Chương 2: Nam nữ chớ lại gần, giai cấp vốn khác biệt

*

Các công đoạn kỹ thuật trong xưởng ươm tơ chủ yếu chia thành ươm tơ, bóc vỏ kén, thắt nút nước, phân kén, chọn hoa thắt chỉ. A Ngọc là thợ lành nghề, hôm nay có công nhân nữ mới đến, Anh Tư bảo cô hướng dẫn.

Cô tan làm muộn, khi đi qua phòng kế toán, bên trong hắt ra ánh sáng, có tiếng người truyền ra: “Giấy tờ công khai đưa ông chủ xem là tờ này, chín tiền ba, hợp đồng ngầm thì tám tiền sáu, ông với tôi chia nhau đút túi… Hả, ông sợ cái gì? Thằng nhóc Nam Dương làm sao biết đường mà coi?”

A Ngọc chỉ thấy sống lưng nổi hết da gà: Họ định hại ân nhân kìa. Về đến nhà, Minh Châu đã nấu xong cơm chờ cô. Buổi trưa ở xưởng chỉ có thịt băm hấp rau, buổi tối cuối cùng cũng được ăn cá. Trên bàn ăn, A Ngọc vừa gỡ xương cá vừa kể lại chuyện này.

Minh Châu không dừng đũa, cũng chẳng ngẩng đầu lên: “Đừng xen vào.”

“Tại sao?”

“Chúng ta là ai chứ? Công nhân ăn lương theo sản phẩm, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Chuyện của ông chủ liên quan gì đến chúng ta? Người ta hỏi làm sao cô biết, cô trả lời thế nào? Nói cô rình ở chân tường, nghe lén đàn ông nói chuyện à? Mấy cái miệng bà nhiều chuyện xung quanh, cô còn chưa nếm đủ sao?”

Minh Châu đầu óc thông minh, cái miệng lại sắc sảo, A Ngọc tự biết mình ngốc nghếch nên không lên tiếng nữa.

Minh Châu liếc cô một cái, giọng dịu xuống: “A Ngọc, tôi biết cô hiểu chuyện. Nhưng việc này liên quan đến Anh Tư và Chú Phát, hai người họ chẳng phải dạng hiền lành gì đâu, sẵn sàng quay lại cắn cô một cú đấy. Thành công thì cậu ấm Nam Dương kia cũng chẳng ghi công cô, thất bại thì cô mất toi chén cơm.”

A Ngọc tự thấy mình không thông minh bằng Minh Châu. Cô tuy lớn hơn Minh Châu sáu tuổi, đã là gái già, nhưng Minh Châu là tiểu thư xuất thân nhà giàu, từng đi học, biết chữ, biết tính toán, nên việc gì cô cũng phải hỏi ý Minh Châu. Nhưng lần này, cô lại có suy nghĩ khác, cố chấp một cách hiếm thấy: “Nhưng mà, xưởng là của Ông chủ Giang, công việc này là của chúng mình. Chú Phát với Anh Tư ăn chặn kiểu đó, xưởng mà sụp, Ông chủ Giang quay về Việt Nam thì chúng mình đi đâu?”

“Ông chủ Hoàng đi thì có ông chủ Lục, ông chủ Lục đi thì lại có ông chủ Hồng. Sao phải sợ Ông chủ Giang đi đâu.” Minh Châu lùa một miếng cơm, chậm rãi nhai, ngước mắt thấy A Ngọc vẫn trầm ngâm, cô đặt đũa xuống, nhìn chằm chằm cô ấy.

“A Ngọc, nếu chị thật sự muốn nói cho anh ta biết, thì tuyệt đối đừng để ai biết chị là người mách lẻo. Kể cả anh ta cũng không được.”

A Ngọc gật đầu, tối hôm đó trằn trọc trở mình mãi, nghe tiếng ếch kêu ngoài ao, cuối cùng cũng nghĩ ra một cách. Cô muốn viết thư tay cho Ông chủ Giang. Khó khăn duy nhất là cô không biết chữ.

