấy đều bị nghẹn chết cả rồi.”
Lư Hội chộp lấy tay áo chàng, há miệng thật to, lộ hàm răng trắng bóng, giả vờ cắn một cái: “A…u.”
Rồi cô lắc đầu nghiêng sang một bên: “Ôi ta nghẹn chết mất thôi.”
Bùi Thứ Chi bật cười: “Nghịch ngợm! Tín vật kia đâu rồi?”
Lư Hội vội vàng đáp: “Tôi trả lại cho Tử Tuân rồi, lại còn bảo huynh ấy tự tay dùng hỏa trịch đốt đi. Không tin thì người cứ hỏi Tử Liệt, hắn đứng sau lưng nhìn thấy cả.”
Quả thật, Đàm Tử Liệt phụ trách hộ tống đã bị Lư Hội xua đi xa xa, nên không nghe rõ hai người nói gì. Nhưng cảnh Tử Tuân châm lửa đốt túi gấm bầu hồ thì hắn vẫn nhìn thấy.
Bùi Thứ Chi cuối cùng cũng hài lòng: “Hắn lại chịu đốt ư? Ta còn tưởng hắn thà chết chứ chẳng cúi đầu.”
“Tử Tuân nói, chuyện cũ đã qua, ngày sau hẵng còn kỳ vọng gặp lại.”
Bùi Thứ Chi lạnh lùng: “Cho nên lúc hai người cáo biệt, lại cách một khoảng xa mà hô to rằng ‘Còn nhiều thời gian, sau này còn gặp lại’?” —— Đó cũng là câu duy nhất Đàm Tử Liệt nghe được.
Lư Hội bất đắc dĩ: “Tử Liệt truyền tin nhanh quá đấy.”
Cô khoác tay Bùi Thứ Chi ngồi xuống: “Chuyện phiền lòng đã xong, người cũng thôi đừng cứ sầm mặt nữa. Hôm nay tôi thấy Tử Tuân thần thái sáng sủa, vốn muốn thay huynh ấy tạ ơn người. Phải rồi, làm sao người biết được Thôi phu nhân sẽ mắc mưu?”
Một bên cánh tay bị cô tựa vào, xúc cảm mềm mại, thân thể Bùi Thứ Chi bất giác nóng lên. Chàng quay mặt sang chỗ khác, thong thả giải thích: “Ba năm trước ta từng thấy Thôi thị, chen chúc giữa một đám phụ nhân ồn ào. Loáng thoáng nghe mấy lời, đại ý là vị quả phụ ấy mắt mũi cao ngạo, e là khó có thể tái giá.”
Thôi thị Thanh Hà vốn giống như mấy nhà Ngũ tính Thất vọng khác, mấy chục năm liên tục bị chèn ép suy tàn, chẳng còn được phong quang như xưa. Thôi thị lại hết mực nịnh bợ, như thể có thể nhờ thế mà được chút lợi lộc.
Lư Hội cau mày: “Muốn tái giá thì có gì là không phải người tốt đâu?”
Bùi Thứ Chi lắc đầu: “Cô chưa hiểu rồi. Ở huyện Hán Dương, Thôi thị làm ra vẻ kiên quyết thủ tiết; nhưng ở Thần Đô lại lộ bộ mặt khác —— đủ thấy bà ta vốn muốn tái giá, chỉ là người được chọn phải thật xuất chúng.”
“Người như vậy, cuối năm ngoái đã chịu gả đi, hẳn là đã chọn được một đối tượng vô cùng tốt. Đã thế, sao lại đột ngột đổi ý, còn lặn lội đuổi đến tận biên ải Tây Bắc?”
Lư Hội chợt tỉnh ngộ: “Phải phải, chính bởi Tử Tuân tưởng rằng mình không cần chịu sự quản thúc của mẫu thân nữa, mới dám cầu hôn tôi đó!”