A Ngọc thắp đèn, nương theo ánh đèn dầu, vẽ trên giấy một cái cân, một bên cao một bên thấp. Bên cao ghi chín, ba, bên thấp ghi tám, sáu. Vẫn thấy chưa đủ, cô lại vẽ thêm một gã người nhỏ, mặt tròn, hai chòm râu, cầm cái bàn tính. Nhìn hệt như hình dáng Chú Phát. Cô dùng giấy đỏ gói cẩn thận lại.

Mỗi ngày khi tan làm, thợ ươm tơ sẽ tháo sản phẩm ươm được trong ngày ra, vắt lên giàn ống hơi nước, che bạt dầy cẩn thận rồi mới về nhà. Đến khoảng hai giờ sáng, thợ phụ trong xưởng sẽ thu hết tơ lại, đưa vào phòng sấy tơ sấy lại, sau đó chọn hoa thắt chỉ, cuối cùng xoắn tơ đóng gói. Giang Kỳ Nguyên yêu cầu tơ xoắn xong phải chuyển đến bàn làm việc của anh để kiểm tra. A Ngọc bèn nhân cơ hội này, nhờ cô bé A Thái chuyên đi đưa mẫu gửi bức vẽ đến bàn làm việc của Ông chủ Giang.

“Cái gì đây?”

“Chị xin trên miếu về đấy, mong cho xưởng làm ăn phát tài, chị em công nhân mình cũng kiếm thêm được chút tiền.” A Ngọc dặn dò A Thái phải cẩn thận đừng để ai nhìn thấy.

A Ngọc lặng lẽ chờ tin tức, chẳng ngờ hai ngày sau lại đợi về một cô bé A Thái mếu máo, mặt như đưa đám. A Ngọc giật mình, hỏi cô bé bị làm sao.

“Em sắp chết rồi.”

“Phi phi phi, nhổ nước bọt rồi nói lại!”

A Thái tựa vào bờ tường bảo cô bị mắc bệnh lạ, chảy rất nhiều máu. A Ngọc nghe qua là hiểu ngay có chuyện gì. A Thái không có mẹ, do ông bà ngoại nuôi lớn, người già lại chẳng dạy mấy chuyện này. A Ngọc dẫn cô bé đi xin đốc công cho nghỉ, đưa đi rửa sạch sẽ, rồi chỉ cho cô bé kiến thức cơ bản. A Thái thay băng vệ sinh xong, ngượng ngùng ôm lấy A Ngọc: “Chị A Ngọc tốt quá. Giá mà chị là mẹ em thì tốt biết mấy.”

A Ngọc đã hai mươi tư tuổi, trong mắt người ngoài đã sắp thành gái già. A Quý từ lâu đã muốn cưới cô, nhưng chú hai của A Ngọc lại đòi hai con bò mới chịu gả. A Quý ngày đêm kéo xe kiếm tiền, dạo trước còn lên tỉnh thành làm thuê, cuối cùng cũng dành dụm đủ tiền, không ngờ lại trượt chân té xuống sông. Người nhà A Quý hận A Ngọc đến tận xương tủy, bảo cô mặt hoa da phấn, đúng là số hồ ly tinh, khắc chết A Quý. Người ngoài lại bảo A Ngọc số khổ, nếu số tốt thì đã làm mẹ người ta từ lâu rồi. A Ngọc nghe nhiều cũng tự tin vào số mệnh của mình, cô xoa bím tóc của cô bé, nhỏ nhẹ bảo: “Giá mà chị là mẹ em thì tốt biết mấy.”

Thân gái có ‘dâu’ thì không được chạm vào đồ đạc trong “miếu”, dù cái “miếu” này chỉ là ngôi miếu trong lời A Ngọc nói. A Ngọc đành phải làm thay phần việc của A Thái, canh chuẩn thời gian, đợi Anh Tư, Chú Phát và cậu ấm Nam Dương đi vắng mới mang đồ vào.

Trên bàn đặt vài cuốn sổ, nghĩ bụng chắc là đồ không quan trọng, sổ sách kế toán đều khóa trong chiếc tủ vẽ hoa văn tinh xảo. Bên cạnh mấy cuốn sổ có đặt một khung ảnh bằng bạc. Trong bức ảnh đen trắng, một người phụ nữ mặc váy đầm phương Tây ngồi trước phông nền hiệu ảnh kiểu Tây, phía sau là cung điện Tây phương được vẽ lên. Cô từng thấy những phong cảnh phương Tây này trên tranh thêu Quảng Châu hay bình hoa ở nhà Minh Châu. Người phụ nữ mang gương mặt Trung Hoa, cổ áo viền ren, tóc uốn từng lọn tròn, tay cầm một chiếc quạt nhỏ nhắn.