Bùi Thứ Chi nói: “Ta tra lại mới hay, khi Thôi thị nghị hôn thì từ đất Lũng Tây vừa truyền về tin bảng vàng —— Độc Cô Tử Tuân đỗ Giải nguyên. Nếu ta đoán không sai, Tử Tuân vốn luôn bị mẫu thân áp chế, tâm sự dồn nén, chẳng buồn dự khoa cử. Vì Thôi thị đi Thần Đô tái giá, hắn mới thấy nhẹ nhõm, thuận tay đi thi, chẳng ngờ lại đỗ đầu. Việc này Thôi thị vốn không hay biết.”
“Ôi, thuận tay đi thi mà đã đỗ đầu bảng, Tử Tuân thật quá lợi hại.” Lư Hội cũng thấy vinh hãnh thay, lòng càng thêm cảm động.
Ngay sau đó, cô thoáng liếc thấy sắc mặt ai kia không lành, bèn vội nói: “Thôi phu nhân vừa nghe tin con trai đỗ Giải nguyên, liền nghĩ rằng Tử Tuân chẳng còn xa ngày làm đại quan. So với việc tái giá vào nhà người khác, chẳng bằng ở lại nhà họ Độc Cô làm một lão Thái quân hiển hách, thế là lập tức nuốt lời, quay sang tìm Tử Tuân, đúng không —— nhưng thế cũng chẳng thể chứng minh bà ta không phải một người mẹ từ ái chứ?”
Bùi Thứ Chi thoáng hiện một nụ cười giễu cợt: “Nói ta định kiến cũng được, song Thôi thị vừa nhìn đã chẳng phải bậc hiền từ chí thiết. Cái gọi là ‘bởi yêu mà sinh ra sợ hãi’, thật lòng yêu thương thì tất cũng có ba phần dè chừng. Thế nhưng bà ta vì hư vinh của bản thân mà hết lần này đến lần khác lấy cái chết ép con, mặc ý sai khiến, chưa từng sợ sẽ dồn con mình đến chỗ điên loạn hay tử tuyệt. Độc Cô Tử Tuân cả người đầy u uất bệnh trạng, gần như đã bên bờ sụp đổ, kẻ sáng mắt đều trông ra, riêng Thôi thị lại thờ ơ chẳng đoái hoài…”
Chàng khẽ lắc đầu: “Trong mấy ngàn vụ án ta từng xử, loại sự tình này thấy nhiều rồi.”
“Bởi yêu mà sinh ra sợ hãi, lời này thật hay.” Lư Hội ngẫm nghĩ, không nhịn được lại hỏi thêm: “Vậy nếu Thôi phu nhân tình nguyện chịu hình chịu lưu đày chứ không chịu mắc mưu thì sao?”
Bùi Thứ Chi nghiêm mặt: “Trời ban xuống bậc từ mẫu chu toàn đến thế, thì Độc Cô Tử Tuân cả đời cứ việc hưởng phúc là được, người ngoài chớ lắm lời xen vào!”
Lư Hội phì cười: “Thiếu tướng, đến hôm nay tôi mới thật sự tâm phục khẩu phục. Người chính là bậc lợi hại thông tuệ nhất mà tôi từng gặp.”
Bùi Thứ Chi lại chẳng hề động lòng: “Cô mới trải được bao nhiêu việc, đã gặp được mấy kẻ sáng suốt?”
Trong thư trai chợt lặng đi một khắc, Bùi Thứ Chi bỗng cảm thấy cổ tay cùng lòng bàn tay mình bị đè ép: “Cô đang làm gì vậy?”
Lư Hội nâng cánh tay chàng lên đặt giữa hai người, ngón tay ấn lên cổ tay cùng hổ khẩu của chàng:
“Tôi chỉ muốn nói, tay Thiếu tướng dường như có chút sưng, phải chăng là do viết chữ quá nhiều? Nghỉ ngơi đi thôi.”
Bùi Thứ Chi cúi mắt, quả nhiên cổ tay nặng trệ, lòng bàn tay nhức nhối, nơi thiếu nữ ấn xuống lại mang đến cảm giác thư thái dị thường. Chàng trở tay xoa mái tóc mai của cô: “Được, ta không viết nữa. Cô muốn đến thăm dì Tiết? Ta đưa cô đi.”
–
Tới chỗ ở của Tiết phu nhân, lại không ngờ Kính Tuyên cùng lão Tống cũng có mặt, đang cầm chén trà quả ngồi dưới hành lang nói chuyện trời trăng.
“Ngài sao lại tới đây?” Bùi Thứ Chi hơi lấy làm lạ.
Kính Tuyên xoa mặt mình, than thở: “Chẳng phải bị con yêu tinh gây hoạ này liên luỵ đó sao. Vốn dĩ năm bảy ngày đến thăm một lần, dạo gần đây bị thương không tiện ra ngoài gặp người, hôm nay mới miễn cưỡng bước chân ra được.”
Lư Hội thẳng tiến vào trong phòng, ngồi bên cạnh Tiết phu nhân, ân cần cầm lấy cái giỏ mây tử đằng, phụ giúp chẻ tơ, quấn chỉ vào suốt.
Tiết phu nhân mơ mơ hồ hồ chẳng nhận ra người, song có một thiếu nữ hoạt bát ngồi cạnh vừa nói cười vừa phụ hoạ, cũng thấy vui lây.
Bùi Thứ Chi cũng đứng một bên, thỉnh thoảng chỉ điểm đôi câu phối sắc.
Cao nương tử bưng chiếc ghế gấm đặt cách đó ba bước: “Thất Lang ngồi đi.”
Bùi Thứ Chi đáp một tiếng, nhưng không hề dịch bước, vẫn đứng cạnh Lư Hội lặng lẽ dõi theo.
“Đen ô hợp sao lại phối cùng đỏ thạch lựu, chắc chẳng đẹp đâu.”
“Không đâu, lần trước người mặc áo lót trung y màu đỏ thạch lựu, Tống tiên sinh ở ngoài còn kêu vườn đã nở cúc thu, người khoác thêm tấm sa mỏng màu ô hợp rồi đi ra —— tôi thấy đẹp vô cùng.”
“Thật ư? Ta thì chẳng nhớ nữa. Vậy để tiệm may làm cho cô mấy chiếc váy mười hai mảnh phối như thế.”
“Ôi, da ta đâu có trắng được như cậu, mặc lên e chẳng hợp.”
“Không được phép bôi chì phấn bừa bãi, cần gì phải trắng bệch đến thế. Cô chỉ cần bớt phơi nắng là được. Y phục có đẹp hay không phải mặc vào mới rõ, không hợp thì vứt đi, chẳng việc gì phải tiếc.”
— Cao nương tử nhìn thấy cảnh ấy, trong lòng thoáng dấy lên một tia cảm giác khác thường, nhưng chẳng thể nói thành lời.
Chẳng bao lâu, Bùi Thứ Chi dắt Lư Hội ra khỏi phòng, mở miệng liền là giọng điệu lạnh lùng sai khiến ——
“Ta thấy vết thương trên mặt cô cũng đã gần lành, chọn ngày chẳng bằng gặp ngày, chi bằng dẫn Hội Hội đi một chuyến tới chỗ Ngô Đại Xuyên. Ta đã chuẩn bị một cây tỳ bà khảm trai sơn mài thuỷ mặc thượng hạng làm lễ mừng.”
Vừa nghe xong, Tuyên Hoàng tôn vốn gan dạ cũng bất giác rụt cổ một cái.