A Ngọc nhớ từng nghe người ta bảo, gái làng chơi cao cấp hay gái gọi ở Quảng Châu, Hồng Kông mới ăn mặc váy đầm phương Tây như vậy. Chẳng ngờ Ông chủ Giang lại hiên ngang đặt ảnh người yêu ở ngay đây. Cô đặt đồ xuống, không khỏi nhìn đến đỏ mặt tía tai, nhưng lại không cưỡng được mà ngắm đi ngắm lại.

Bất chợt, Giang Kỳ Nguyên đằng sau lên tiếng hỏi: “Muộn thế này rồi sao?”

A Ngọc giật thót mình, nơm nớp sợ hãi: “Tôi… đến đưa mẫu tơ.” Tâm lý vô cùng có lỗi, không dám ngẩng đầu nhìn anh, trong tầm mắt chỉ thấy một đôi giày da.

Chủ nhân đôi giày da nói: “Vất vả cho cô rồi.” Rồi anh lại hỏi, “Cô hứng thú với tấm ảnh này à?” Anh cầm khung ảnh lên, “Đây là mẹ tôi.”

Đáng sợ quá, ông chủ vậy mà lại đi tán chuyện với cô, chẳng màng đến nam nữ phải giữ khoảng cách, giai cấp vốn khác biệt. Ông chủ Giang hình như vẫn muốn chuyện trò thêm, nhưng A Ngọc đã chạy biến như ma đuổi. Cô lướt qua bên người anh như một cơn gió, anh ngửi thấy mùi bồ kết nơi ngọn tóc và hương xà phòng hoa quế thoang thoảng trên người cô.

Giang Kỳ Nguyên đã quen với vẻ hoảng hốt của phụ nữ địa phương khi đối mặt với đàn ông nên cũng không thấy làm lạ. Anh đi đến trước bàn, thấy các mẫu tơ xếp ngay ngắn, bên dưới đè một tờ giấy đỏ. Tưởng đâu là hủ tục hay phong tục gì đó, anh nhẹ nhàng rút ra, rơi ra một tờ giấy vẽ. Bên ngoài trời đã tối sầm, anh thắp đèn dầu, ghé vào ánh sáng nhìn một cái là hiểu ngay vấn đề.

Nét mặt anh không chút cảm xúc, đưa tờ giấy vào ngọn lửa, nhìn nó cháy rụi thành tro tàn.

–

A Ngọc về đến nhà, lòng vẫn chưa hết bồn chồn. Minh Châu nhìn qua là thấy A Ngọc có điểm bất thường, đoán ra đến tám chín phần. Cô luôn cảm thấy A Ngọc ngô nghê, sợ chị ấy chịu thiệt, nên vờ như vô tình nhắc tới: “A Thái lần trước đắc tội với Anh Tư, hôm nay bị anh ta mượn cớ phạt tiền rồi đấy. Cho nên loại tiểu nhân này, chị nhớ phải cẩn thận.”

“Tôi biết rồi.” A Ngọc và một miếng cơm lớn, gắp thêm một cọng rau. Minh Châu thích nhất là nhìn A Ngọc ăn cơm, trông rất bắt mắt. Ngay cả bữa trưa ở phân xưởng chỉ có dưa muối chưng thịt băm ăn với cơm, cô cũng ăn ngon lành. Sau này Ông chủ Giang đến, còn cho mọi người thêm trứng gà, thỉnh thoảng còn có chè đậu xanh. Minh Châu lại nghĩ, A Ngọc nói có khi cũng đúng, ông chủ Hoàng, ông chủ Lục, ông chủ Hồng gì đó, đúng là chẳng bằng Ông chủ Giang hiện tại.

A Ngọc cũng đang nghĩ đến Ông chủ Giang. Cô dẫm chân lên bàn đạp của máy, nhìn Anh Tư đi qua đi lại, trong lòng thầm nghĩ, lẽ nào ông chủ không chú ý đến bức vẽ kia sao? Hay là anh không nhìn hiểu? Đang thắc mắc thì có người gọi cô đến chỗ Ông chủ Giang. A Ngọc đoán đúng chuyện gì, tim đập liên hồi như đánh trống.

Giang Kỳ Nguyên ở bên trong xem sổ sách, nghe tiếng cô vào liền mỉm cười đứng dậy: “Cô đến rồi à?” Anh tiến lại gần hơn, A Ngọc theo bản năng lùi lại né tránh, nhưng Giang Kỳ Nguyên chỉ thuận tay khép bớt cánh cửa lại. Căn phòng tối đi vài phần, lòng cô cũng run lên vài phần.

“Bức vẽ lần trước là cô vẽ, hay có người nhờ cô mang vào?”

“Là tôi…”

“Tốt. Chuyện này coi như là bí mật giữa hai chúng ta.”

A Ngọc giương đôi mắt tròn xoe nhìn Ông chủ Giang có phong cách làm việc khác biệt này: “Cứ như vậy mãi, xưởng sẽ bị thâm hụt mất…”

“Ngành này nước sâu lắm, kế toán không xơ múi gì là chuyện không thể. Hơn nữa, tôi mới chân ướt chân ráo tới đây, sa thải họ rồi e là đến cả kén cũng chẳng thu mua nổi.”

A Ngọc nghe xong liền bảo “Chuyện này dễ thôi.” Cô nói cho anh biết, ba trăm nữ công nhân trong xưởng hầu hết đều là người các làng quanh đây, nhà nhà đều nuôi tằm. Nếu không nhờ phát minh ra máy ươm tơ, ở nhà mọi người vẫn dùng xe gỗ đơn sơ để ươm tơ đấy.

Mấy chuyện cô nói, Giang Kỳ Nguyên trước khi mua xưởng đã dò hỏi kỹ càng. Nhưng anh vừa ngẩng đầu lên, thấy bên ngoài chập chờn bóng người, ánh mắt ai nấy đều liếc về phía này, rõ ràng là đang hóng hớt chuyện nam nữ sao lại ở chung một phòng. Giang Kỳ Nguyên thừa tưởng tượng ra, ngày mai chuyện nhỏ này sẽ đồn ầm lên khắp xưởng.

Trong lòng anh nảy ra một ý tưởng, mỉm cười nói với A Ngọc: “Cảm ơn cô đã nói cho tôi biết. Nếu không tôi cũng chẳng rõ mấy chuyện này, sau này tôi sẽ thường xuyên thỉnh giáo cô.”

Chưa từng có ai lịch sự nhã nhặn với cô như Ông chủ Giang, A Ngọc sau đó chợt đâm ra lắp bắp, chính cô cũng chẳng biết mình đã nói những gì, lại một lần nữa chạy biến mất dạng.

Hôm sau, Minh Châu thấy trên tường xưởng dán một tờ thông báo, hồ dán còn chưa khô hẳn: Xưởng trực tiếp thu mua, định giá công bằng, trả tiền mặt sòng phẳng. Mấy nữ công nhân khác vây quanh tờ thông báo, không biết chữ nên chẳng hiểu gì, dồn dập hỏi Minh Châu có phải xảy ra chuyện lớn rồi không.

Minh Châu chậm rãi gật đầu: Là chuyện lớn đấy.

Bỏ qua trung gian mua kén, xưởng đứng ra thu mua trực tiếp từ các hộ nuôi tằm, điều này chưa từng có tiền lệ, dĩ nhiên là chuyện lớn. Cô đọc tờ thông báo cho mọi người nghe, đám nữ công nhân trố mắt ồ lên một tiếng. Minh Châu lại không nói gì, kế này, ngoài người rành rọt nhất mọi công đoạn trong xưởng, lại còn hăng hái quản “chuyện bao đồng” của Ông chủ Giang nhất ra thì còn ai vào đây nữa?

Chỉ e đằng sau lợi ích là quan hệ chằng chịt. Ông chủ Giang biết cách tự bảo vệ mình, đến lúc đó người gánh chịu tổn hại chỉ có thể là A Ngọc bị đẩy ra làm bia đỡ đạn.