Bùi Thứ Chi hoàn toàn không để ý, lại ngẩng nhìn sắc trời ngoài hiên: “Hôm nay thu cao khí sảng, tiết trời ôn hoà, bái phỏng xong Ngô Đại Xuyên thì ngài tiện thể đưa Hội Hội dạo một vòng chợ ngựa…”
“Khoan, khoan đã.” Sắc mặt Kính Tuyên bắt đầu trắng bệch.
Bùi Thứ Chi nhíu mày: “Sao? Ngài chẳng phải đã đáp ứng sẽ ra sức trong chuyện của Hội Hội ư?”
Trong bụng Kính Tuyên mắng thầm: ‘Nào chỉ ra sức, đến cái mạng cũng suýt dâng hết cho cô ta rồi!’ Y cố nặn ra nụ cười: “Không phải không đi, chỉ là hoãn lại chút thôi. Lão Tống tính cho ta một quẻ, nói dạo này ta phạm Thái tuế, gần đây không tiện ra ngoài.”
Lão Tống ngẩn người: ???
“Đúng thế phải không, phải không?” Kính Tuyên nắm chặt vai lão Tống lắc một hồi, đến nỗi ông hoa mắt sao bay, hồ đồ gật lia lịa: “À? Ờ ờ…”
Kính Tuyên quay đầu, nở nụ cười nịnh nọt: “Ta thấy hôm nay người cũng rảnh, chi bằng tự mình đưa A Hội đi một chuyến thì hơn.”
Bùi Thứ Chi chau đôi mày rậm, nghĩ ngợi một lát rồi nói: “Thôi được, vậy thì để ta đi. Ta đã bàn với Phàn học sĩ rồi, cuối tháng này sẽ cho Hội Hội nhập học ở tiểu học quán, chớ để lỡ việc chính…”
Lư Hội tiu nghỉu, mặt tròn nhỏ nhắn ỉu xìu: “Tôi thật phải đi học quán sao?”
Bùi Thứ Chi gõ nhẹ vào trán cô: “Không được lười học.”
Kính Tuyên cười ha hả: “Lười học gì chứ? Cô ấy vốn dĩ chưa từng bắt đầu học hành, mỗi ngày chỉ bận rộn lo chuyện đính hôn thôi, lúc thì với đại phu, lúc thì với phu tử…”
Lư Hội bị nói đến mức mặt lúc xanh lúc đỏ, vì là sự thật nên cũng chẳng biết cãi sao.
Bùi Thứ Chi sầm mặt, không vui mà nói: “Hội Hội sinh ra trong cảnh phú quý, cha mẹ thương yêu, vốn có thể hưởng vinh hoa, chẳng phải động tay động chân. Thế mà khó có được tuổi còn nhỏ đã biết lo cho làng xóm, ngày ngày nghĩ cách tìm đại phu cùng phu tử cho con trẻ cùng dân chúng. Chỉ những kẻ máu lạnh vô tình mới có thể không chút lay động, quận vương thấy sao?”
“Cậu!” Mặt mày Lư Hội bừng sáng, thân thiết dịch lại gần.
Khóe môi Bùi Thứ Chi khẽ cong, cười mà nói: “Chúng ta đi thôi.” Chàng vung dài tay áo, bước chân như mây trôi, sải bước ra khỏi gian nhà.
Kính Tuyên ngẩn người: “Tốt đẹp thế mà, cớ sao ngài ấy lại hung hăng với ta?”
Lão Tống ung dung bưng chén trà: “Bởi vì ngài cười nhạo Hội nương.”
“Ngài ấy cũng từng cười nhạo kia mà.”
“Thiếu tướng tự mình có thể cười nhạo, kẻ khác thì không được. Như lão phu đây, chẳng hé miệng cười lấy một tiếng.”
“Sao lại thế được?!” Kính Tuyên sững sờ.
“Điện hạ không muốn đi thì thôi, sao phải lôi cả lão phu vào, gạt cả Thiếu tướng với Hội nương? Lão phu từ bao giờ đã bói toán cho điện hạ?” Là một người tôn thờ huyền học, lão Tống vô cùng bất mãn.
Kính Tuyên thở dài: “Ta thường ngày uống rượu, đôi lúc nói chẳng hợp liền hất bàn nổi nóng, xưa nay vẫn toàn thân mà lui, chỉ có khi gặp phải con yêu tinh họa hại kia, dẫu chịu khổ da thịt cũng đành, nhưng sao cứ nhằm mặt ta mà đánh? Nay tiên sinh chẳng bằng tính cho ta một quẻ, xem ta với cô ta có phải bát tự khắc nhau chăng?”
“Được thôi.” Lão Tống hớn hở đồng ý.
Khó lắm mới có người coi trọng thuật bói của mình, ông hăng hái bày ra mai rùa, tiền quẻ, sách tướng và cờ bát quái, lôi cả Kính Tuyên ra đình giữa hồ, trịnh trọng tính quẻ.
“Thế nào, thế nào? Con yêu tinh họa hại ấy có khắc ta không?” Chưa đầy nửa khắc đồng hồ, Kính Tuyên đã hỏi bảy tám lượt.
Đúng lúc ấy, Đàm Tử Liệt bỗng vội vã chạy tới: “Tiên sinh mau đến, Thiếu tướng bị thích khách đả thương rồi!”
Lão Tống hất quẻ tiền xuống, trong đầu lập tức hiện lên hàng loạt âm mưu quỷ kế, sắc mặt xám xịt mà hỏi: “Chuyện gì vậy?”
Tử Liệt vẻ mặt kỳ quái, vừa kinh ngạc vừa lúng túng: “Vừa nãy công tử cùng Lư tiểu nương tử cưỡi ngựa sóng vai ra ngoài, chưa đi khỏi ngõ hẻm, bỗng có kẻ từ trên tường nhảy xuống, cầm hung đao muốn hành thích.”
Kính Tuyên trong lòng khẽ động, truy hỏi: “Ngươi nói rõ, rốt cuộc kẻ đó định hành thích ai?”
Ánh mắt Tử Liệt lấp lửng: “…Là Lư tiểu nương tử. Công tử đẩy cô ấy ra, tự mình trúng một đao nơi cánh tay, may mà chỉ là vết thương nhẹ.”
Lão Tống cũng ngẩn ngơ: “Ngươi không nhìn nhầm đấy chứ?”
Hai lần trước kia, người ta cũng chỉ muốn đánh cho cô một trận xả giận, nay lại dám lên tới mức ám sát.
“Không nhầm đâu.” Tử Liệt thở dài: “Kẻ đó còn gào to trong miệng, ‘Lư Hội, mau nộp mạng đây’.”
Kính Tuyên chụp lấy vai Tử Liệt, hai mắt sáng rực: “Để ta đoán thử, kẻ đó có phải vị hôn phu đã lui hôn của A Hội không?”
Tử Liệt bất lực gật đầu: “Vốn dĩ chúng tôi định giương nỏ bắn chết, nhưng Lư tiểu nương tử xin tha, chúng ta đành phải thả lưới bắt sống.”
“Ha ha ha ha ha…” Kính Tuyên bỗng ngửa mặt cười vang, dọa cả lão Tống lẫn Tử Liệt giật nảy.
Y cười đến mặt mũi dữ tợn, vừa đấm ngực vừa giậm chân, hàm răng cối lộ rõ từng chiếc: “Ta đã biết không phải mệnh ta xấu! Ta đã biết ông trời không thể để tội lỗi đổ cả lên đầu một mình ta! Cuối cùng cũng đến lượt ngài ấy rồi, ha ha ha ha…!”
“Lão Tống còn ngây ra đó làm gì, mau đi… đi xem thương thế của Nhược Trạm đi! Ta thật sự lo cho ngài ấy quá đi mất, ha ha… khụ khụ!”