Đối với Chú Phát và Anh Tư mà nói, đây cũng là chuyện tày trời, hai người hoảng đến xanh mặt, trong lòng thầm rủa không biết kẻ nào xúi giục cậu ấm này, nhưng khi nói chuyện vẫn phải giữ vẻ mặt cười xòa: “Ông chủ Giang à, có nên suy nghĩ cho kỹ lại không? Làm thế này chỉ có đước đắc tội với bên buôn kén thôi. Họ mà không bán kén cho cậu thì tự mình làm sao gánh nổi?”

Giang Kỳ Nguyên mỉm cười: “Tôi nghe nói không ít công nhân nữ ở đây gia đình đều nuôi tằm. Sao lại không làm nổi?”

“Dân nuôi tằm tự mang kén đến, kén ướt kén tạp lẫn lộn tốt xấu. Thu mua không khéo thì lỗ vốn là Vạn Sinh Nguyên đấy.”

Giang Kỳ Nguyên cười tít mắt, chắp tay vái hai vị: “Thế nên mới phải làm phiền hai vị tiền bối trông nom sát sao giúp tôi một chút.”

Hai người nhìn nhau một cái, trong lòng nghĩ: Thằng nhóc Nam Dương này sao mà chậm tiêu thế nhỉ? Nói thẳng thế rồi mà vẫn không hiểu.

Nhưng không hiểu cũng có cái hay của không hiểu, có chỗ trống cho họ lách. Thu mua kén cần người biết nhìn kén, chẳng lẽ không cậy vào họ mà lại đi trông chờ mấy đứa con gái? Nghĩ vậy, lòng hai người lại dịu bớt đôi phần.

Ai ngờ đâu, Giang Kỳ Nguyên lại thực sự dựa vào phụ nữ. Anh lại đi nhờ A Ngọc giúp việc thu mua kén. Chú Phát với Anh Tư nghĩ thầm: Chà chà, Lý Tú Ngọc hóa ra giả nai đạo mạo, mới đó đã đong đưa với thằng nhóc Nam Dương rồi à? Lại còn dám đạp đổ chén cơm của họ?

Kén của Vạn Sinh Nguyên từ các kênh rạch chở vào, tơ làm ra đóng thành kiện chở đi Quảng Châu, đi Ma Cao, xuất ra nước ngoài. Bờ ao trước cửa xưởng có một con đường, một đầu dẫn ra cổng làng, một đầu nối thẳng tới chợ phố.

Sáng sớm ngày thu mua kén, bà ngoại A Thái đã gánh kén đến. Phía sau lại rải rác thêm bảy tám hộ nữa, càng lúc càng đông, đòn gánh xếp thành hàng dài trước cổng xưởng. Người trông cân là gã đốc công nam, nhưng người kiểm tra kén lại là A Ngọc. A Thái nói lớn: “Chị A Ngọc, chị nể mặt nhà em chút nha.” A Ngọc chỉ cười chứ không đáp lời, chỉ cúi đầu tỉ mỉ phân loại, chọn lựa.

Cô vốn dĩ là một kẻ chẳng ai coi trọng, vậy mà Ông chủ Giang lại trịnh trọng nhờ vả cô giúp đỡ, cô thấy mình được tôn trọng.

Minh Châu đứng xa xa nhìn, trong lòng thầm nghĩ, A Ngọc đúng là con ngốc, bị người ta lấy ra làm bia đỡ đạn rồi. Làm vậy chẳng phải đắc tội với Chú Phát và Anh Tư sao? Cô sa sầm mặt xuống, nhưng chợt liếc thấy phía bên kia kênh rạch, có một người đàn ông trẻ tuổi mặc áo dài lụa Hương Vân đang đứng đó.

Dưới ánh nắng nhìn sang, tà áo màu đen tuyền ánh lên chút sắc nâu mỏng, chân mày nhạt, mặt trắng trẻo, nét mặt khá giống nữ giới, đúng là một công tử bước ra từ trong tranh. Người đàn ông rõ ràng đang nhìn về phía cô, bước lên một bước, chân phải vậy mà hơi khập khiễng, rồi gật đầu chào cô một cái.